Cơ giới hóa, chuyển đổi số là trụ cột sản xuất than bền vững

Do yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, năng suất và hiệu quả, Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam (TKV) nỗ lực hiện đại hóa công nghệ, ứng dụng cơ giới hóa, chuyển đổi số trong khai thác than hầm lò. Ngành than hướng tới mục tiêu nâng cao năng lực, đổi mới phương thức quản trị và phát triển bền vững.

Lãnh đạo Công ty Than Thống Nhất kiểm tra sản xuất, động viên người lao động, thợ mỏ khai thác than trong hầm lò
Lãnh đạo Công ty Than Thống Nhất kiểm tra sản xuất, động viên người lao động, thợ mỏ khai thác than trong hầm lò

Giai đoạn 2026-2030, Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam tăng nhanh tỷ trọng than khai thác cơ giới hóa, đồng thời áp dụng lò chợ tự động hóa, thông minh hóa theo hướng hiện đại, an toàn và hiệu quả.

“Văn hóa số" trong dây chuyền sản xuất

Trong nhiều năm trở lại đây, Công ty Than Thống Nhất bắt nhịp cách mạng công nghệ, trở thành một trong những đơn vị kiểu mẫu của Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam về ứng dụng công nghệ số trong khai thác hầm lò.

Công ty thành lập Ban Chỉ đạo chuyển đổi số, xác định những khâu, quy trình có thể số hóa, tự động hóa một cách rõ ràng, từng bước hình thành “văn hóa số” trong các khâu của dây chuyền sản xuất.

Trong năm 2025, công ty lắp đặt và đưa vào sử dụng nhiều hệ thống thiết bị hiện đại, ứng dụng công nghệ giám sát tại Trung tâm điều hành sản xuất tập trung, có thể quan sát toàn bộ hệ thống khai thác, vận tải, thông gió, thoát nước,… Hệ thống camera hoạt động hiệu quả tại độ sâu âm 140m.

Ông Vương Minh Thu, Giám đốc Công ty Than Thống Nhất cho biết, doanh nghiệp đang tăng tốc chuyển đổi số trên các lĩnh vực quản lý và điều hành sản xuất, tận dụng sức mạnh của công nghệ số và dữ liệu số nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, năng suất lao động và chất lượng quản trị.

Trong thời gian tới, công ty tiếp tục nghiên cứu, đầu tư hệ thống cơ giới hóa đào lò, thiết bị hiện đại, từng bước tự động hóa các khâu khai thác, vận tải tại những diện sản xuất đủ điều kiện. Đồng thời chú trọng đào tạo, tuyển dụng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu vận hành thiết bị và quản trị doanh nghiệp trong môi trường số.

“Năm 2026, trong bối cảnh nền kinh tế thế giới có nhiều biến động và điều kiện khai thác ngày càng khó khăn, công ty tiếp tục xác định an toàn vệ sinh lao động là nhiệm vụ hàng đầu, kiểm soát chặt các nguy cơ sự cố trong mỏ. Song song với đó, việc áp dụng cơ giới hóa, tự động hóa và chuyển đổi số tiếp tục được gắn chặt với mục tiêu cải thiện điều kiện làm việc, giảm lao động nặng nhọc, từng bước nâng cao trình độ, kỹ năng người lao động. Với định hướng rõ ràng, lộ trình cụ thể, việc ứng dụng cơ giới hóa, tự động hóa và chuyển đổi số đã giúp đơn vị có bước chuyển mạnh mẽ, toàn diện trong hoạt động sản xuất, kinh doanh”, ông Vương Minh Thu nhấn mạnh.

Thời gian qua, Công ty Than Khe Chàm dành hơn 200 tỷ đồng đầu tư Hệ thống giám sát và điều khiển tự động hóa mỏ Khe Chàm III, gồm hơn 170 camera, 70km cáp quang và tín hiệu, tạo thành mạng điều khiển khép kín kết nối toàn bộ khu vực khai thác, thông gió, trạm điện và trạm khí nén, góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, điều khiển tự động các khâu sản xuất của công ty bằng công nghệ, hướng đến mục tiêu xây dựng mỏ hầm lò thông minh, tự động hóa cao. Dự án không chỉ giúp tự động hóa quy trình sản xuất, mà còn mở ra lộ trình xây dựng “mỏ thông minh”, quản lý hoạt động và tối ưu bằng công nghệ số.

Xây dựng "mỏ thông minh"

Nhiều đơn vị trong ngành than ứng dụng những thiết bị cơ giới hiện đại như máy đào lò Combai EBH-45, máy xúc ZWY-60/22L, ZCY-45CG, giúp đẩy nhanh tiến độ đào lò, nâng cao năng suất và hiệu quả lao động. Tiến trình đổi mới của các đơn vị bắt đầu từ cơ giới hóa, bước chuyển quan trọng giúp giảm sức lao động thủ công, tăng năng suất và bảo đảm an toàn. Trong khai thác, hệ thống máy khấu than công suất lớn kết hợp giàn chống thủy lực đồng bộ giúp nâng cao độ ổn định của gương lò, giảm rủi ro sập vách và tăng năng suất rõ rệt.

anh-man-hinh-2026-03-17-luc-054354.png
Cán bộ kỹ thuật Công ty Than Khe Chàm vận hành thử nghiệm máy đào lò Combai.

Đến nay, Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam đưa vào vận hành 14 dây chuyền Combai EBH-45, cùng với đó là 26 dây chuyền bán cơ giới hóa; gần 100% sản lượng than vận tải qua giếng nghiêng đã được chuyển sang băng tải tự động. Khoảng 70% mỏ hầm lò tại Quảng Ninh tự động hóa hệ thống điện, 60% mỏ có trạm bơm và quạt gió giám sát từ xa.

Trong giai đoạn 2020- 2025, hằng năm Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam khai thác đạt 37-40 triệu tấn, trong đó sản lượng than khai thác hầm lò đạt 21-27 triệu tấn, chiếm 60-70% tổng sản lượng và khẳng định vai trò chủ đạo trong cơ cấu sản xuất than của Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam.

Căn cứ Chiến lược phát triển Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045; Đề án chuyển đổi số của Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam đến năm 2030,… Tập đoàn tiếp tục duy trì các lò chợ cơ giới hóa đồng bộ hiện có (không áp dụng điều khiển thông minh hóa, tự động hóa), năm 2026 dự kiến đạt sản lượng 4,96 triệu tấn (chiếm 17,3%), sẽ tăng lên 7,13 triệu tấn vào năm 2030 (chiếm 22,2%); số lò chợ tương ứng tăng từ 17 lên 20.

Đồng thời, mở rộng áp dụng công nghệ cơ giới hóa đồng bộ hạng nhẹ, sản lượng khai thác bằng công nghệ cơ giới hóa đồng bộ năm 2026 dự kiến từ mức gần 5 triệu tấn (17,3%), tăng lên gần 11,1 triệu tấn vào năm 2030 (chiếm 34,4%), số lò chợ tăng từ 22 lên 35; trong đó, lò chợ cơ giới hóa đồng bộ điều khiển thông minh, tự động hóa có mức tăng trưởng đáng kể, từ 0 tấn năm 2026 lên gần 4 triệu tấn năm 2030 (chiếm 12,3%), với số lượng lò chợ tăng từ 5 lên 15.

“So với giai đoạn trước, định hướng phát triển công nghệ giai đoạn 2026-2030 của Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam thể hiện sự chuyển dịch rõ rệt theo hướng tăng nhanh tỷ trọng than khai thác cơ giới hóa. Quy mô và mức độ đa dạng của các mô hình cơ giới hóa được mở rộng, đồng thời bắt đầu áp dụng lò chợ tự động hóa, thông minh hóa nhằm chuyển đổi công nghệ theo hướng hiện đại, an toàn và hiệu quả hơn.

Ông Vũ Anh Tuấn, Tổng Giám đốc

Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam

Ông Vũ Anh Tuấn, Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam đánh giá: “So với giai đoạn trước, định hướng phát triển công nghệ giai đoạn 2026-2030 của Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam thể hiện sự chuyển dịch rõ rệt theo hướng tăng nhanh tỷ trọng than khai thác cơ giới hóa. Quy mô và mức độ đa dạng của các mô hình cơ giới hóa được mở rộng, đồng thời bắt đầu áp dụng lò chợ tự động hóa, thông minh hóa nhằm chuyển đổi công nghệ theo hướng hiện đại, an toàn và hiệu quả hơn.

Đối với mô hình lò chợ thông minh, trong thời gian tới, Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam sẽ nghiên cứu thí điểm mô hình này cho một số dây chuyền đầu tư mới theo hướng đồng bộ; ngoài ra cũng thử nghiệm cải tạo dây chuyền hiện có theo phương án đầu tư bổ sung để theo dõi và đánh giá kết quả trước khi nhân rộng”.

Những đổi thay tích cực ở nhiều đơn vị khai thác than thời gian qua chính là điển hình cho chiến lược hiện đại hóa toàn diện mà Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam đang triển khai tại các mỏ hầm lò. Trên toàn hệ thống, Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam coi cơ giới hóa, chuyển đổi số là trụ cột trong mô hình sản xuất hiệu quả, an toàn và bền vững.

Có thể bạn quan tâm

Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ theo mô hình kinh tế xanh. (Ảnh: CAO TÂN)

Kinh tế tuần hoàn, động lực chuyển đổi xanh

Trước yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng xanh và giảm phát thải khí nhà kính, kinh tế tuần hoàn đang trở thành một định hướng phát triển có ý nghĩa chiến lược đối với Thành phố Hồ Chí Minh. Không chỉ là giải pháp quản lý môi trường, kinh tế tuần hoàn ngày càng trở thành một yếu tố quan trọng của đổi mới mô hình tăng trưởng đổi xanh.

Bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê, Bộ Tài chính phát biểu tại cuộc họp. (Ảnh: PV)

Quý III/2026, chỉ số giá tiêu dùng CPI tăng 4,80%

Trong 9 tháng năm 2026, thị trường hàng hóa thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, làm gia tăng rủi ro đối với nguồn cung năng lượng và hoạt động vận tải quốc tế. Trong nước, Chính phủ đã triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Nhà máy điện gió bờ tại Gia Lai. (Ảnh: T. THẢO)

Hoàn thiện chính sách cho năng lượng xanh ngoài khơi

Các nguồn năng lượng xanh như điện mặt trời, điện gió, hydrogen… đang ngày càng được quan tâm nghiên cứu, phát triển. Tại Việt Nam, năng lượng xanh được đánh giá có tiềm năng rất lớn, nhưng chưa được “đánh thức”, nhất là điện gió ngoài khơi do còn nhiều “rào cản” từ chính sách, vốn, nhân lực, cơ sở khoa học, công nghệ…

Chế biến thủy sản xuất khẩu tại doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh An Giang. (Ảnh: ĐỨC AN)

Giữ thị phần nông sản Việt Nam tại ASEAN

ASEAN là thị trường có vị trí thuận lợi và còn nhiều dư địa cho xuất khẩu nông sản của Việt Nam. Tuy nhiên, khi các nước trong khu vực nâng cao tiêu chuẩn nhập khẩu thì doanh nghiệp Việt Nam cần đáp ứng tốt hơn yêu cầu về chất lượng, truy xuất, chứng nhận hàng hóa và tham gia sâu hơn chuỗi giá trị khu vực để giữ vững thị phần.

[Infographic] Chứng khoán tuần 28/9-2/10/2026: Thị trường có tuần thứ 2 liên tiếp giảm điểm, khối ngoại tiếp tục bán ròng

[Infographic] Chứng khoán tuần 28/9-2/10/2026: Thị trường có tuần thứ 2 liên tiếp giảm điểm, khối ngoại tiếp tục bán ròng

Thị trường tuần 28/9-2/10/2026 có 5 phiên liên tiếp giảm điểm với áp lực bán tăng mạnh trong phiên cuối tuần. Kết tuần VN-Index giảm 2,66% về mức 1.737,71 điểm, trên hỗ trợ tâm lý 1.700 điểm. Độ rộng thị trường trong tuần tiêu cực, hầu hết các nhóm ngành đều chịu áp lực điều chỉnh. 

Hoạt động nghiên cứu khoa học tại Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh CTV)

Triển khai cơ chế đặc thù xử lý vi phạm pháp luật về kinh tế, khoa học công nghệ

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc vừa ký Quyết định 1916/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Nghị quyết 37/2026/QH16 ngày 24/8/2026 của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù xử lý vi phạm pháp luật liên quan kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. 

Toàn cảnh Hội nghị đại biểu người lao động lần thứ VII năm 2026 của EVNNPC. (Ảnh: EVNNPC cung cấp)

EVNNPC phát huy dân chủ, củng cố đồng thuận, tạo động lực phát triển

Tổng công ty Điện lực miền bắc (EVNNPC) vừa tổ chức Hội nghị đại biểu người lao động lần thứ VII năm 2026 để đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Hội nghị người lao động lần thứ VI và hoạt động sản xuất kinh doanh giai đoạn 2024-2025, phát huy dân chủ, tăng cường đối thoại, thống nhất mục tiêu, nhiệm vụ giai đoạn 2026-2027.

Một dự án hạ tầng lớn có thể gồm nhiều lĩnh vực chuyên sâu, từ thiết kế, xây dựng, cơ điện đến ITS (giao thông thông minh), chiếu sáng, an toàn giao thông và các hệ thống công nghệ. (Ảnh: TRANG LIÊN)

Chọn doanh nghiệp đủ năng lực đảm nhận vai trò quản trị các dự án lớn

Không phải doanh nghiệp nào cũng đủ năng lực để đảm nhận vai trò quản trị các dự án lớn. Nhưng khi đã lựa chọn được doanh nghiệp đủ năng lực, cần trao quyền chủ động tương xứng với trách nhiệm được giao. Sàng lọc đúng năng lực, trao đủ quyền tổ chức và quy trách nhiệm đến cùng là cơ sở để hình thành những tổng thầu mạnh.

Cải cách hành chính được Tây Ninh xác định là nền tảng nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp. (Ảnh: THANH PHONG)

Tây Ninh tạo dư địa tăng trưởng từ ba khâu đột phá

Nhiệm kỳ 2026-2030, Tây Ninh xác định cải cách hành chính, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, cùng việc huy động nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng là ba khâu đột phá. Đây được xem là nền tảng để khơi thông nguồn lực, nâng cao năng suất, mở rộng không gian kinh tế và tạo thêm dư địa tăng trưởng cho Tây Ninh.

Tọa đàm với chủ đề “Từ “Made in Vietnam” đến “Made in CPTPP”: Tái cấu trúc nguồn cung để đáp ứng xuất xứ và tăng sức chống chịu”. (Ảnh: KIM DUNG)

Tái cấu trúc nguồn cung, bảo đảm yêu cầu xuất xứ

Thực thi CPTPP mở thêm thị trường cho hàng Việt nhưng đặt ra yêu cầu về nguồn nguyên liệu và xuất xứ. Khi lợi thế thuế quan gắn chặt với khả năng đáp ứng quy tắc xuất xứ, tái cấu trúc nguồn cung, kết nối với các đối tác trong CPTPP và nâng sức chống chịu của chuỗi sản xuất đang trở thành yêu cầu thiết thực đối với doanh nghiệp.