Nghị quyết số 10-NQ/TW

Kiến tạo nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia

Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy phát triển, khai thác hiệu quả mọi nguồn lực cho tăng trưởng bền vững. Theo tinh thần đó, Nghị quyết số 10-NQ/TW, vừa được ban hành, đánh dấu bước chuyển tư duy từ “thu hút vốn” sang xây dựng nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo và sản xuất hàng đầu châu Á.

Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích đầu tư, kinh doanh, song kèm theo đó là yêu cầu cam kết về công nghệ, R&D, đào tạo nhân lực người Việt Nam.
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích đầu tư, kinh doanh, song kèm theo đó là yêu cầu cam kết về công nghệ, R&D, đào tạo nhân lực người Việt Nam.

Những sự dịch chuyển có chủ đích trong tiếp cận vốn

Suốt hơn bốn thập kỷ qua, thành công trong thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Việt Nam thường được nhìn qua quy mô vốn đăng ký và vốn thực hiện. Tuy nhiên, chất lượng và hiệu quả thu hút, quản lý, sử dụng dòng vốn FDI còn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa đáp ứng được những yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới của đất nước. Chính vì vậy, khi ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW, bên cạnh mục tiêu thu hút vốn, cấp có thẩm quyền đã có sự thay đổi cách nhìn về giá trị của dòng vốn quan trọng này. Theo đó, thước đo thành công không nằm ở việc thu hút được bao nhiêu tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài, mà ở việc Việt Nam học hỏi được gì, doanh nghiệp trong nước lớn lên như thế nào và nền kinh tế tiến xa được bao nhiêu trong chuỗi giá trị toàn cầu. Nghĩa là, dòng vốn đầu tư nước ngoài không còn là mục tiêu để tận lực theo đuổi, mà trở thành phương tiện phục vụ mục tiêu phát triển dài hạn của đất nước.

Minh chứng là tại Nghị quyết số 10-NQ/TW đã hàm chứa những sự dịch chuyển có chủ đích trong cách tiếp cận dòng vốn FDI của Việt Nam, từ tư duy “thu hút bằng mọi giá” sang “thu hút có chọn lọc và gắn với nâng cao năng lực quốc gia”. Cụ thể gồm: Thứ nhất là dịch chuyển về cơ chế ưu đãi. Nghị quyết số 10-NQ/TW yêu cầu chuyển dần từ ưu đãi theo đầu vào sang hỗ trợ gắn với kết quả thực hiện cam kết, kèm theo cơ chế hậu kiểm và thu hồi ưu đãi nếu nhà đầu tư không làm đúng cam kết.

Thứ hai là dịch chuyển về cách tổ chức không gian thu hút. Thay vì thu hút theo địa giới hành chính, Nghị quyết số 10-NQ/TW hướng tới thu hút theo cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Đi kèm là một thông điệp thẳng thắn: “Kiên quyết khắc phục tình trạng các địa phương đua nhau hạ chuẩn để giành dự án, không hình thành mặt bằng ưu đãi thấp để cạnh tranh”.

Thứ ba là sự xuất hiện của cơ chế nhà đầu tư chiến lược, với quy trình thủ tục đầu tư đặc biệt và một danh mục mở các lĩnh vực công nghệ chiến lược được rà soát, cập nhật định kỳ. Việt Nam chủ động phân luồng, không còn “trải thảm” cho mọi dòng vốn, mà chọn lọc và dành cơ chế riêng cho những dự án có khả năng dẫn dắt chuỗi cung ứng khu vực.

Theo nhận định của TS Trần Hải Linh - Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân và Đầu tư Việt Nam - Hàn Quốc (VKBIA), ý nghĩa chiến lược có trong Nghị quyết số 10-NQ/TW là thể hiện được bước chuyển rất quan trọng trong tư duy phát triển của Việt Nam đối với khu vực kinh tế có vốn FDI. Trước đây, chúng ta thường nhìn FDI trước hết ở khía cạnh bổ sung vốn, tạo việc làm và thúc đẩy xuất khẩu; hiện nay yêu cầu đặt ra đã cao hơn nhiều: thu hút có chọn lọc, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức lan tỏa của dòng vốn này đối với nền kinh tế trong nước.

Ưu đãi gắn với cam kết có hậu kiểm

Một trong những điểm nổi bật trong nội dung Nghị quyết số 10-NQ/TW, theo nhận định của Morgan Stanley Capital International, đó là nguyên tắc “ưu đãi đi kèm cam kết”. Cụ thể, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích đầu tư, kinh doanh, song kèm theo đó là yêu cầu cam kết về công nghệ, R&D, đào tạo nhân lực người Việt Nam, tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước, phát triển nhà cung ứng nội địa. Đặc biệt, mức ưu đãi sẽ gắn với kết quả thực hiện những cam kết ấy.

Cách tiếp cận này, theo nhận định của TS Bùi Quý Thuấn, Trường Kinh tế - Đại học Phenikaa, giúp giải quyết một hạn chế đã tồn tại nhiều năm. Dù thu hút được lượng lớn vốn FDI, việc chuyển giao công nghệ sang khu vực doanh nghiệp trong nước vẫn diễn ra chậm, tỷ lệ nội địa hóa thấp và không ít dự án chủ yếu dừng ở khâu gia công, lắp ráp. Chính nghị quyết cũng thừa nhận chất lượng thu hút FDI chưa tương xứng với tiềm năng.

Điểm khác biệt lần này là các cam kết của doanh nghiệp FDI sẽ gắn trực tiếp với mức ưu đãi được hưởng và có hậu kiểm, thay vì để chuyển giao công nghệ chỉ mang tính khuyến khích như trước đây. Tuy nhiên, việc triển khai sẽ không đơn giản. Nghị quyết số 10-NQ/TW cũng nhấn mạnh các chính sách hỗ trợ phải phù hợp các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.

Trên thực tế, những yêu cầu quá cứng về tỷ lệ nội địa hóa từng gây tranh cãi do có nguy cơ xung đột với quy định hợp tác quốc tế khác. Vì vậy, TS Bùi Quý Thuấn cho rằng, hiệu quả của chính sách sẽ phụ thuộc vào khả năng thiết kế các quy định đủ linh hoạt để vừa thúc đẩy doanh nghiệp FDI gắn kết hơn với khu vực trong nước, vừa bảo đảm tuân thủ các cam kết quốc tế. Đây sẽ là bài toán không dễ và cần được theo dõi ở giai đoạn cụ thể hóa chính sách.

Đặc biệt, theo TS Bùi Quý Thuấn, khái niệm “năng lực tự chủ chiến lược” được đề cập trong Nghị quyết số 10-NQ/TW cần được hiểu một cách thực tế và toàn diện. Trong bối cảnh thay đổi và biến động địa chính trị trên toàn cầu hiện nay, vấn đề tự chủ chiến lược không phải là việc tách rời khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu, mà là nâng cao vị thế và khả năng kiểm soát của quốc gia bên trong chuỗi cung ứng. Điều này thể hiện ở các góc độ khác nhau, đơn cử, Nghị quyết 10-NQ/TW đặt mục tiêu: Đến năm 2045, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, đóng góp khoảng 30% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của đất nước; góp phần đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Nâng cấp vị thế quốc gia trong chuỗi cung ứng toàn cầu

Với những dịch chuyển đáng kể đó trong tư duy thu hút dòng vốn FDI, Nghị quyết số 10-NQ/TW đã đặt loạt chỉ tiêu rất cụ thể cho giai đoạn đến năm 2030. Về lượng vốn, mục tiêu là thu hút đăng ký khoảng 40-50 tỷ USD/năm và vốn thực hiện 30-40 tỷ USD/năm. Trong khi đó, năm 2025 Việt Nam thu hút vốn đăng ký 38,42 tỷ USD và vốn thực hiện ước đạt 27,62 tỷ USD, mức giải ngân cao nhất trong 5 năm.

Điều này cho thấy ngay cả ngưỡng thấp nhất của chỉ tiêu cũng đòi hỏi một bước nâng so hiện trạng. Theo đó, vốn đăng ký phải vượt mốc 40 tỷ USD, còn vốn thực hiện phải tăng thêm khoảng 10% để đạt 30 tỷ USD và gần 50% nếu hướng tới mốc 40 tỷ USD. Đây là mục tiêu khả thi nếu duy trì được đà tăng trưởng cao, nhưng không để đạt được không đơn giản.

Các chỉ tiêu còn lại cũng hướng đến những điểm nghẽn kéo dài của nền kinh tế. Đó là nâng tỷ lệ nội địa hóa trong các ngành công nghiệp chủ lực lên 45-50% và đưa khoảng 10.000 doanh nghiệp Việt tham gia chuỗi giá trị, trong đó có 500-1.000 nhà cung ứng cấp I. Cùng với mục tiêu 80% lao động qua đào tạo và đưa thị trường chứng khoán được Morgan Stanley Capital International - định chế tài chính đa quốc gia, nâng hạng trước năm 2030, bộ chỉ tiêu này cho thấy tham vọng xây dựng một nền kinh tế có khả năng hấp thụ và lan tỏa giá trị từ khu vực FDI, thay vì chỉ là nơi tiếp nhận dòng vốn.

Đặt dòng vốn FDI trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước, gắn với nâng cao năng lực tự chủ, năng lực cạnh tranh quốc gia và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. “Tinh thần của Nghị quyết số 10-NQ/TW hướng tới nâng cấp vị thế của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Đây là cách tiếp cận phù hợp trong bối cảnh cạnh tranh địa chính trị, dịch chuyển chuỗi cung ứng đang tác động mạnh đến mọi nền kinh tế”, TS Trần Hải Linh nhấn mạnh.

Về chất lượng dòng vốn, Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt mục tiêu 75% dòng vốn FDI đến từ các nền kinh tế phát triển, có tiềm lực về công nghệ, vốn và quản trị; tăng 30% số tập đoàn trong bảng xếp hạng danh sách 500 công ty lớn nhất của tạp chí Fortune (Fortune 500) đầu tư tại Việt Nam; và có ít nhất 3 tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đặt trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D).

Có thể bạn quan tâm

Dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) được kỳ vọng sẽ xây dựng cơ chế quản lý tài chính công đồng bộ, hiệu quả và phục vụ mục tiêu tăng trưởng.

Bước chuyển trong quản trị tài chính công quốc gia

Với tinh thần xuyên suốt là gắn kết chặt chẽ kế hoạch đầu tư công với cân đối nguồn lực tài chính quốc gia, dự kiến trình Quốc hội xem xét cho ý kiến ngay tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất Quốc hội khóa XVi (dự kiến diễn ra từ ngày 3 đến 24/8), dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) được kỳ vọng tạo bước chuyển biến căn bản trong quản trị tài chính công vì ổn định kinh tế vĩ mô, vì lợi ích quốc gia, dân tộc.

Giai đoạn 2020-2025, sản lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng của VIMC đạt bình quân hơn 130 triệu tấn/năm, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế biển của đất nước.

Kiến tạo tầm nhìn toàn diện

Mang trên mình sứ mệnh dẫn dắt các thành phần kinh tế, doanh nghiệp nhà nước luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, dành mọi điều kiện tốt nhất để phát triển.

Hội nghị trực tuyến, tổng kết cuộc Tổng điều tra kinh tế năm 2026 do Ban Chỉ đạo Trung ương tổ chức chiều 13/7/2026.

Bảo đảm dữ liệu trở thành nguồn tài nguyên quan trọng

Định kỳ thực hiện 5 năm một lần, cuộc Tổng điều tra kinh tế lần thứ 7 năm 2026 mang sứ mệnh lịch sử khắc họa bức tranh toàn cảnh về một nền kinh tế Việt Nam trong kỷ nguyên số. Kết quả thu được là cơ sở quan trọng để Đảng, Nhà nước hoạch định các chiến lược phát triển kinh tế-xã hội dài hạn.

Hội thảo “Tăng trưởng 2 con số - Động lực từ doanh nghiệp” do Báo Nhân Dân và Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp tổ chức sáng 8/7.

Tạo sức đẩy cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030, điều quan trọng không chỉ là huy động thêm nguồn lực mới, mà còn phải giải phóng được những nguồn lực đang bị ách tắc.

Thị trường bất động sản đang chuyển dịch dần sang một cơ chế cạnh tranh mới, không còn là thiếu nguồn cung, không cố sở hữu nhà bằng mọi giá mà là khả năng hấp thụ của dòng tiền. Ảnh HẢI NAM

Tái định hình thị trường bất động sản

Sau giai đoạn tăng nóng kéo dài, thị trường bất động sản bước vào nửa cuối năm 2026 với một trạng thái hoàn toàn khác, khi thanh khoản suy giảm, áp lực lãi vay gia tăng, hiện tượng cắt lỗ xuất hiện ở một số phân khúc. Điều được quan tâm nhất hiện nay là giá bất động sản sẽ diễn biến ra sao, khi các yếu tố cấu thành giá thành như chi phí đất đai, vật liệu xây dựng, nhân công, hạ tầng và chi phí vốn đều ở mức cao?

Nhiều thủ tục kiểm tra công tác nghiệm thu công trình cấp hai trở xuống đã được chuyển giao hoàn toàn từ Bộ về cho các Sở Xây dựng địa phương thực hiện.

Quyết tâm cải cách mạnh mẽ môi trường kinh doanh

Những chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ về cắt giảm thủ tục hành chính, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, tháo gỡ các điểm nghẽn pháp lý đang tạo kỳ vọng về một môi trường kinh doanh thông thoáng hơn, giúp doanh nghiệp giảm chi phí, tiết kiệm thời gian và mạnh dạn mở rộng đầu tư.

Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam tập trung chủ yếu vào các nhóm hàng phục vụ sản xuất như máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (hơn 99,2 tỷ USD); máy móc, thiết bị và phụ tùng (hơn 31,1 tỷ USD).

Sức bật mới của nền kinh tế

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động nhanh, việc nhập khẩu gia tăng hơn xuất khẩu, khiến cán cân thương mại chuyển sang nhập siêu chưa hẳn là tín hiệu tiêu cực. Bởi phần lớn mức tăng nhập khẩu đến từ máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất và đầu tư, là chỉ dấu cho thấy cộng đồng doanh nghiệp đang mở rộng năng lực sản xuất để chuẩn bị cho các đơn hàng trong tương lai.

Hiện hệ thống truy xuất nguồn gốc của Việt Nam đã cập nhật khoảng 18.000 sản phẩm của 26/34 tỉnh, thành phố, với 255 vùng trồng và 149 doanh nghiệp tham gia.

Minh bạch truy xuất nguồn gốc nông sản xuất khẩu

Việc thí điểm triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản là minh chứng rõ nét cho quyết tâm của ngành nông nghiệp Việt Nam trong xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch, chuẩn hóa dữ liệu và thích ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của các thị trường nhập khẩu. Đây cũng là động thái tích cực nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo nền tảng phát triển bền vững cho nông sản Việt Nam trong giai đoạn mới.

Là nguồn nguyên liệu chủ lực trong sản xuất E10, nhu cầu mía phục vụ sản xuất ethanol có thể đạt 14-20 triệu tấn mỗi năm.

E10 - Cơ hội đột phá với kinh tế sinh học

Từ ngày 1/6/2026, xăng E10 RON95-III (E10) được bán rộng rãi trên thị trường, thay thế dần xăng khoáng RON95-III. Động thái này được xem là bước tiến lớn trong lộ trình chuyển đổi sang nhiên liệu sạch và giảm phát thải.

Việc Chính phủ nâng ngưỡng doanh thu không chịu thuế lên 1 tỷ đồng là động lực khiến nhiều hộ kinh doanh quan tâm hơn tới việc quản lý doanh thu, vận hành kinh doanh bài bản. Ảnh: Thành Đạt

Thúc đẩy lòng trung thực trong thực hiện nghĩa vụ thuế

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 141/2026/NĐ-CP nâng ngưỡng doanh thu không thuộc diện chịu thuế từ 500 triệu đồng lên 1 tỷ đồng/năm là chính sách thể hiện rõ chủ trương đồng hành, hỗ trợ hộ kinh doanh phát triển ổn định, bền vững.

Ông Nguyễn Quang Vinh, Phó Chủ tịch VCCI, Chủ tịch VBCSD, Phó Trưởng ban chỉ đạo Chương trình CSI 2026 phát biểu tại Lễ phát động.

Nối dài hành trình đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp

Hành trình 11 năm không chỉ là dấu mốc về mặt thời gian, mà còn cho thấy sự kiên định của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Hội đồng Doanh nghiệp vì sự phát triển bền vững Việt Nam (VBCSD) trong việc đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp thúc đẩy mô hình tăng trưởng bền vững tại Việt Nam.

Các vụ việc phòng vệ thương mại do Hoa Kỳ khởi xướng đối với Việt Nam có phạm vi rất rộng, trải khắp các nhóm hàng hóa.

Thích ứng với các xu hướng phòng vệ thương mại mới

Thường xuyên tổ chức điều tra “kép”, điều tra “chùm” đối với hàng hóa Việt Nam, các vụ việc phòng vệ thương mại do Hoa Kỳ khởi xướng có phạm vi rất rộng, trải dài từ nhóm hàng nông sản đến công nghiệp chế biến, từ các mặt hàng có kim ngạch lớn đến các sản phẩm ngách.

Nhu cầu nhập nguyên liệu, thiết bị tăng mạnh phục vụ sản xuất và xuất khẩu là minh chứng rõ nét về niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp đối với một nền sản xuất bền vững.

Chỉ dấu tích cực về một chu kỳ phát triển mới

Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và bốn tháng đầu năm 2026 do Cục Thống kê, Bộ Tài chính công bố, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa trong bốn tháng đầu năm đạt 344,17 tỷ USD, tăng 24,2% so cùng kỳ năm trước.

Dù là ngành có nhiều đặc thù trong công tác quản lý, song cơ quan hải quan đang là đầu mối chủ trì rà soát toàn diện các văn bản quy phạm “xương sống” trình Bộ Tài chính trình Chính phủ ban hành nhằm loại bỏ tận gốc các điều kiện kinh doanh bất hợp lý.

Chuyển mạnh sang quản lý rủi ro

Triển khai Kết luận số 18-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng hai con số.

Tọa đàm “Xác lập thể chế đặc thù, vượt trội để phát triển Thủ đô trong kỷ nguyên mới”.

Trao quyền để đột phá

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, chiều 8/4, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, Quốc hội nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra dự án Luật Thủ đô (sửa đổi).

Chi phí đầu vào gia tăng sẽ lan tỏa sang nhiều nhóm hàng hóa và dịch vụ, làm gia tăng áp lực lạm phát, gia tăng gánh nặng trên vai người tiêu dùng. (Ảnh: Nguyễn Hùng)

Thách thức lớn với mục tiêu kiểm soát lạm phát

Trong trường hợp giá dầu tiếp tục leo thang do căng thẳng Trung Đông kéo dài, theo nhận định của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), yếu tố này có thể làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng thêm khoảng từ 1 đến 2 điểm %. Khi đó, việc kiểm soát lạm phát dưới mục tiêu 4,5% mà Quốc hội đề ra cho năm nay sẽ càng gia tăng tính thách thức.

Cửa hàng thí điểm kinh doanh xăng E10 tại phố Nghĩa Tân (Hà Nội) của Tổng công ty Dầu Việt Nam (PVOIL) đã thực hiện cung cấp xăng E10 từ tháng 8/2025. (Ảnh: Nguyễn Hùng)

Sẵn sàng sử dụng rộng rãi xăng E10 trên toàn quốc

Sau gần một thập kỷ triển khai xăng sinh học có tỷ lệ phối trộn 5% (E5), việc đưa xăng sinh học có tỷ lệ phối trộn 10% (E10) ra thị trường trên diện rộng từ đầu tháng 4 này là một quyết định chiến lược của Việt Nam, với kỳ vọng giảm phụ thuộc nhiên liệu hóa thạch, tăng sự chủ động nguồn cung xăng dầu.

Ngân sách nhà nước sẽ đóng vai trò “vốn mồi”, tập trung đầu tư vào các lĩnh vực có tính lan tỏa cao, tạo điều kiện để khu vực tư nhân tham gia đầu tư. (Trong ảnh: Đường dẫn nút giao IC5 vào cao tốc Cần Thơ-Cà Mau).

Áp lực lớn trong khai mở các kênh vốn đầu tư

Trong bối cảnh thị trường vốn trong nước còn hạn chế và nhu cầu đầu tư cho hạ tầng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh ngày càng lớn, chính sách tài chính được kỳ vọng đóng vai trò trung tâm trong việc khơi thông và phân bổ hiệu quả các dòng vốn đầu tư phát triển.

Toàn cảnh lễ phát động Diễn đàn “Năng lượng và Môi trường Thế giới - Việt Nam 2026” do VCCI tổ chức tại Hà Nội, ngày 20/3/2026. Ảnh: Nguyễn Hùng

Mở không gian kết nối, thúc đẩy hành động vì mục tiêu Net Zero

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu chuyển mạnh từ nguy cơ dài hạn thành sức ép hiện hữu đối với mọi nền kinh tế, mục tiêu tăng trưởng xanh, phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) không còn là lựa chọn, mà trở thành chuẩn mực phát triển mới, buộc các quốc gia phải tái cấu trúc mô hình tăng trưởng theo hướng xanh và bền vững.