Sẵn sàng sử dụng rộng rãi xăng E10 trên toàn quốc

Sau gần một thập kỷ triển khai xăng sinh học có tỷ lệ phối trộn 5% (E5), việc đưa xăng sinh học có tỷ lệ phối trộn 10% (E10) ra thị trường trên diện rộng từ đầu tháng 4 này là một quyết định chiến lược của Việt Nam, với kỳ vọng giảm phụ thuộc nhiên liệu hóa thạch, tăng sự chủ động nguồn cung xăng dầu.

Cửa hàng thí điểm kinh doanh xăng E10 tại phố Nghĩa Tân (Hà Nội) của Tổng công ty Dầu Việt Nam (PVOIL) đã thực hiện cung cấp xăng E10 từ tháng 8/2025. (Ảnh: Nguyễn Hùng)
Cửa hàng thí điểm kinh doanh xăng E10 tại phố Nghĩa Tân (Hà Nội) của Tổng công ty Dầu Việt Nam (PVOIL) đã thực hiện cung cấp xăng E10 từ tháng 8/2025. (Ảnh: Nguyễn Hùng)

Theo lộ trình đã được xác định tại Thông tư 50/2025/TT-Bộ Công thương quy định lộ trình áp dụng tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống tại Việt Nam, có hiệu lực từ 1/1/2026, từ ngày 1/6/2026, xăng không chì (theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hiện hành) phải phối trộn, pha chế thành xăng E10 để sử dụng cho các động cơ xăng trên toàn quốc. Bên cạnh đó, tiếp tục phối trộn, pha chế xăng E5 RON92 để sử dụng cho động cơ xăng đến hết ngày 31/12/2030.

Giảm phụ thuộc vào nguồn nhiên liệu hóa thạch

Tuy nhiên, trước những thách thức về an ninh năng lượng, biến động khó lường của thị trường năng lượng trên thế giới, trung tuần tháng 3 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã chính thức ban hành Chỉ thị số 09/CT-TTg về việc tăng cường thực hiện tiết kiệm năng lượng, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng và phát triển phương tiện giao thông điện. Theo đó, Bộ Công thương được giao nhiệm vụ đẩy mạnh sử dụng xăng E10, rà soát các điều kiện để triển khai lộ trình chuyển đổi ngay từ tháng 4 này thay vì theo đúng lộ trình đã đề ra trước đó, góp phần giảm 10% lượng tiêu thụ xăng khoáng.

Trong bối cảnh Việt Nam mới chỉ đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu xăng dầu trong nước, còn lại 70% phải nhập khẩu, lường trước được những bất cập khi phụ thuộc vào xăng khoáng và những biến động khó lường trên thị trường năng lượng thế giới, Chương trình phát triển nhiên liệu sinh học tại Việt Nam đã được khởi động từ năm 2012 với mục tiêu giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam Bùi Ngọc Bảo cho biết, sau hơn một thập kỷ triển khai, chỉ có một số ít nhà máy hoạt động ổn định.

Dẫn báo cáo của các thương nhân kinh doanh xăng dầu, ông Bùi Ngọc Bảo phân tích: Tổng lượng xăng tiêu thụ năm 2025 ở nước ta khoảng 11,37 triệu m3. Khi chuyển sang sử dụng xăng E10, thì lượng nhiên liệu hóa thạch được thay thế là rất đáng kể. Việc đẩy nhanh lộ trình sử dụng nhiên liệu sinh học (Ethanol) không chỉ giải quyết đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp, giảm ô nhiễm môi trường, mà còn góp phần giảm phụ thuộc

đáng kể vào nguồn xăng khoáng. Thậm chí, khi triển khai sớm lộ trình sử dụng xăng E10 trên toàn quốc còn góp phần hạ nhiệt giá xăng dầu trong bối cảnh cuộc chiến Trung Đông có nhiều diễn biến khó lường. Vì vậy, mọi quyết định, chương trình giúp giảm phụ thuộc vào nguồn nhiên liệu hóa thạch đều có ý nghĩa chiến lược, nhất là trong bối cảnh hiện nay.

Chia sẻ quan điểm này, ông Đỗ Văn Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam, đánh giá: Hiện nay Việt Nam vẫn đang phụ thuộc 32% nguồn thành phẩm xăng dầu nhập khẩu. Tính cả lượng dầu thô phải nhập, nguồn cung xăng dầu trong nước chỉ bảo đảm chưa đến 50%. Nếu Việt Nam chủ động nguồn cung Ethanol, rõ ràng sẽ giảm được áp lực trong vấn đề nhập khẩu dầu thô cũng như sản phẩm xăng dầu thành phẩm.

“Việc càng sớm càng tốt đưa xăng E10 vào thị trường sẽ giúp giảm áp lực do đã thay thế được 10% xăng khoáng”, ông Đỗ Văn Tuấn nhấn mạnh.

Việt Nam đã có đầy đủ đánh giá về chất lượng và khả năng sử dụng của xăng sinh học, do đó việc triển khai E10 là cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh nguồn cung xăng dầu hóa thạch ngày càng chịu áp lực lớn. Việc này vừa đáp ứng mục tiêu môi trường, vừa góp phần giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch”.

Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam Bùi Ngọc Bảo

Bảo đảm chất lượng, ổn định nguồn cung

Sống trên phố Nghĩa Tân, một trong ba điểm Tổng công ty Dầu Việt Nam (PVOIL) triển khai thí điểm kinh doanh xăng E10 tại Hà Nội, anh Thân Mạnh Tùng cho biết, đã chuyển sang sử dụng loại nhiên liệu này từ cuối năm 2025. “Làm nghề sửa chữa xe máy, tôi sử dụng xăng E5 và gần đây là E10 như một trải nghiệm. Thực tế, rất khó để nêu ra những sự khác biệt khi sử dụng, ngoại trừ là giá thành xăng sinh học thấp hơn đáng kể so xăng khoáng truyền thống”, anh Tùng cho biết.

Tại Thành phố Hồ Chí Minh, từ tháng 8/2025, Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) cũng đã thí điểm kinh doanh xăng E5 và E10. Ông Hồ Ngọc Linh, Phó Trưởng phòng Kỹ thuật xăng dầu, Petrolimex, cho biết: Trước đây, việc tiêu thụ xăng phối trộn nhiên liệu sinh học khó triển khai chủ yếu do vấp phải rào cản tâm lý về vấn đề chất lượng.

Về vấn đề này, Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam cho biết: Khi đưa xăng E5 RON92 thay thế xăng khoáng RON92, toàn bộ hệ thống chính trị đã cùng tham gia, với sự phối hợp bài bản và đồng bộ. Chủ trương đưa xăng E5 vào thị trường được triển khai như một giải pháp mang tính hành chính, bắt đầu từ bảy địa phương lớn trước khi mở rộng trên phạm vi cả nước, tạo nên một chiến dịch có quy mô rộng khắp. Khi triển khai sử dụng E10 theo quy định, thị trường sẽ không còn xăng khoáng thuần túy, tạo điều kiện thuận lợi hơn để E10 đi vào thực tế.

Mặt khác, theo ông Hồ Ngọc Linh, tính đến thời điểm hiện tại, Petrolimex và các cơ quan quản lý, giám sát thị trường chưa ghi nhận sự cố hay phản ánh tiêu cực nào từ người tiêu dùng, liên quan chất lượng xăng E5 và E10 do Petrolimex cung cấp.

Tự tin với vai trò là một trong những doanh nghiệp tiên phong và chiếm thị phần lớn trên thị trường, ông Hồ Ngọc Linh khẳng định: Với việc đầu tư và vận hành đồng bộ hệ thống quản lý chất lượng nghiêm ngặt, Petrolimex bảo đảm xăng E10 cung ứng ra thị trường đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn của Nhà nước, đồng thời, với những bằng chứng thực nghiệm khoa học cho thấy, xăng E10 không gây ảnh hưởng đến động cơ phương tiện.

Không chỉ Petrolimex, một số doanh nghiệp đầu mối lớn đã triển khai kinh doanh xăng E10 từ ngày 1/8/2025. Thậm chí, PVOIL đã hoàn tất ký kết nhiều hợp đồng nhập khẩu Ethanol, chủ động phối trộn nhằm đưa nhiên liệu này phủ sóng rộng rãi trên thị trường nội địa ngay từ tháng 3 vừa qua. PVOIL hiện đang đẩy mạnh cung ứng xăng E10 ra thị trường với sản lượng lớn.

Là đơn vị vận hành Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, Công ty cổ phần Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) cũng đã chủ động xây dựng các kịch bản vận hành bảo đảm nguồn cung xăng sinh học cho thị trường trong nước. Theo Tổng Giám đốc Nguyễn Việt Thắng, trong quý I/2026, BSR đã vận hành với công suất quy đổi trung bình trên 120%. Sản lượng sản xuất đạt khoảng 2,3 triệu tấn, đưa ra thị trường hơn 2 triệu tấn, vượt kế hoạch đề ra. Riêng với nhiên liệu sinh học, nhà máy đã khởi động lại sản xuất nhiên liệu sinh học từ đầu năm, hiện đạt khoảng 75% công suất, sẽ nâng lên 100% trong thời gian tới để phục vụ pha trộn xăng sinh học. Các hệ thống pha chế E100, E10 cơ bản hoàn thiện, sẵn sàng đưa vào vận hành ■

Cửa hàng thí điểm kinh doanh xăng E10 tại phố Nghĩa Tân (Hà Nội) của Tổng công ty Dầu Việt Nam (PVOIL) đã thực hiện cung cấp xăng E10 từ tháng 8/2025. (Ảnh Nguyễn Hùng)

Có thể bạn quan tâm

Các vụ việc phòng vệ thương mại do Hoa Kỳ khởi xướng đối với Việt Nam có phạm vi rất rộng, trải khắp các nhóm hàng hóa.

Thích ứng với các xu hướng phòng vệ thương mại mới

Thường xuyên tổ chức điều tra “kép”, điều tra “chùm” đối với hàng hóa Việt Nam, các vụ việc phòng vệ thương mại do Hoa Kỳ khởi xướng có phạm vi rất rộng, trải dài từ nhóm hàng nông sản đến công nghiệp chế biến, từ các mặt hàng có kim ngạch lớn đến các sản phẩm ngách.

Nhu cầu nhập nguyên liệu, thiết bị tăng mạnh phục vụ sản xuất và xuất khẩu là minh chứng rõ nét về niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp đối với một nền sản xuất bền vững.

Chỉ dấu tích cực về một chu kỳ phát triển mới

Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và bốn tháng đầu năm 2026 do Cục Thống kê, Bộ Tài chính công bố, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa trong bốn tháng đầu năm đạt 344,17 tỷ USD, tăng 24,2% so cùng kỳ năm trước.

Dù là ngành có nhiều đặc thù trong công tác quản lý, song cơ quan hải quan đang là đầu mối chủ trì rà soát toàn diện các văn bản quy phạm “xương sống” trình Bộ Tài chính trình Chính phủ ban hành nhằm loại bỏ tận gốc các điều kiện kinh doanh bất hợp lý.

Chuyển mạnh sang quản lý rủi ro

Triển khai Kết luận số 18-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng hai con số.

Tọa đàm “Xác lập thể chế đặc thù, vượt trội để phát triển Thủ đô trong kỷ nguyên mới”.

Trao quyền để đột phá

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, chiều 8/4, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, Quốc hội nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra dự án Luật Thủ đô (sửa đổi).

Chi phí đầu vào gia tăng sẽ lan tỏa sang nhiều nhóm hàng hóa và dịch vụ, làm gia tăng áp lực lạm phát, gia tăng gánh nặng trên vai người tiêu dùng. (Ảnh: Nguyễn Hùng)

Thách thức lớn với mục tiêu kiểm soát lạm phát

Trong trường hợp giá dầu tiếp tục leo thang do căng thẳng Trung Đông kéo dài, theo nhận định của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), yếu tố này có thể làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng thêm khoảng từ 1 đến 2 điểm %. Khi đó, việc kiểm soát lạm phát dưới mục tiêu 4,5% mà Quốc hội đề ra cho năm nay sẽ càng gia tăng tính thách thức.

Ngân sách nhà nước sẽ đóng vai trò “vốn mồi”, tập trung đầu tư vào các lĩnh vực có tính lan tỏa cao, tạo điều kiện để khu vực tư nhân tham gia đầu tư. (Trong ảnh: Đường dẫn nút giao IC5 vào cao tốc Cần Thơ-Cà Mau).

Áp lực lớn trong khai mở các kênh vốn đầu tư

Trong bối cảnh thị trường vốn trong nước còn hạn chế và nhu cầu đầu tư cho hạ tầng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh ngày càng lớn, chính sách tài chính được kỳ vọng đóng vai trò trung tâm trong việc khơi thông và phân bổ hiệu quả các dòng vốn đầu tư phát triển.

Toàn cảnh lễ phát động Diễn đàn “Năng lượng và Môi trường Thế giới - Việt Nam 2026” do VCCI tổ chức tại Hà Nội, ngày 20/3/2026. Ảnh: Nguyễn Hùng

Mở không gian kết nối, thúc đẩy hành động vì mục tiêu Net Zero

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu chuyển mạnh từ nguy cơ dài hạn thành sức ép hiện hữu đối với mọi nền kinh tế, mục tiêu tăng trưởng xanh, phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) không còn là lựa chọn, mà trở thành chuẩn mực phát triển mới, buộc các quốc gia phải tái cấu trúc mô hình tăng trưởng theo hướng xanh và bền vững.

Với việc chủ động lên kịch bản ứng phó kịp thời, hiện tại, Nhà nước và các doanh nghiệp đầu mối cơ bản bảo đảm nguồn cung ổn định, đáp ứng nhu cầu xã hội về xăng dầu. (Ảnh Văn Hiệp)

Chủ động củng cố an ninh năng lượng quốc gia

Trong mỗi cuộc khủng hoảng địa chính trị, thách thức không chỉ là giá dầu hay cước vận tải tăng cao, mà là năng lực thích ứng chiến lược trong một trật tự kinh tế toàn cầu ngày một bất định, khó lường.

chuyên gia kinh tế, Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Trí Long.

Kiềm chế lạm phát, giữ nhịp tăng trưởng

Với một nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam, trong bối cảnh xung đột Trung Đông, bài toán điều hành không chỉ là giữ ổn định giá nhiên liệu, mà còn là ngăn cú sốc bên ngoài lan thành mặt bằng giá mới trong nước; vừa kiềm chế lạm phát, vừa giữ nhịp sản xuất, kinh doanh.

Tuyến Metro số 5 được kỳ vọng hiện thực hóa mô hình đô thị TOD kết nối metro ở khu vực phía Tây Hà Nội.

Sửa đổi Luật Đất đai: Cần một cách làm toàn diện và khoa học

Trong bất cứ nền kinh tế nào, đất đai vẫn luôn là nguồn lực nền tảng, vừa là yếu tố sản xuất, vừa là tài sản tích lũy, vừa là công cụ tài chính. Với mục tiêu phát triển mới của đất nước, chúng ta cần có một chính sách đất đai mới. Và việc sửa đổi Luật Đất đai, một khi được tiến hành, phải đặt trong tầm nhìn đó.

Một trong những động lực quan trọng góp phần thực hiện hiệu quả mô hình tăng trưởng mới chính là sức mua tiêu dùng nội địa được tạo ra từ niềm tin vào hàng hóa trong nước. (Ảnh Thành đạt)

Đòi hỏi tất yếu để cải cách nền kinh tế

Chúng ta bước vào năm 2026 với nhiều thay đổi quan trọng cho 5 năm tới. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV đã kết thúc thành công. Đại hội đã giải quyết nhiều vấn đề thực tiễn mà cuộc sống cũng như nền kinh tế đặt ra.

Viettel không chỉ là nhà cung cấp hạ tầng viễn thông, mà còn là biểu tượng của năng lực phục vụ và độ tin cậy. (Ảnh Thành Đạt)

Hạ tầng mới của kỷ nguyên số


Hai thập niên qua chứng kiến sự trỗi dậy của “nền kinh tế chú ý”, trong đó sự chú ý của công chúng trở thành tài nguyên chiến lược.

Dự án cao tốc bắc - nam đoạn Quảng Ngãi - Hoài Nhơn đang được chủ đầu tư và các nhà thầu gấp rút hoàn thiện, quyết tâm đưa vào khai thác trước Tết Nguyên đán 2026. (Nguồn ảnh BQLDA II - Bộ Xây dựng)

Xuân công trường song hành cùng đất nước

Không chỉ những ngày cuối tháng Chạp Ất Tỵ mà xuyên suốt dịp Tết Bính Ngọ, trên những công trình trọng điểm quốc gia, hàng chục nghìn kỹ sư, công nhân bám trụ công trình với quyết tâm cao nhất để rút ngắn thời gian về đích.

Chiến dịch Không 1 mình do Liên minh Niềm tin số khởi xướng với mục tiêu nâng cao nhận thức, kỹ năng an toàn số của trẻ em, thanh thiếu niên trên không gian mạng.

Số hóa mới chỉ là bước đầu

Thách thức cốt lõi của xã hội số hiện nay có lẽ không nằm ở tốc độ công nghệ, mà ở khả năng duy trì và tái thiết niềm tin xã hội. Và trong tiến trình đó, “tính người” không phải là yếu tố bổ trợ, mà chính là biến số trung tâm quyết định chất lượng quản trị.

Doanh nhân Trần Văn Lê và sản phẩm quạt công nghiệp.

Kinh tế tư nhân và “ngọn gió” Đổi mới

Từ “ngọn gió” Đổi mới, nhiều người đã dấn thân khởi nghiệp, để rồi không chỉ vượt thoát đói nghèo mà còn tạo dựng nên những thương hiệu lớn. Khi đã đi qua một quãng đường dài, nội lực mạnh mẽ của họ không chỉ nằm ở những gì đã đạt được, mà còn ở khả năng luôn tự làm mới để tiếp tục bắt nhịp cùng thời cuộc.

“Chuyến tàu Hạnh phúc” chính thức xuất phát từ Ga Hà Nội vào sáng 2/2. (Ảnh Thành Đạt)

Hạnh phúc nối dài theo những chuyến tàu Nhân Dân

Với hình ảnh biểu trưng logo Nhân Dân, “Chuyến tàu Hạnh phúc” kiêu hãnh tiến về phía trước không chỉ chở khách, mà còn chở theo niềm tin, hy vọng và khát vọng về một Việt Nam thịnh vượng, với hạnh phúc đong đầy trong kỷ nguyên mới.

Tách bạch việc sử dụng nguồn lực nhà nước trong cung cấp dịch vụ công, thực hiện nhiệm vụ chính trị với các hoạt động kinh doanh sẽ tạo cơ sở để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước. (Ảnh Khiếu Minh)

Bước chuyển trong tư duy quản lý doanh nghiệp nhà nước

Sự thay đổi tư duy quản lý khi chuyển từ “bảo toàn vốn” sang chấp nhận rủi ro có kiểm soát; từ can thiệp hành chính sang quản trị theo thông lệ thị trường; và từ quản lý theo từng dự án cụ thể sang quản lý theo mục tiêu tổng quát,