Minh bạch truy xuất nguồn gốc nông sản xuất khẩu

Việc thí điểm triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản là minh chứng rõ nét cho quyết tâm của ngành nông nghiệp Việt Nam trong xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch, chuẩn hóa dữ liệu và thích ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của các thị trường nhập khẩu. Đây cũng là động thái tích cực nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo nền tảng phát triển bền vững cho nông sản Việt Nam trong giai đoạn mới.

Hiện hệ thống truy xuất nguồn gốc của Việt Nam đã cập nhật khoảng 18.000 sản phẩm của 26/34 tỉnh, thành phố, với 255 vùng trồng và 149 doanh nghiệp tham gia.
Hiện hệ thống truy xuất nguồn gốc của Việt Nam đã cập nhật khoảng 18.000 sản phẩm của 26/34 tỉnh, thành phố, với 255 vùng trồng và 149 doanh nghiệp tham gia.

Chủ động xây dựng niềm tin với các đối tác xuất khẩu

Có lẽ đến bây giờ, sau hơn 5 năm đeo đuổi giấc mơ khởi nghiệp, chàng nông dân 8X Đặng Dương Minh Hoàng - Giám đốc Hợp tác xã Thương mại dịch vụ Thiên Nông, gương mặt trẻ tiêu biểu Việt Nam năm 2022, mới thật sự tin vào con đường mà mình đã đi. Đó là tiên phong xây dựng nền nông nghiệp hiện đại và bền vững trên quê hương Bình Phước (nay thuộc thành phố Đồng Nai). Anh cũng là một trong những người đầu tiên thực hiện xây dựng vùng trồng ứng dụng công nghệ cao và dán tem truy xuất nguồn gốc đến từng cây bơ, cây sầu riêng trên vùng đất Bình Phước này.

Theo đại diện Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), dù đang ở giai đoạn thí điểm, song kết quả bước đầu cho thấy truy xuất nguồn gốc đang trở thành công cụ quản trị chuỗi cung ứng thực chất thay vì chỉ dừng ở yêu cầu kỹ thuật mang tính hình thức. Đặc biệt, ngày 23/5 vừa qua, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã gửi công hàm tới Tổng cục Hải quan Trung Quốc thông báo về hệ thống truy xuất nguồn gốc của Việt Nam. Động thái này là minh chứng cho việc Việt Nam đang chủ động minh bạch hóa chuỗi cung ứng, tăng khả năng đáp ứng các yêu cầu quản lý mới từ các thị trường nhập khẩu lớn của nhiều mặt hàng nông sản.

Thông tin về vấn đề này, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung khẳng định, nhận thức của doanh nghiệp, người sản xuất về việc xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch đã có sự thay đổi mạnh mẽ. Hạ tầng kỹ thuật hiện cũng đã sẵn sàng ở mức cơ bản để đưa vào vận hành hệ thống chính thức từ ngày 1/7 tới đây. Song chỉ khi toàn bộ các chủ thể trong chuỗi cùng tham gia, hệ thống truy xuất mới có thể vận hành hiệu quả và tạo niềm tin với đối tác nhập khẩu.

Bảo đảm thực thi hiệu quả các nghĩa vụ quốc tế

Thực tế, trong bối cảnh các quốc gia nhập khẩu nông-lâm-thủy sản ngày càng siết chặt tiêu chuẩn kỹ thuật, kiểm dịch và quản lý dữ liệu, truy xuất nguồn gốc không còn là giải pháp mang tính khuyến khích mà đang trở thành điều kiện gần như bắt buộc để duy trì xuất khẩu chính ngạch.

Chia sẻ về vấn đề này, ông Hoàng Đức Minh, chuyên viên Phòng Xuất xứ hàng hóa, Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công thương, cho biết, các mặt hàng nông sản Việt Nam xuất khẩu chủ yếu sang Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, cùng các thị trường lớn khác như: Mỹ, EU, Anh, Nga và Belarus. Dù có nhiều lợi thế, song việc đáp ứng yêu cầu chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O), truy xuất nguồn gốc hàng hóa tại các thị trường này là thách thức lớn khi khối lượng hồ sơ nhiều, tiêu chuẩn xác minh ngày càng khắt khe. Hệ thống quy tắc xuất xứ hàng hóa hiện nay được xây dựng trên ba tiêu chí cơ bản: Hàng hóa có xuất xứ thuần túy, tiêu chí cộng gộp và tiêu chí chuyển đổi mã số hàng hóa.

Đặc biệt, tiêu chí “xuất xứ thuần túy” áp dụng cho những sản phẩm được sản xuất, nuôi trồng, khai thác hoàn toàn tại Việt Nam như nông sản hay khoáng sản. “Đây là tiêu chí cao nhất, áp dụng cho các sản phẩm được nuôi trồng, thu hoạch, khai thác và chế biến hoàn toàn tại Việt Nam. Đồng thời là tiêu chí “đẹp” nhất nhưng cũng khó đạt nhất”, ông Minh nói.

Theo ông Minh, khó khăn lớn nhất hiện nay không nằm ở khâu quy định mà ở việc chứng minh tính xác thực của nguồn gốc hàng hóa. Đặc biệt với mặt hàng nông sản và nông sản chế biến, việc gom hàng từ nhiều vùng trồng, nhiều thương nhân khiến khâu xác minh trở nên phức tạp. “Chúng ta có thể có đủ chứng từ, đủ bản cam kết, nhưng nếu không xác minh được nguyên liệu, hệ thống vẫn không chấp nhận. Câu chuyện không chỉ là giấy tờ, mà là niềm tin và trách nhiệm pháp lý”, ông Minh nhấn mạnh.

Theo Thứ trưởng Hoàng Trung, thời gian tới, Bộ sẽ tiếp tục hoàn thiện dự thảo thông tư về truy xuất nguồn gốc, phối hợp Bộ Công an xây dựng nghị định liên quan và mở rộng thí điểm sang các ngành hàng chủ lực cho thấy lộ trình xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc quốc gia được thúc đẩy đồng bộ cả về pháp lý, công nghệ và tổ chức thực hiện.

Phát biểu trong Phiên họp thường kỳ tại Geneva, Thụy Sĩ của Ủy ban Quy tắc xuất xứ của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) được tổ chức trực tuyến vào trung tuần tháng 5 vừa qua, cập nhật việc phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực xuất xứ hàng hóa tại Việt Nam, bà Trịnh Thị Thu Hiền - Phó Cục trưởng Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) cũng khẳng định rõ, minh bạch xuất xứ hàng hóa là quan điểm nhất quán trong quản lý nhà nước tại Việt Nam. Đây là nỗ lực của Việt Nam trong duy trì tính minh bạch và bảo đảm thực thi hiệu quả các nghĩa vụ quốc tế, thúc đẩy tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, tăng cường phối hợp quốc tế về phòng, chống gian lận xuất xứ hàng hóa.

Hiện đã có 31/34 tỉnh, thành phố thực hiện phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực xuất xứ hàng hóa, giúp nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ công, tạo thuận lợi hơn cho cộng đồng doanh nghiệp xuất khẩu tại các địa phương.

Có thể bạn quan tâm

Là nguồn nguyên liệu chủ lực trong sản xuất E10, nhu cầu mía phục vụ sản xuất ethanol có thể đạt 14-20 triệu tấn mỗi năm.

E10 - Cơ hội đột phá với kinh tế sinh học

Từ ngày 1/6/2026, xăng E10 RON95-III (E10) được bán rộng rãi trên thị trường, thay thế dần xăng khoáng RON95-III. Động thái này được xem là bước tiến lớn trong lộ trình chuyển đổi sang nhiên liệu sạch và giảm phát thải.

Việc Chính phủ nâng ngưỡng doanh thu không chịu thuế lên 1 tỷ đồng là động lực khiến nhiều hộ kinh doanh quan tâm hơn tới việc quản lý doanh thu, vận hành kinh doanh bài bản. Ảnh: Thành Đạt

Thúc đẩy lòng trung thực trong thực hiện nghĩa vụ thuế

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 141/2026/NĐ-CP nâng ngưỡng doanh thu không thuộc diện chịu thuế từ 500 triệu đồng lên 1 tỷ đồng/năm là chính sách thể hiện rõ chủ trương đồng hành, hỗ trợ hộ kinh doanh phát triển ổn định, bền vững.

Ông Nguyễn Quang Vinh, Phó Chủ tịch VCCI, Chủ tịch VBCSD, Phó Trưởng ban chỉ đạo Chương trình CSI 2026 phát biểu tại Lễ phát động.

Nối dài hành trình đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp

Hành trình 11 năm không chỉ là dấu mốc về mặt thời gian, mà còn cho thấy sự kiên định của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Hội đồng Doanh nghiệp vì sự phát triển bền vững Việt Nam (VBCSD) trong việc đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp thúc đẩy mô hình tăng trưởng bền vững tại Việt Nam.

Các vụ việc phòng vệ thương mại do Hoa Kỳ khởi xướng đối với Việt Nam có phạm vi rất rộng, trải khắp các nhóm hàng hóa.

Thích ứng với các xu hướng phòng vệ thương mại mới

Thường xuyên tổ chức điều tra “kép”, điều tra “chùm” đối với hàng hóa Việt Nam, các vụ việc phòng vệ thương mại do Hoa Kỳ khởi xướng có phạm vi rất rộng, trải dài từ nhóm hàng nông sản đến công nghiệp chế biến, từ các mặt hàng có kim ngạch lớn đến các sản phẩm ngách.

Nhu cầu nhập nguyên liệu, thiết bị tăng mạnh phục vụ sản xuất và xuất khẩu là minh chứng rõ nét về niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp đối với một nền sản xuất bền vững.

Chỉ dấu tích cực về một chu kỳ phát triển mới

Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và bốn tháng đầu năm 2026 do Cục Thống kê, Bộ Tài chính công bố, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa trong bốn tháng đầu năm đạt 344,17 tỷ USD, tăng 24,2% so cùng kỳ năm trước.

Dù là ngành có nhiều đặc thù trong công tác quản lý, song cơ quan hải quan đang là đầu mối chủ trì rà soát toàn diện các văn bản quy phạm “xương sống” trình Bộ Tài chính trình Chính phủ ban hành nhằm loại bỏ tận gốc các điều kiện kinh doanh bất hợp lý.

Chuyển mạnh sang quản lý rủi ro

Triển khai Kết luận số 18-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng hai con số.

Tọa đàm “Xác lập thể chế đặc thù, vượt trội để phát triển Thủ đô trong kỷ nguyên mới”.

Trao quyền để đột phá

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, chiều 8/4, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, Quốc hội nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra dự án Luật Thủ đô (sửa đổi).

Chi phí đầu vào gia tăng sẽ lan tỏa sang nhiều nhóm hàng hóa và dịch vụ, làm gia tăng áp lực lạm phát, gia tăng gánh nặng trên vai người tiêu dùng. (Ảnh: Nguyễn Hùng)

Thách thức lớn với mục tiêu kiểm soát lạm phát

Trong trường hợp giá dầu tiếp tục leo thang do căng thẳng Trung Đông kéo dài, theo nhận định của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), yếu tố này có thể làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng thêm khoảng từ 1 đến 2 điểm %. Khi đó, việc kiểm soát lạm phát dưới mục tiêu 4,5% mà Quốc hội đề ra cho năm nay sẽ càng gia tăng tính thách thức.

Cửa hàng thí điểm kinh doanh xăng E10 tại phố Nghĩa Tân (Hà Nội) của Tổng công ty Dầu Việt Nam (PVOIL) đã thực hiện cung cấp xăng E10 từ tháng 8/2025. (Ảnh: Nguyễn Hùng)

Sẵn sàng sử dụng rộng rãi xăng E10 trên toàn quốc

Sau gần một thập kỷ triển khai xăng sinh học có tỷ lệ phối trộn 5% (E5), việc đưa xăng sinh học có tỷ lệ phối trộn 10% (E10) ra thị trường trên diện rộng từ đầu tháng 4 này là một quyết định chiến lược của Việt Nam, với kỳ vọng giảm phụ thuộc nhiên liệu hóa thạch, tăng sự chủ động nguồn cung xăng dầu.

Ngân sách nhà nước sẽ đóng vai trò “vốn mồi”, tập trung đầu tư vào các lĩnh vực có tính lan tỏa cao, tạo điều kiện để khu vực tư nhân tham gia đầu tư. (Trong ảnh: Đường dẫn nút giao IC5 vào cao tốc Cần Thơ-Cà Mau).

Áp lực lớn trong khai mở các kênh vốn đầu tư

Trong bối cảnh thị trường vốn trong nước còn hạn chế và nhu cầu đầu tư cho hạ tầng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh ngày càng lớn, chính sách tài chính được kỳ vọng đóng vai trò trung tâm trong việc khơi thông và phân bổ hiệu quả các dòng vốn đầu tư phát triển.

Toàn cảnh lễ phát động Diễn đàn “Năng lượng và Môi trường Thế giới - Việt Nam 2026” do VCCI tổ chức tại Hà Nội, ngày 20/3/2026. Ảnh: Nguyễn Hùng

Mở không gian kết nối, thúc đẩy hành động vì mục tiêu Net Zero

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu chuyển mạnh từ nguy cơ dài hạn thành sức ép hiện hữu đối với mọi nền kinh tế, mục tiêu tăng trưởng xanh, phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) không còn là lựa chọn, mà trở thành chuẩn mực phát triển mới, buộc các quốc gia phải tái cấu trúc mô hình tăng trưởng theo hướng xanh và bền vững.

Với việc chủ động lên kịch bản ứng phó kịp thời, hiện tại, Nhà nước và các doanh nghiệp đầu mối cơ bản bảo đảm nguồn cung ổn định, đáp ứng nhu cầu xã hội về xăng dầu. (Ảnh Văn Hiệp)

Chủ động củng cố an ninh năng lượng quốc gia

Trong mỗi cuộc khủng hoảng địa chính trị, thách thức không chỉ là giá dầu hay cước vận tải tăng cao, mà là năng lực thích ứng chiến lược trong một trật tự kinh tế toàn cầu ngày một bất định, khó lường.

chuyên gia kinh tế, Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Trí Long.

Kiềm chế lạm phát, giữ nhịp tăng trưởng

Với một nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam, trong bối cảnh xung đột Trung Đông, bài toán điều hành không chỉ là giữ ổn định giá nhiên liệu, mà còn là ngăn cú sốc bên ngoài lan thành mặt bằng giá mới trong nước; vừa kiềm chế lạm phát, vừa giữ nhịp sản xuất, kinh doanh.

Tuyến Metro số 5 được kỳ vọng hiện thực hóa mô hình đô thị TOD kết nối metro ở khu vực phía Tây Hà Nội.

Sửa đổi Luật Đất đai: Cần một cách làm toàn diện và khoa học

Trong bất cứ nền kinh tế nào, đất đai vẫn luôn là nguồn lực nền tảng, vừa là yếu tố sản xuất, vừa là tài sản tích lũy, vừa là công cụ tài chính. Với mục tiêu phát triển mới của đất nước, chúng ta cần có một chính sách đất đai mới. Và việc sửa đổi Luật Đất đai, một khi được tiến hành, phải đặt trong tầm nhìn đó.

Một trong những động lực quan trọng góp phần thực hiện hiệu quả mô hình tăng trưởng mới chính là sức mua tiêu dùng nội địa được tạo ra từ niềm tin vào hàng hóa trong nước. (Ảnh Thành đạt)

Đòi hỏi tất yếu để cải cách nền kinh tế

Chúng ta bước vào năm 2026 với nhiều thay đổi quan trọng cho 5 năm tới. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV đã kết thúc thành công. Đại hội đã giải quyết nhiều vấn đề thực tiễn mà cuộc sống cũng như nền kinh tế đặt ra.

Viettel không chỉ là nhà cung cấp hạ tầng viễn thông, mà còn là biểu tượng của năng lực phục vụ và độ tin cậy. (Ảnh Thành Đạt)

Hạ tầng mới của kỷ nguyên số


Hai thập niên qua chứng kiến sự trỗi dậy của “nền kinh tế chú ý”, trong đó sự chú ý của công chúng trở thành tài nguyên chiến lược.

Dự án cao tốc bắc - nam đoạn Quảng Ngãi - Hoài Nhơn đang được chủ đầu tư và các nhà thầu gấp rút hoàn thiện, quyết tâm đưa vào khai thác trước Tết Nguyên đán 2026. (Nguồn ảnh BQLDA II - Bộ Xây dựng)

Xuân công trường song hành cùng đất nước

Không chỉ những ngày cuối tháng Chạp Ất Tỵ mà xuyên suốt dịp Tết Bính Ngọ, trên những công trình trọng điểm quốc gia, hàng chục nghìn kỹ sư, công nhân bám trụ công trình với quyết tâm cao nhất để rút ngắn thời gian về đích.

Chiến dịch Không 1 mình do Liên minh Niềm tin số khởi xướng với mục tiêu nâng cao nhận thức, kỹ năng an toàn số của trẻ em, thanh thiếu niên trên không gian mạng.

Số hóa mới chỉ là bước đầu

Thách thức cốt lõi của xã hội số hiện nay có lẽ không nằm ở tốc độ công nghệ, mà ở khả năng duy trì và tái thiết niềm tin xã hội. Và trong tiến trình đó, “tính người” không phải là yếu tố bổ trợ, mà chính là biến số trung tâm quyết định chất lượng quản trị.

Doanh nhân Trần Văn Lê và sản phẩm quạt công nghiệp.

Kinh tế tư nhân và “ngọn gió” Đổi mới

Từ “ngọn gió” Đổi mới, nhiều người đã dấn thân khởi nghiệp, để rồi không chỉ vượt thoát đói nghèo mà còn tạo dựng nên những thương hiệu lớn. Khi đã đi qua một quãng đường dài, nội lực mạnh mẽ của họ không chỉ nằm ở những gì đã đạt được, mà còn ở khả năng luôn tự làm mới để tiếp tục bắt nhịp cùng thời cuộc.