Nghị quyết số 10-NQ/TW

Kiến tạo nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia

Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy phát triển, khai thác hiệu quả mọi nguồn lực cho tăng trưởng bền vững. Theo tinh thần đó, Nghị quyết số 10-NQ/TW, vừa được ban hành, đánh dấu bước chuyển tư duy từ “thu hút vốn” sang xây dựng nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo và sản xuất hàng đầu châu Á.

Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích đầu tư, kinh doanh, song kèm theo đó là yêu cầu cam kết về công nghệ, R&D, đào tạo nhân lực người Việt Nam.
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích đầu tư, kinh doanh, song kèm theo đó là yêu cầu cam kết về công nghệ, R&D, đào tạo nhân lực người Việt Nam.

Những sự dịch chuyển có chủ đích trong tiếp cận vốn

Suốt hơn bốn thập kỷ qua, thành công trong thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Việt Nam thường được nhìn qua quy mô vốn đăng ký và vốn thực hiện. Tuy nhiên, chất lượng và hiệu quả thu hút, quản lý, sử dụng dòng vốn FDI còn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa đáp ứng được những yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới của đất nước. Chính vì vậy, khi ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW, bên cạnh mục tiêu thu hút vốn, cấp có thẩm quyền đã có sự thay đổi cách nhìn về giá trị của dòng vốn quan trọng này. Theo đó, thước đo thành công không nằm ở việc thu hút được bao nhiêu tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài, mà ở việc Việt Nam học hỏi được gì, doanh nghiệp trong nước lớn lên như thế nào và nền kinh tế tiến xa được bao nhiêu trong chuỗi giá trị toàn cầu. Nghĩa là, dòng vốn đầu tư nước ngoài không còn là mục tiêu để tận lực theo đuổi, mà trở thành phương tiện phục vụ mục tiêu phát triển dài hạn của đất nước.

Minh chứng là tại Nghị quyết số 10-NQ/TW đã hàm chứa những sự dịch chuyển có chủ đích trong cách tiếp cận dòng vốn FDI của Việt Nam, từ tư duy “thu hút bằng mọi giá” sang “thu hút có chọn lọc và gắn với nâng cao năng lực quốc gia”. Cụ thể gồm: Thứ nhất là dịch chuyển về cơ chế ưu đãi. Nghị quyết số 10-NQ/TW yêu cầu chuyển dần từ ưu đãi theo đầu vào sang hỗ trợ gắn với kết quả thực hiện cam kết, kèm theo cơ chế hậu kiểm và thu hồi ưu đãi nếu nhà đầu tư không làm đúng cam kết.

Thứ hai là dịch chuyển về cách tổ chức không gian thu hút. Thay vì thu hút theo địa giới hành chính, Nghị quyết số 10-NQ/TW hướng tới thu hút theo cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Đi kèm là một thông điệp thẳng thắn: “Kiên quyết khắc phục tình trạng các địa phương đua nhau hạ chuẩn để giành dự án, không hình thành mặt bằng ưu đãi thấp để cạnh tranh”.

Thứ ba là sự xuất hiện của cơ chế nhà đầu tư chiến lược, với quy trình thủ tục đầu tư đặc biệt và một danh mục mở các lĩnh vực công nghệ chiến lược được rà soát, cập nhật định kỳ. Việt Nam chủ động phân luồng, không còn “trải thảm” cho mọi dòng vốn, mà chọn lọc và dành cơ chế riêng cho những dự án có khả năng dẫn dắt chuỗi cung ứng khu vực.

Theo nhận định của TS Trần Hải Linh - Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân và Đầu tư Việt Nam - Hàn Quốc (VKBIA), ý nghĩa chiến lược có trong Nghị quyết số 10-NQ/TW là thể hiện được bước chuyển rất quan trọng trong tư duy phát triển của Việt Nam đối với khu vực kinh tế có vốn FDI. Trước đây, chúng ta thường nhìn FDI trước hết ở khía cạnh bổ sung vốn, tạo việc làm và thúc đẩy xuất khẩu; hiện nay yêu cầu đặt ra đã cao hơn nhiều: thu hút có chọn lọc, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức lan tỏa của dòng vốn này đối với nền kinh tế trong nước.

Ưu đãi gắn với cam kết có hậu kiểm

Một trong những điểm nổi bật trong nội dung Nghị quyết số 10-NQ/TW, theo nhận định của Morgan Stanley Capital International, đó là nguyên tắc “ưu đãi đi kèm cam kết”. Cụ thể, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích đầu tư, kinh doanh, song kèm theo đó là yêu cầu cam kết về công nghệ, R&D, đào tạo nhân lực người Việt Nam, tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước, phát triển nhà cung ứng nội địa. Đặc biệt, mức ưu đãi sẽ gắn với kết quả thực hiện những cam kết ấy.

Cách tiếp cận này, theo nhận định của TS Bùi Quý Thuấn, Trường Kinh tế - Đại học Phenikaa, giúp giải quyết một hạn chế đã tồn tại nhiều năm. Dù thu hút được lượng lớn vốn FDI, việc chuyển giao công nghệ sang khu vực doanh nghiệp trong nước vẫn diễn ra chậm, tỷ lệ nội địa hóa thấp và không ít dự án chủ yếu dừng ở khâu gia công, lắp ráp. Chính nghị quyết cũng thừa nhận chất lượng thu hút FDI chưa tương xứng với tiềm năng.

Điểm khác biệt lần này là các cam kết của doanh nghiệp FDI sẽ gắn trực tiếp với mức ưu đãi được hưởng và có hậu kiểm, thay vì để chuyển giao công nghệ chỉ mang tính khuyến khích như trước đây. Tuy nhiên, việc triển khai sẽ không đơn giản. Nghị quyết số 10-NQ/TW cũng nhấn mạnh các chính sách hỗ trợ phải phù hợp các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.

Trên thực tế, những yêu cầu quá cứng về tỷ lệ nội địa hóa từng gây tranh cãi do có nguy cơ xung đột với quy định hợp tác quốc tế khác. Vì vậy, TS Bùi Quý Thuấn cho rằng, hiệu quả của chính sách sẽ phụ thuộc vào khả năng thiết kế các quy định đủ linh hoạt để vừa thúc đẩy doanh nghiệp FDI gắn kết hơn với khu vực trong nước, vừa bảo đảm tuân thủ các cam kết quốc tế. Đây sẽ là bài toán không dễ và cần được theo dõi ở giai đoạn cụ thể hóa chính sách.

Đặc biệt, theo TS Bùi Quý Thuấn, khái niệm “năng lực tự chủ chiến lược” được đề cập trong Nghị quyết số 10-NQ/TW cần được hiểu một cách thực tế và toàn diện. Trong bối cảnh thay đổi và biến động địa chính trị trên toàn cầu hiện nay, vấn đề tự chủ chiến lược không phải là việc tách rời khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu, mà là nâng cao vị thế và khả năng kiểm soát của quốc gia bên trong chuỗi cung ứng. Điều này thể hiện ở các góc độ khác nhau, đơn cử, Nghị quyết 10-NQ/TW đặt mục tiêu: Đến năm 2045, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, đóng góp khoảng 30% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của đất nước; góp phần đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Nâng cấp vị thế quốc gia trong chuỗi cung ứng toàn cầu

Với những dịch chuyển đáng kể đó trong tư duy thu hút dòng vốn FDI, Nghị quyết số 10-NQ/TW đã đặt loạt chỉ tiêu rất cụ thể cho giai đoạn đến năm 2030. Về lượng vốn, mục tiêu là thu hút đăng ký khoảng 40-50 tỷ USD/năm và vốn thực hiện 30-40 tỷ USD/năm. Trong khi đó, năm 2025 Việt Nam thu hút vốn đăng ký 38,42 tỷ USD và vốn thực hiện ước đạt 27,62 tỷ USD, mức giải ngân cao nhất trong 5 năm.

Điều này cho thấy ngay cả ngưỡng thấp nhất của chỉ tiêu cũng đòi hỏi một bước nâng so hiện trạng. Theo đó, vốn đăng ký phải vượt mốc 40 tỷ USD, còn vốn thực hiện phải tăng thêm khoảng 10% để đạt 30 tỷ USD và gần 50% nếu hướng tới mốc 40 tỷ USD. Đây là mục tiêu khả thi nếu duy trì được đà tăng trưởng cao, nhưng không để đạt được không đơn giản.

Các chỉ tiêu còn lại cũng hướng đến những điểm nghẽn kéo dài của nền kinh tế. Đó là nâng tỷ lệ nội địa hóa trong các ngành công nghiệp chủ lực lên 45-50% và đưa khoảng 10.000 doanh nghiệp Việt tham gia chuỗi giá trị, trong đó có 500-1.000 nhà cung ứng cấp I. Cùng với mục tiêu 80% lao động qua đào tạo và đưa thị trường chứng khoán được Morgan Stanley Capital International - định chế tài chính đa quốc gia, nâng hạng trước năm 2030, bộ chỉ tiêu này cho thấy tham vọng xây dựng một nền kinh tế có khả năng hấp thụ và lan tỏa giá trị từ khu vực FDI, thay vì chỉ là nơi tiếp nhận dòng vốn.

Đặt dòng vốn FDI trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước, gắn với nâng cao năng lực tự chủ, năng lực cạnh tranh quốc gia và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. “Tinh thần của Nghị quyết số 10-NQ/TW hướng tới nâng cấp vị thế của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Đây là cách tiếp cận phù hợp trong bối cảnh cạnh tranh địa chính trị, dịch chuyển chuỗi cung ứng đang tác động mạnh đến mọi nền kinh tế”, TS Trần Hải Linh nhấn mạnh.

Về chất lượng dòng vốn, Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt mục tiêu 75% dòng vốn FDI đến từ các nền kinh tế phát triển, có tiềm lực về công nghệ, vốn và quản trị; tăng 30% số tập đoàn trong bảng xếp hạng danh sách 500 công ty lớn nhất của tạp chí Fortune (Fortune 500) đầu tư tại Việt Nam; và có ít nhất 3 tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đặt trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D).

Có thể bạn quan tâm

Hiện hệ thống truy xuất nguồn gốc của Việt Nam đã cập nhật khoảng 18.000 sản phẩm của 26/34 tỉnh, thành phố, với 255 vùng trồng và 149 doanh nghiệp tham gia.

Minh bạch truy xuất nguồn gốc nông sản xuất khẩu

Việc thí điểm triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản là minh chứng rõ nét cho quyết tâm của ngành nông nghiệp Việt Nam trong xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch, chuẩn hóa dữ liệu và thích ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của các thị trường nhập khẩu. Đây cũng là động thái tích cực nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo nền tảng phát triển bền vững cho nông sản Việt Nam trong giai đoạn mới.

Là nguồn nguyên liệu chủ lực trong sản xuất E10, nhu cầu mía phục vụ sản xuất ethanol có thể đạt 14-20 triệu tấn mỗi năm.

E10 - Cơ hội đột phá với kinh tế sinh học

Từ ngày 1/6/2026, xăng E10 RON95-III (E10) được bán rộng rãi trên thị trường, thay thế dần xăng khoáng RON95-III. Động thái này được xem là bước tiến lớn trong lộ trình chuyển đổi sang nhiên liệu sạch và giảm phát thải.

Việc Chính phủ nâng ngưỡng doanh thu không chịu thuế lên 1 tỷ đồng là động lực khiến nhiều hộ kinh doanh quan tâm hơn tới việc quản lý doanh thu, vận hành kinh doanh bài bản. Ảnh: Thành Đạt

Thúc đẩy lòng trung thực trong thực hiện nghĩa vụ thuế

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 141/2026/NĐ-CP nâng ngưỡng doanh thu không thuộc diện chịu thuế từ 500 triệu đồng lên 1 tỷ đồng/năm là chính sách thể hiện rõ chủ trương đồng hành, hỗ trợ hộ kinh doanh phát triển ổn định, bền vững.

Ông Nguyễn Quang Vinh, Phó Chủ tịch VCCI, Chủ tịch VBCSD, Phó Trưởng ban chỉ đạo Chương trình CSI 2026 phát biểu tại Lễ phát động.

Nối dài hành trình đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp

Hành trình 11 năm không chỉ là dấu mốc về mặt thời gian, mà còn cho thấy sự kiên định của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Hội đồng Doanh nghiệp vì sự phát triển bền vững Việt Nam (VBCSD) trong việc đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp thúc đẩy mô hình tăng trưởng bền vững tại Việt Nam.

Các vụ việc phòng vệ thương mại do Hoa Kỳ khởi xướng đối với Việt Nam có phạm vi rất rộng, trải khắp các nhóm hàng hóa.

Thích ứng với các xu hướng phòng vệ thương mại mới

Thường xuyên tổ chức điều tra “kép”, điều tra “chùm” đối với hàng hóa Việt Nam, các vụ việc phòng vệ thương mại do Hoa Kỳ khởi xướng có phạm vi rất rộng, trải dài từ nhóm hàng nông sản đến công nghiệp chế biến, từ các mặt hàng có kim ngạch lớn đến các sản phẩm ngách.

Nhu cầu nhập nguyên liệu, thiết bị tăng mạnh phục vụ sản xuất và xuất khẩu là minh chứng rõ nét về niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp đối với một nền sản xuất bền vững.

Chỉ dấu tích cực về một chu kỳ phát triển mới

Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và bốn tháng đầu năm 2026 do Cục Thống kê, Bộ Tài chính công bố, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa trong bốn tháng đầu năm đạt 344,17 tỷ USD, tăng 24,2% so cùng kỳ năm trước.

Dù là ngành có nhiều đặc thù trong công tác quản lý, song cơ quan hải quan đang là đầu mối chủ trì rà soát toàn diện các văn bản quy phạm “xương sống” trình Bộ Tài chính trình Chính phủ ban hành nhằm loại bỏ tận gốc các điều kiện kinh doanh bất hợp lý.

Chuyển mạnh sang quản lý rủi ro

Triển khai Kết luận số 18-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng hai con số.

Tọa đàm “Xác lập thể chế đặc thù, vượt trội để phát triển Thủ đô trong kỷ nguyên mới”.

Trao quyền để đột phá

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, chiều 8/4, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, Quốc hội nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra dự án Luật Thủ đô (sửa đổi).

Chi phí đầu vào gia tăng sẽ lan tỏa sang nhiều nhóm hàng hóa và dịch vụ, làm gia tăng áp lực lạm phát, gia tăng gánh nặng trên vai người tiêu dùng. (Ảnh: Nguyễn Hùng)

Thách thức lớn với mục tiêu kiểm soát lạm phát

Trong trường hợp giá dầu tiếp tục leo thang do căng thẳng Trung Đông kéo dài, theo nhận định của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), yếu tố này có thể làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng thêm khoảng từ 1 đến 2 điểm %. Khi đó, việc kiểm soát lạm phát dưới mục tiêu 4,5% mà Quốc hội đề ra cho năm nay sẽ càng gia tăng tính thách thức.

Cửa hàng thí điểm kinh doanh xăng E10 tại phố Nghĩa Tân (Hà Nội) của Tổng công ty Dầu Việt Nam (PVOIL) đã thực hiện cung cấp xăng E10 từ tháng 8/2025. (Ảnh: Nguyễn Hùng)

Sẵn sàng sử dụng rộng rãi xăng E10 trên toàn quốc

Sau gần một thập kỷ triển khai xăng sinh học có tỷ lệ phối trộn 5% (E5), việc đưa xăng sinh học có tỷ lệ phối trộn 10% (E10) ra thị trường trên diện rộng từ đầu tháng 4 này là một quyết định chiến lược của Việt Nam, với kỳ vọng giảm phụ thuộc nhiên liệu hóa thạch, tăng sự chủ động nguồn cung xăng dầu.

Ngân sách nhà nước sẽ đóng vai trò “vốn mồi”, tập trung đầu tư vào các lĩnh vực có tính lan tỏa cao, tạo điều kiện để khu vực tư nhân tham gia đầu tư. (Trong ảnh: Đường dẫn nút giao IC5 vào cao tốc Cần Thơ-Cà Mau).

Áp lực lớn trong khai mở các kênh vốn đầu tư

Trong bối cảnh thị trường vốn trong nước còn hạn chế và nhu cầu đầu tư cho hạ tầng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh ngày càng lớn, chính sách tài chính được kỳ vọng đóng vai trò trung tâm trong việc khơi thông và phân bổ hiệu quả các dòng vốn đầu tư phát triển.

Toàn cảnh lễ phát động Diễn đàn “Năng lượng và Môi trường Thế giới - Việt Nam 2026” do VCCI tổ chức tại Hà Nội, ngày 20/3/2026. Ảnh: Nguyễn Hùng

Mở không gian kết nối, thúc đẩy hành động vì mục tiêu Net Zero

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu chuyển mạnh từ nguy cơ dài hạn thành sức ép hiện hữu đối với mọi nền kinh tế, mục tiêu tăng trưởng xanh, phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) không còn là lựa chọn, mà trở thành chuẩn mực phát triển mới, buộc các quốc gia phải tái cấu trúc mô hình tăng trưởng theo hướng xanh và bền vững.

Với việc chủ động lên kịch bản ứng phó kịp thời, hiện tại, Nhà nước và các doanh nghiệp đầu mối cơ bản bảo đảm nguồn cung ổn định, đáp ứng nhu cầu xã hội về xăng dầu. (Ảnh Văn Hiệp)

Chủ động củng cố an ninh năng lượng quốc gia

Trong mỗi cuộc khủng hoảng địa chính trị, thách thức không chỉ là giá dầu hay cước vận tải tăng cao, mà là năng lực thích ứng chiến lược trong một trật tự kinh tế toàn cầu ngày một bất định, khó lường.

chuyên gia kinh tế, Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Trí Long.

Kiềm chế lạm phát, giữ nhịp tăng trưởng

Với một nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam, trong bối cảnh xung đột Trung Đông, bài toán điều hành không chỉ là giữ ổn định giá nhiên liệu, mà còn là ngăn cú sốc bên ngoài lan thành mặt bằng giá mới trong nước; vừa kiềm chế lạm phát, vừa giữ nhịp sản xuất, kinh doanh.

Tuyến Metro số 5 được kỳ vọng hiện thực hóa mô hình đô thị TOD kết nối metro ở khu vực phía Tây Hà Nội.

Sửa đổi Luật Đất đai: Cần một cách làm toàn diện và khoa học

Trong bất cứ nền kinh tế nào, đất đai vẫn luôn là nguồn lực nền tảng, vừa là yếu tố sản xuất, vừa là tài sản tích lũy, vừa là công cụ tài chính. Với mục tiêu phát triển mới của đất nước, chúng ta cần có một chính sách đất đai mới. Và việc sửa đổi Luật Đất đai, một khi được tiến hành, phải đặt trong tầm nhìn đó.

Một trong những động lực quan trọng góp phần thực hiện hiệu quả mô hình tăng trưởng mới chính là sức mua tiêu dùng nội địa được tạo ra từ niềm tin vào hàng hóa trong nước. (Ảnh Thành đạt)

Đòi hỏi tất yếu để cải cách nền kinh tế

Chúng ta bước vào năm 2026 với nhiều thay đổi quan trọng cho 5 năm tới. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV đã kết thúc thành công. Đại hội đã giải quyết nhiều vấn đề thực tiễn mà cuộc sống cũng như nền kinh tế đặt ra.

Viettel không chỉ là nhà cung cấp hạ tầng viễn thông, mà còn là biểu tượng của năng lực phục vụ và độ tin cậy. (Ảnh Thành Đạt)

Hạ tầng mới của kỷ nguyên số


Hai thập niên qua chứng kiến sự trỗi dậy của “nền kinh tế chú ý”, trong đó sự chú ý của công chúng trở thành tài nguyên chiến lược.

Dự án cao tốc bắc - nam đoạn Quảng Ngãi - Hoài Nhơn đang được chủ đầu tư và các nhà thầu gấp rút hoàn thiện, quyết tâm đưa vào khai thác trước Tết Nguyên đán 2026. (Nguồn ảnh BQLDA II - Bộ Xây dựng)

Xuân công trường song hành cùng đất nước

Không chỉ những ngày cuối tháng Chạp Ất Tỵ mà xuyên suốt dịp Tết Bính Ngọ, trên những công trình trọng điểm quốc gia, hàng chục nghìn kỹ sư, công nhân bám trụ công trình với quyết tâm cao nhất để rút ngắn thời gian về đích.

Chiến dịch Không 1 mình do Liên minh Niềm tin số khởi xướng với mục tiêu nâng cao nhận thức, kỹ năng an toàn số của trẻ em, thanh thiếu niên trên không gian mạng.

Số hóa mới chỉ là bước đầu

Thách thức cốt lõi của xã hội số hiện nay có lẽ không nằm ở tốc độ công nghệ, mà ở khả năng duy trì và tái thiết niềm tin xã hội. Và trong tiến trình đó, “tính người” không phải là yếu tố bổ trợ, mà chính là biến số trung tâm quyết định chất lượng quản trị.

Doanh nhân Trần Văn Lê và sản phẩm quạt công nghiệp.

Kinh tế tư nhân và “ngọn gió” Đổi mới

Từ “ngọn gió” Đổi mới, nhiều người đã dấn thân khởi nghiệp, để rồi không chỉ vượt thoát đói nghèo mà còn tạo dựng nên những thương hiệu lớn. Khi đã đi qua một quãng đường dài, nội lực mạnh mẽ của họ không chỉ nằm ở những gì đã đạt được, mà còn ở khả năng luôn tự làm mới để tiếp tục bắt nhịp cùng thời cuộc.