"Cuộc cách mạng" một triệu ha lúa chất lượng cao

Đề án "Phát triển bền vững một triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long" đang được lấy ý kiến chuyên gia, địa phương vùng châu thổ Cửu Long, dự kiến sẽ trình Chính phủ thông qua vào tháng 4/2023. Đề án được kỳ vọng tạo ra vùng nguyên liệu lúa an toàn, chất lượng, hướng đến giảm tác động môi trường, giảm nhẹ biến đổi khí hậu.
Đề án đặt mục tiêu nâng cao giá trị, nâng cao thu nhập cho người nông dân. Ảnh: Đình Tuyển
Đề án đặt mục tiêu nâng cao giá trị, nâng cao thu nhập cho người nông dân. Ảnh: Đình Tuyển

Cơ hội cho nông nghiệp sạch

Ông Trần Công Thắng, Viện trưởng Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho biết, đoàn công tác của Bộ và các chuyên gia Ngân hàng Thế giới (WB) đã khảo sát tình hình sản xuất lúa tại một số tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long để phục vụ xây dựng đề án.

Đến nay đã có 12/13 tỉnh, thành phố trong vùng đăng ký tham gia, với tổng diện tích dự kiến đến năm 2025 là 719.000ha và đến năm 2030 đạt 1.015.000ha. Bến Tre là tỉnh duy nhất không tham gia do có ít diện tích đất lúa. Theo ông Thắng, phần lớn diện tích đăng ký tham gia đề án đến năm 2025 là những vùng lúa có điều kiện thích hợp sản xuất lúa, được đầu tư cơ sở hạ tầng, tổ chức sản xuất tốt hơn những vùng còn lại. Đến năm 2030, tổng diện tích của các tỉnh, thành phố vùng đồng bằng tham gia đề án là hơn một triệu ha.

Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Kiên Giang Lê Hữu Toàn cho biết, tỉnh đáp ứng được các điều kiện khi tham gia đề án, thậm chí tỉnh ra điều kiện còn "cao" hơn như sản xuất phải có hợp tác xã, hạ tầng bảo đảm, phải có doanh nghiệp thu mua… "Kiên Giang mạnh dạn đăng ký đưa 60.000ha vào sản xuất ngay từ năm đầu tiên thực hiện (năm 2024). Đây là dự án phát triển bền vững vùng, cũng phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của Chính phủ và quy hoạch vùng đồng bằng sông Cửu Long…" - ông Toàn nói. Tuy nhiên, để thực hiện đề án, địa phương cần xác định rõ sáu thách thức lớn là: Nông dân phải thay đổi tư duy từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp; sản xuất phải đạt chuẩn, phải liên kết; phải tạo dựng thương hiệu gạo; khâu bảo quản, chế biến còn yếu; hạ tầng phải bảo đảm; việc chỉ đạo, tổ chức sản xuất phải hiệu quả.

Về phía Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Thứ trưởng Trần Thanh Nam cho biết, đối với ngành nông nghiệp, đây là dự án khởi đầu cho chương trình giảm phát thải, bắt đầu từ cây lúa. Đây cũng là bước đột phá thay đổi tư duy sản xuất, tập quán sản xuất, tạo ra giá trị gia tăng nhiều hơn, đáp ứng xu thế tăng trưởng xanh. "Chất lượng cao" trong đề án này phải được hiểu rộng hơn. Không phải là cung ứng một lượng gạo chất lượng an toàn, giá trị cao mà còn bảo đảm sức khỏe người sản xuất và người tiêu dùng... "Vùng lúa chất lượng cao phải bảo đảm yếu tố đầu tiên là giảm phát thải khí nhà kính, tạo ra đa giá trị gồm bảo đảm an ninh lương thực, tăng chất lượng với lúa dinh dưỡng, hữu cơ tốt cho sức khỏe; tận dụng làm nguyên liệu cho năng lượng tái tạo, nông nghiệp tuần hoàn… Đặc biệt, nâng cao giá trị, thu nhập của nông dân", ông Nam nói.

Liên kết hợp tác xã và doanh nghiệp

Nhiều ý kiến chuyên gia nêu quan điểm, để thực hiện đề án thành công, những vùng lúa chất lượng cao sẽ phải áp dụng các quy trình canh tác bền vững hơn, sử dụng nguyên liệu đầu vào theo hướng giảm phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật… Qua đó góp phần vào thực hiện các cam kết giảm phát thải khí nhà kính của Chính phủ tại Hội nghị cấp cao về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc (COP26) năm 2021.

Ông Cao Thăng Bình, chuyên gia cao cấp của Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng, thực tế hiện nay, nguồn phát thải khí nhà kính lớn nhất trong ngành nông nghiệp là từ trồng lúa, với lượng phát thải khoảng 49,6 triệu tấn CO2 mỗi năm. Tuy nhiên, qua nghiên cứu về sử dụng đất nông nghiệp và sinh kế bền vững vùng đồng bằng này cho thấy, có thể giảm 12-23 triệu tấn CO2 bằng việc thúc đẩy canh tác thích ứng biến đổi khí hậu và thực hành nông nghiệp tốt (GAP), thay thế đất trồng lúa kém hiệu quả bằng hệ thống canh tác thông minh với khí hậu, giảm thất thoát sau thu hoạch và quản lý rơm rạ tốt hơn.

Mặt khác, hiện mới có khoảng 10% diện tích lúa trên cả nước là có liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp. Để tạo nên sự khác biệt một triệu ha lúa chất lượng cao, nhiều chuyên gia nói rằng phải nâng con số kia lên 100%. TS Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Chính sách và Chiến lược Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề xuất, cần xây dựng các vùng sản xuất lúa chuyên canh quy mô lớn. Trong đó, Nhà nước phải đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, hệ thống thủy lợi, tưới tiêu chủ động; thu hút doanh nghiệp tham gia liên kết bên trong và các cụm chế biến ở bên ngoài, kết nối với trục logistics. Khi xây dựng được vùng chuyên canh lớn, có sự tham gia liên kết, bảo đảm đầu vào, đầu ra của doanh nghiệp, sẽ thuận tiện áp dụng cơ giới hóa đồng bộ, tiến tới tự động hóa…

Điều quan trọng là phải có cơ chế, chính sách nhằm thu hút doanh nghiệp tham gia tích cực trong việc triển khai đề án, bởi chính doanh nghiệp là những người giúp tìm kiếm thị trường, đa dạng hóa sản phẩm, từ đó nâng cao giá trị hạt gạo Việt Nam. PGS, TS Bùi Bá Bổng, chuyên gia nông nghiệp đồng ý kiến, để thực hiện thành công đề án, mấu chốt là tổ chức lại sản xuất, liên kết với doanh nghiệp và các hợp tác xã. "Chúng ta có rất nhiều hợp tác xã và một trong những nhiệm vụ của hợp tác xã là liên kết nông dân với nhau, vì vậy đầu tiên cần phải củng cố được mạng lưới sản xuất này để xây dựng vùng nguyên liệu. Có những vùng nguyên liệu tốt sẽ thuận lợi hơn trong việc huy động doanh nghiệp tham gia", PGS, TS Bùi Bá Bổng nói.

Phía địa phương triển khai, đại diện Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn An Giang mong muốn, đề án cần cụ thể hóa, chi tiết hơn nữa các mục tiêu, nội dung hoạt động; phân bổ diện tích rõ ràng cho từng tỉnh để mỗi địa phương có thể lượng hóa, hoạch định thành các hoạt động cụ thể, giúp đề án dễ thực hiện và thành công.

Để thực hiện được mục tiêu phát triển bền vững một triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao gắn với tăng trưởng xanh còn đòi hỏi sự vào cuộc của các cấp, các ngành, nhất là vai trò của chính quyền địa phương trong việc định hướng quy hoạch xây dựng vùng nguyên liệu chất lượng cao, hỗ trợ về cơ chế, chính sách để khuyến khích nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp tham gia vào vùng nguyên liệu.

Hiện tại đồng bằng sông Cửu Long có 1,6 triệu ha lúa chuyên canh. Nếu xây dựng được một triệu ha lúa chuyên canh chất lượng cao có thể làm ra hơn 12 triệu tấn lúa/năm, tương đương khoảng bảy triệu tấn gạo.

Có thể bạn quan tâm

Mới đây, nhiều ngân hàng đã nhanh chóng công bố các gói tín dụng ưu đãi, giảm lãi suất cho vay tới 2%, đồng thời chấp nhận giảm thu nhập để hỗ trợ doanh nghiệp. Ảnh: Hằng Đoàn

Giảm áp lực lãi suất, khai mở dòng vốn tín dụng

Mới đây, hàng loạt giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn trong lĩnh vực tín dụng, tiền tệ đã được Ngân hàng Nhà nước nhanh chóng triển khai. Đồng thời, tiến trình tăng tốc đầu tư công vào các công trình trọng điểm cũng đang được đẩy mạnh, nhằm hướng đến mục tiêu khơi thông dòng vốn ra xã hội.

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà phát biểu trong phiên thảo luận tại tổ về tình hình kinh tế-xã hội tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI. Ảnh: Phạm Thắng

Tăng trưởng kinh tế cần thật sự lan tỏa đến đời sống Nhân dân

Tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, không chỉ là các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, mà những vấn đề rất cụ thể như: bàn cách tháo gỡ điểm nghẽn từ cơ sở, khơi thông nguồn lực hay xác định rõ trách nhiệm thực thi cũng đã được đặt lên bàn nghị sự. Bởi theo các đại biểu, đích đến của mọi quyết sách đều phải và cần được đo bằng chuyển biến thực chất trong sản xuất, kinh doanh và đời sống Nhân dân.

Khi Nhà nước mở rộng không gian phát triển bằng các thể chế vượt trội, thì chính lực lượng doanh nghiệp, doanh nhân sẽ là người trực tiếp chuyển hóa các cơ hội đó thành giá trị mới cho xã hội. Ảnh: Hương Nguyên

Giao điểm của kiến tạo phát triển thực chất

Không gian chính sách dành cho sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp đã rộng mở hơn trước. Song, điều doanh nghiệp cần còn là việc những chính sách đó thật sự ổn định, quy định thông suốt, thời hạn giải quyết thủ tục minh bạch và cơ quan chịu trách nhiệm rõ ràng, để họ có thể yên tâm đầu tư, phát triển dài hạn trong một môi trường kinh doanh có thể dự báo được.

TS Nguyễn Quang Huy, Giám đốc điều hành Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường đại học Nguyễn Trãi

Khơi thông dòng vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Khi ba nền tảng: năng lực quản trị, cơ hội thị trường và giải pháp tài chính phù hợp được củng cố, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) sẽ có điều kiện tiếp cận, hấp thụ và sử dụng vốn hiệu quả, từng bước mở rộng quy mô, đóng góp vào sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đó là nhận định của TS Nguyễn Quang Huy, Giám đốc điều hành Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường đại học Nguyễn Trãi, khi trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân cuối tuần.

PGS, TS Hồ Sỹ Hùng, Chủ tịch VCCI phát biểu khai mạc phiên toàn thể Diễn đàn Doanh nghiệp Phát triển bền vững Việt Nam 2026 (VCSF 2026), diễn ra tại Hà Nội ngày 5/10. Ảnh: Nguyễn Hùng

Định hình hành trình tăng trưởng bứt phá và phát triển bền vững

Năm 2026 mở ra yêu cầu mới đối với cộng đồng doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung: Tăng trưởng không chỉ được đo bằng quy mô, mà ngày càng gắn với năng suất, chất lượng, khả năng đổi mới, sức chống chịu và năng lực tạo ra giá trị dài hạn. Điều đáng nói, đích đến của tăng trưởng cao, tăng trưởng hai con số như mục tiêu đã đề ra phải được đặt trên một nền tảng bền vững và doanh nghiệp chính là chủ thể trung tâm của mô hình này.

Trên các màn hình lớn tại Sở Giao dịch chứng khoán New York (NYSE), Mỹ, từ phiên giao dịch ngày 21/9, hình ảnh cờ đỏ sao vàng cùng lời chúc mừng Việt Nam chuyển từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi đã xuất hiện.

Dấu mốc quan trọng, củng cố niềm tin thị trường

Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức tham gia rổ chỉ số cổ phiếu toàn cầu FTSE Russell Global Equity Index Series (FTSE GEIS) vào ngày 21/9 vừa qua, mở ra cơ hội lớn thu hút dòng vốn quốc tế. Song, khả năng tận dụng cơ hội này không chỉ phụ thuộc vào những cải cách từ phía cơ quan quản lý, mà còn nằm ở chính nội lực của các doanh nghiệp niêm yết.

Dư địa thương mại dịch vụ số đang có tốc độ tăng trưởng vượt trội so với thương mại hàng hóa truyền thống. Ảnh minh hoạ

Nắm bắt lợi thế cạnh tranh cốt lõi

Theo báo cáo “Tương lai Thương mại 2026” vừa được Standard Chartered công bố, đến năm 2031, quá trình đẩy nhanh số hóa có thể đóng góp thêm 2,8 nghìn tỷ USD vào thương mại quốc tế mỗi năm - tương đương khoảng 7,6 tỷ USD mỗi ngày.

Mặc dù đầu tư FDI vào Việt Nam ngày càng gia tăng, nhưng doanh nghiệp trong nước vẫn đang đứng ngoài chuỗi sản xuất của khu vực FDI. Ảnh: Danh Lam

Chính sách thuế cần tạo động lực tăng trưởng mới

Khi dư địa cạnh tranh bằng nhân công giá rẻ hay ưu đãi thuế suất ngày càng thu hẹp, chính sách thuế cần chuyển mạnh sang khuyến khích tăng trưởng nhờ đổi mới công nghệ, nghiên cứu và phát triển, chuyển đổi số, phát triển xanh và nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước.

Ngành điện cần có một cơ chế đủ minh bạch để nhà đầu tư tư nhân yên tâm bỏ vốn, cùng chung tay, góp sức phát triển hệ thống điện, góp phần hiện thực hóa các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực năng lượng. Ảnh: Đạt Thành

Hóa giải thách thức để điện tiến trước một bước

Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực, được xem xét tại Phiên họp thứ sáu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (dự kiến từ ngày 21-25/9), nhằm thúc đẩy phát triển ngành năng lượng thông qua việc tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế. Đây cũng là điểm mấu chốt để ngành điện chuyển từ tư duy độc quyền tự nhiên sang phát triển thị trường điện cạnh tranh, minh bạch và hiệu quả.

Năm 2026, Bộ Tài chính sẽ kịp thời điều chỉnh kế hoạch vốn từ các dự án chậm triển khai, không có khả năng giải ngân sang các dự án có nhu cầu và khả năng giải ngân tốt hơn.

Không để tiếp diễn tình trạng “vốn chờ dự án”

Nguồn lực đầu tư công trong năm 2026 rất lớn, khi mục tiêu giải ngân 100% vốn kế hoạch đang được Chính phủ tiếp tục thúc đẩy nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Trong bối cảnh đó, mỗi đồng vốn đầu tư công chậm ra đến công trường không chỉ làm chậm một dự án, mà còn làm giảm hiệu ứng lan tỏa tới tăng trưởng.

Các đại biểu Quốc hội tham dự phiên họp toàn thể trên hội trường ngày 11/8, góp ý cho dự thảo Luật Phát triển đô thị. Ảnh: Quốc Khánh

Tạo khung pháp lý thống nhất, dài hạn, có tầm nhìn

Đánh giá cao sự cần thiết ban hành Luật Phát triển đô thị nhằm luật hóa các cơ chế, các đại biểu Quốc hội thống nhất cho rằng, đây là yêu cầu khách quan, cấp thiết, nhằm hình thành một khung pháp lý thống nhất, dài hạn, có tầm nhìn. Đồng thời tạo cơ sở để phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, rõ trách nhiệm, phát huy tính chủ động của chính quyền đô thị.

Dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) được kỳ vọng sẽ xây dựng cơ chế quản lý tài chính công đồng bộ, hiệu quả và phục vụ mục tiêu tăng trưởng.

Bước chuyển trong quản trị tài chính công quốc gia

Với tinh thần xuyên suốt là gắn kết chặt chẽ kế hoạch đầu tư công với cân đối nguồn lực tài chính quốc gia, dự kiến trình Quốc hội xem xét cho ý kiến ngay tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất Quốc hội khóa XVi (dự kiến diễn ra từ ngày 3 đến 24/8), dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) được kỳ vọng tạo bước chuyển biến căn bản trong quản trị tài chính công vì ổn định kinh tế vĩ mô, vì lợi ích quốc gia, dân tộc.

Giai đoạn 2020-2025, sản lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng của VIMC đạt bình quân hơn 130 triệu tấn/năm, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế biển của đất nước.

Kiến tạo tầm nhìn toàn diện

Mang trên mình sứ mệnh dẫn dắt các thành phần kinh tế, doanh nghiệp nhà nước luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, dành mọi điều kiện tốt nhất để phát triển.

Hội nghị trực tuyến, tổng kết cuộc Tổng điều tra kinh tế năm 2026 do Ban Chỉ đạo Trung ương tổ chức chiều 13/7/2026.

Bảo đảm dữ liệu trở thành nguồn tài nguyên quan trọng

Định kỳ thực hiện 5 năm một lần, cuộc Tổng điều tra kinh tế lần thứ 7 năm 2026 mang sứ mệnh lịch sử khắc họa bức tranh toàn cảnh về một nền kinh tế Việt Nam trong kỷ nguyên số. Kết quả thu được là cơ sở quan trọng để Đảng, Nhà nước hoạch định các chiến lược phát triển kinh tế-xã hội dài hạn.

Hội thảo “Tăng trưởng 2 con số - Động lực từ doanh nghiệp” do Báo Nhân Dân và Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp tổ chức sáng 8/7.

Tạo sức đẩy cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030, điều quan trọng không chỉ là huy động thêm nguồn lực mới, mà còn phải giải phóng được những nguồn lực đang bị ách tắc.

Thị trường bất động sản đang chuyển dịch dần sang một cơ chế cạnh tranh mới, không còn là thiếu nguồn cung, không cố sở hữu nhà bằng mọi giá mà là khả năng hấp thụ của dòng tiền. Ảnh HẢI NAM

Tái định hình thị trường bất động sản

Sau giai đoạn tăng nóng kéo dài, thị trường bất động sản bước vào nửa cuối năm 2026 với một trạng thái hoàn toàn khác, khi thanh khoản suy giảm, áp lực lãi vay gia tăng, hiện tượng cắt lỗ xuất hiện ở một số phân khúc. Điều được quan tâm nhất hiện nay là giá bất động sản sẽ diễn biến ra sao, khi các yếu tố cấu thành giá thành như chi phí đất đai, vật liệu xây dựng, nhân công, hạ tầng và chi phí vốn đều ở mức cao?

Nhiều thủ tục kiểm tra công tác nghiệm thu công trình cấp hai trở xuống đã được chuyển giao hoàn toàn từ Bộ về cho các Sở Xây dựng địa phương thực hiện.

Quyết tâm cải cách mạnh mẽ môi trường kinh doanh

Những chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ về cắt giảm thủ tục hành chính, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, tháo gỡ các điểm nghẽn pháp lý đang tạo kỳ vọng về một môi trường kinh doanh thông thoáng hơn, giúp doanh nghiệp giảm chi phí, tiết kiệm thời gian và mạnh dạn mở rộng đầu tư.

Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam tập trung chủ yếu vào các nhóm hàng phục vụ sản xuất như máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (hơn 99,2 tỷ USD); máy móc, thiết bị và phụ tùng (hơn 31,1 tỷ USD).

Sức bật mới của nền kinh tế

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động nhanh, việc nhập khẩu gia tăng hơn xuất khẩu, khiến cán cân thương mại chuyển sang nhập siêu chưa hẳn là tín hiệu tiêu cực. Bởi phần lớn mức tăng nhập khẩu đến từ máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất và đầu tư, là chỉ dấu cho thấy cộng đồng doanh nghiệp đang mở rộng năng lực sản xuất để chuẩn bị cho các đơn hàng trong tương lai.

Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích đầu tư, kinh doanh, song kèm theo đó là yêu cầu cam kết về công nghệ, R&D, đào tạo nhân lực người Việt Nam.

Kiến tạo nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia

Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy phát triển, khai thác hiệu quả mọi nguồn lực cho tăng trưởng bền vững. Theo tinh thần đó, Nghị quyết số 10-NQ/TW, vừa được ban hành, đánh dấu bước chuyển tư duy từ “thu hút vốn” sang xây dựng nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo và sản xuất hàng đầu châu Á.