Giữ dư địa điều hành trước sức ép tỷ giá

Việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) tăng lãi suất đã đặt thêm sức ép lên tỷ giá, chi phí vốn và khả năng giảm lãi suất trong nước. Tuy nhiên, nguồn cung ngoại tệ, chênh lệch lãi suất VND-USD cùng sự chủ động điều hành vẫn tạo những điểm tựa quan trọng, giúp ổn định tỷ giá.

Theo Ngân hàng UOB Việt Nam, từ đầu năm đến nay, VND đã tăng giá khoảng 1% so với USD. (Trong ảnh: Giao dịch tại chi nhánh ngân hàng SeABank. Ảnh: Huy Hưng)
Theo Ngân hàng UOB Việt Nam, từ đầu năm đến nay, VND đã tăng giá khoảng 1% so với USD. (Trong ảnh: Giao dịch tại chi nhánh ngân hàng SeABank. Ảnh: Huy Hưng)

Theo một số chuyên gia kinh tế, nếu FED tăng lãi suất mà Việt Nam tiếp tục duy trì định hướng chính sách tiền tệ như hiện nay, thì bài toán đặt ra sẽ là cân bằng giữa mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng, kiểm soát lạm phát và ổn định tỷ giá. Trong bối cảnh đó, điều hành chính sách tiền tệ cần tiếp tục linh hoạt, phối hợp nhiều công cụ nhằm hạn chế các tác động bất lợi từ bên ngoài.

Nhận diện sức ép từ bên ngoài

Sau quyết định tăng lãi suất thêm 0,25% (lên 3,75-4%) của FED vào giữa tháng 9/2026, tỷ giá USD/VND và chỉ số USD Index trong nước và quốc tế đã ghi nhận áp lực tăng rõ rệt. Tại Việt Nam đến thời điểm ngày 2/10, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 25.636 đồng/USD, tăng 12 đồng so phiên trước; trong khi giá mua-bán USD tại các ngân hàng thương mại cũng được điều chỉnh tăng-giảm với biên độ phổ biến từ 10-50 đồng so phiên trước. Những chuyển động này cho thấy thị trường ngoại hối trong nước tiếp tục chịu ảnh hưởng từ diễn biến chính sách tiền tệ quốc tế.

Dù vậy, Tiến sĩ Nguyễn Đức Độ, chuyên gia kinh tế-tài chính cho rằng, chưa nên xem quyết định của FED là dấu hiệu khởi đầu một chu kỳ thắt chặt kéo dài. Trong điều kiện lạm phát tại Mỹ vẫn ở mức tương đối cao, một phần do giá năng lượng, việc tăng lãi suất có thể chủ yếu mang tính phòng ngừa. Ở góc nhìn thận trọng hơn, ông Suan Teck Kin, Giám đốc Khối Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB Singapore, dự báo FED có thể tăng thêm hai lần, vào tháng 12/2026 và đầu năm 2027, mỗi lần khoảng 0,25 điểm phần trăm. Như vậy, điều cần theo dõi là khả năng chi phí vốn quốc tế duy trì ở mức cao lâu hơn, thay vì chỉ tập trung vào mức tăng vừa công bố.

Theo ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính-Ngân hàng, Trường đại học Nguyễn Trãi, tác động tới Việt Nam có thể đi qua bốn kênh: Thương mại, tỷ giá, dòng vốn và chi phí huy động quốc tế. Lãi suất USD tăng khiến việc vay ngoại tệ, huy động vốn quốc tế có thể đắt đỏ hơn; đồng thời, lợi suất tài sản bằng USD cao hơn khiến dòng vốn thận trọng hơn với các thị trường mới nổi.

Đối với doanh nghiệp, sức ép thể hiện ở cả chi phí đầu vào và đầu ra sản phẩm. Tiến sĩ Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam phân tích: USD mạnh lên có thể làm tăng chi phí nhập khẩu xăng dầu, máy móc, linh kiện, qua đó tạo áp lực lạm phát nhập khẩu. Chênh lệch lãi suất giữa VND và USD cũng khiến dư địa giảm lãi suất trong nước thêm hạn hẹp. Nhóm dễ chịu ảnh hưởng nhất là doanh nghiệp mua hoặc vay USD để nhập khẩu, nhưng bán hàng trong nước, thu về VND. Với lô hàng trị giá 1 triệu USD, nếu tỷ giá tăng 2% từ khi ký hợp đồng đến lúc thanh toán, chi phí quy đổi phát sinh tương đương 20.000 USD tính theo VND. Khoản tăng này trực tiếp thu hẹp biên lợi nhuận hoặc tạo sức ép điều chỉnh giá bán.

Trong khi đó, doanh nghiệp có nguồn thu xuất khẩu bằng USD có khả năng cân đối một phần nghĩa vụ ngoại tệ. Từ thực tế ngành điều, ông Tạ Quang Huyên, Tổng Giám đốc Công ty Hoàng Sơn 1 cho biết, nguyên liệu nhập khẩu và thành phẩm xuất khẩu đều được thanh toán bằng USD. Nếu cần 10 triệu USD nhập khẩu nhưng đã thu về 8 triệu USD xuất khẩu, phần chênh lệch chịu rủi ro biến động còn 2 triệu USD. Tuy nhiên, lợi thế quy đổi không bảo đảm doanh nghiệp xuất khẩu sẽ hưởng lợi toàn diện.

Củng cố điểm tựa điều hành

Sức ép bên ngoài là hiện hữu, song diễn biến USD/VND còn phụ thuộc tổng thể cung-cầu ngoại tệ trong nước. Theo ông Đinh Đức Quang, Giám đốc Khối Kinh doanh tiền tệ, Ngân hàng UOB Việt Nam, từ đầu năm 2026, VND đã tăng giá khoảng 1% so USD, dù tám tháng đầu năm Việt Nam nhập siêu 20,46 tỷ USD. Điều này cho thấy không thể chỉ dùng cán cân thương mại để lý giải tỷ giá.

Một nguồn hỗ trợ quan trọng là vốn FDI giải ngân đạt 17,25 tỷ USD trong tám tháng đầu năm. Cùng với đó, kiều hối, nguồn thu từ du lịch và các dòng ngoại tệ được chuyển đổi sang VND góp phần bổ sung nguồn cung. Theo UOB, từ đầu năm đến nay, một lượng ngoại tệ đáng kể do doanh nghiệp và cá nhân nắm giữ đã được chuyển đổi từ USD sang VND để gửi tiết kiệm, với quy mô có thể lên tới vài tỷ USD. Chênh lệch lãi suất VND-USD hiện vẫn đủ hấp dẫn để khuyến khích nắm giữ VND, hạn chế động cơ đầu cơ ngoại tệ. Một diễn biến đáng chú ý khác là tỷ giá trên thị trường không chính thức hiện thấp hơn tỷ giá tại các ngân hàng. Chênh lệch này khiến một bộ phận khách hàng cá nhân chuyển từ giao dịch ngoại tệ trên thị trường không chính thức sang bán USD cho ngân hàng, qua đó bổ sung nguồn cung ngoại tệ cho hệ thống.

Ngoài ra, vai trò của điều hành chính sách còn thể hiện ở việc tạo dư địa cho thị trường vận động trong khuôn khổ kiểm soát. Từ đầu năm, tỷ giá trung tâm tăng khoảng 2%, lên quanh mức 25.600 đồng/USD, trong khi tỷ giá giao dịch trên thị trường giảm khoảng 1%, về khoảng 26.000 đồng/USD. Cơ chế này vừa tạo khung tham chiếu, vừa cho phép tỷ giá phản ánh cung-cầu, góp phần củng cố niềm tin thị trường.

Trên nền tảng đó, phản ứng chính sách cần bám sát điều kiện trong nước. Ông Nguyễn Quang Huy nhấn mạnh, FED tăng lãi suất không có nghĩa Việt Nam phải tăng lãi suất tương ứng. Việc lựa chọn công cụ phải dựa trên lạm phát, thanh khoản, tỷ giá và sức khỏe của nền kinh tế thực, tránh để sức ép từ bên ngoài truyền dẫn quá mạnh sang chi phí vốn.

Ở cấp độ ngân hàng thương mại, yêu cầu đặt ra là tăng cường quản trị tài sản, nguồn vốn, kiểm soát chênh lệch kỳ hạn, thận trọng với khách hàng có doanh thu bằng VND nhưng nghĩa vụ nợ bằng ngoại tệ. Tín dụng cần hướng vào sản xuất, xuất khẩu, công nghệ, công nghiệp hỗ trợ và các lĩnh vực tạo giá trị gia tăng, đi đôi với kiểm soát rủi ro.

Cuối cùng, để duy trì mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên, chính sách tài khóa cần chia sẻ tích cực hơn với chính sách tiền tệ thông qua đẩy nhanh đầu tư công, phát triển hạ tầng và hỗ trợ có mục tiêu. Về dài hạn, nâng cao năng suất, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, tăng khả năng tự chủ nguyên liệu mới là nền tảng củng cố sức chống chịu.

“Với sự phối hợp chính sách nhất quán, Việt Nam có thể kiểm soát tác động từ các biến động bên ngoài, duy trì ổn định vĩ mô và tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng”, ông Nguyễn Quang Huy nhận định.

Có thể bạn quan tâm

Trạm thu phí cao tốc không dừng cao tốc bắc-nam phía đông ứng dụng công nghệ AI thu phí tự động, không cần nhân viên thu phí như trước đây.

Cao tốc bắc-nam phía đông tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trên hành lang vận tải bắc-nam

Theo Cục Đường bộ Việt Nam, lưu lượng phương tiện trên cao tốc bắc-nam phía đông trong tháng 9/2026 giảm so tháng 8, chủ yếu do yếu tố mùa vụ. Tuy nhiên, so với mức bình quân trong 7 tháng triển khai thu phí, lưu lượng trên cao tốc vẫn tăng 3,7%, cho thấy tuyến đường tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trên hành lang vận tải bắc-nam.

Dây chuyền sản xuất hiện đại của Công ty TNHH dệt kim Bangjie Việt Nam, khu công nghiệp dệt may Phố Nối, tỉnh Hưng Yên. (Ảnh: Phạm Hà)

Hưng Yên tăng trưởng kinh tế hơn 11%

Theo thống kê tỉnh Hưng Yên, GRDP 9 tháng đầu năm của tỉnh Hưng Yên ước tính tăng 11,22%; tăng trưởng kinh tế tiếp tục duy trì xu hướng quý sau cao hơn quý trước (quý I tăng 10,59%, quý II tăng 11,00%).

Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ theo mô hình kinh tế xanh. (Ảnh: CAO TÂN)

Kinh tế tuần hoàn, động lực chuyển đổi xanh

Trước yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng xanh và giảm phát thải khí nhà kính, kinh tế tuần hoàn đang trở thành một định hướng phát triển có ý nghĩa chiến lược đối với Thành phố Hồ Chí Minh. Không chỉ là giải pháp quản lý môi trường, kinh tế tuần hoàn ngày càng trở thành một yếu tố quan trọng của đổi mới mô hình tăng trưởng đổi xanh.

Bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê, Bộ Tài chính phát biểu tại cuộc họp. (Ảnh: PV)

Quý III/2026, chỉ số giá tiêu dùng CPI tăng 4,80%

Trong 9 tháng năm 2026, thị trường hàng hóa thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, làm gia tăng rủi ro đối với nguồn cung năng lượng và hoạt động vận tải quốc tế. Trong nước, Chính phủ đã triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Nhà máy điện gió bờ tại Gia Lai. (Ảnh: T. THẢO)

Hoàn thiện chính sách cho năng lượng xanh ngoài khơi

Các nguồn năng lượng xanh như điện mặt trời, điện gió, hydrogen… đang ngày càng được quan tâm nghiên cứu, phát triển. Tại Việt Nam, năng lượng xanh được đánh giá có tiềm năng rất lớn, nhưng chưa được “đánh thức”, nhất là điện gió ngoài khơi do còn nhiều “rào cản” từ chính sách, vốn, nhân lực, cơ sở khoa học, công nghệ…

Chế biến thủy sản xuất khẩu tại doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh An Giang. (Ảnh: ĐỨC AN)

Giữ thị phần nông sản Việt Nam tại ASEAN

ASEAN là thị trường có vị trí thuận lợi và còn nhiều dư địa cho xuất khẩu nông sản của Việt Nam. Tuy nhiên, khi các nước trong khu vực nâng cao tiêu chuẩn nhập khẩu thì doanh nghiệp Việt Nam cần đáp ứng tốt hơn yêu cầu về chất lượng, truy xuất, chứng nhận hàng hóa và tham gia sâu hơn chuỗi giá trị khu vực để giữ vững thị phần.

[Infographic] Chứng khoán tuần 28/9-2/10/2026: Thị trường có tuần thứ 2 liên tiếp giảm điểm, khối ngoại tiếp tục bán ròng

[Infographic] Chứng khoán tuần 28/9-2/10/2026: Thị trường có tuần thứ 2 liên tiếp giảm điểm, khối ngoại tiếp tục bán ròng

Thị trường tuần 28/9-2/10/2026 có 5 phiên liên tiếp giảm điểm với áp lực bán tăng mạnh trong phiên cuối tuần. Kết tuần VN-Index giảm 2,66% về mức 1.737,71 điểm, trên hỗ trợ tâm lý 1.700 điểm. Độ rộng thị trường trong tuần tiêu cực, hầu hết các nhóm ngành đều chịu áp lực điều chỉnh. 

Hoạt động nghiên cứu khoa học tại Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh CTV)

Triển khai cơ chế đặc thù xử lý vi phạm pháp luật về kinh tế, khoa học công nghệ

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc vừa ký Quyết định 1916/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Nghị quyết 37/2026/QH16 ngày 24/8/2026 của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù xử lý vi phạm pháp luật liên quan kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. 

Toàn cảnh Hội nghị đại biểu người lao động lần thứ VII năm 2026 của EVNNPC. (Ảnh: EVNNPC cung cấp)

EVNNPC phát huy dân chủ, củng cố đồng thuận, tạo động lực phát triển

Tổng công ty Điện lực miền bắc (EVNNPC) vừa tổ chức Hội nghị đại biểu người lao động lần thứ VII năm 2026 để đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Hội nghị người lao động lần thứ VI và hoạt động sản xuất kinh doanh giai đoạn 2024-2025, phát huy dân chủ, tăng cường đối thoại, thống nhất mục tiêu, nhiệm vụ giai đoạn 2026-2027.

Một dự án hạ tầng lớn có thể gồm nhiều lĩnh vực chuyên sâu, từ thiết kế, xây dựng, cơ điện đến ITS (giao thông thông minh), chiếu sáng, an toàn giao thông và các hệ thống công nghệ. (Ảnh: TRANG LIÊN)

Chọn doanh nghiệp đủ năng lực đảm nhận vai trò quản trị các dự án lớn

Không phải doanh nghiệp nào cũng đủ năng lực để đảm nhận vai trò quản trị các dự án lớn. Nhưng khi đã lựa chọn được doanh nghiệp đủ năng lực, cần trao quyền chủ động tương xứng với trách nhiệm được giao. Sàng lọc đúng năng lực, trao đủ quyền tổ chức và quy trách nhiệm đến cùng là cơ sở để hình thành những tổng thầu mạnh.

Cải cách hành chính được Tây Ninh xác định là nền tảng nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp. (Ảnh: THANH PHONG)

Tây Ninh tạo dư địa tăng trưởng từ ba khâu đột phá

Nhiệm kỳ 2026-2030, Tây Ninh xác định cải cách hành chính, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, cùng việc huy động nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng là ba khâu đột phá. Đây được xem là nền tảng để khơi thông nguồn lực, nâng cao năng suất, mở rộng không gian kinh tế và tạo thêm dư địa tăng trưởng cho Tây Ninh.