Chuyển đổi số trong nông nghiệp

Việt Nam đã và đang tích cực đẩy mạnh chuyển đổi số trong nông nghiệp giúp giảm chi phí, công lao động, tăng lợi nhuận cho nông dân. Bên cạnh đó, quá trình này cũng giúp nông dân tiếp cận thông tin và công nghệ mới để tạo ra sản phẩm có chất lượng, nâng cao sức cạnh tranh của nông sản nước ta trên thị trường quốc tế.
Sử dụng thiết bị bay không người lái (drone) để phun thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp ở Hải Dương. (Ảnh BẢO HÂN)
Sử dụng thiết bị bay không người lái (drone) để phun thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp ở Hải Dương. (Ảnh BẢO HÂN)

Chuyển đổi số trong nông nghiệp không chỉ là ứng dụng tiến bộ công nghệ tạo thêm những giá trị thặng dư cho nền kinh tế, mà còn giúp hàng chục triệu hộ nông dân tiếp cận, cập nhật tri thức mới, mở ra cách nghĩ, cách làm mới, sẵn sàng thay đổi, để hòa nhịp xu thế phát triển.

Nông dân tiếp cận công nghệ số

Hợp tác xã Rau quả sạch Chúc Sơn, huyện Chương Mỹ (Hà Nội) thành lập năm 2016, đến nay có 66 thành viên với vùng sản xuất chứng nhận VietGAP và Global GAP là 17,8 ha. Các sản phẩm của hợp tác xã được kiểm soát chặt chẽ theo chuỗi từ sản xuất đến sơ chế, đóng gói, tiêu thụ, bảo đảm minh bạch và an toàn thực phẩm; 100% sản phẩm được tiêu thụ theo hợp đồng với giá ổn định. Sản phẩm sau khi sơ chế, đóng gói được dán tem QR code giúp truy xuất nguồn gốc của từng hộ sản xuất và từng thửa ruộng.

Hiện nay, sản phẩm rau, củ của hợp tác xã đã được bày bán tại nhiều siêu thị, trường học, bệnh viện… ở Hà Nội và 12 địa phương phía bắc. Theo thống kê, trong 10 tháng năm 2024, lượng rau củ hợp tác xã thu mua của các thành viên khoảng 896 tấn, doanh thu đạt 21,5 tỷ đồng, ước cả năm là 27 tỷ đồng, tăng 29% so với năm 2023.

Giám đốc Hợp tác xã Rau quả sạch Chúc Sơn, huyện Chương Mỹ (Hà Nội) Hoàng Văn Thám cho biết: "Để thúc đẩy, nâng cao hiệu quả kinh tế, Hợp tác xã đã ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất, trong đó có lắp trạm cảnh báo thời tiết (Imetos) nhằm giúp các thành viên thường xuyên cập nhật các dữ liệu về: Nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa… vào điện thoại. Từ đó, các hộ chủ động điều chỉnh kế hoạch sản xuất, thời điểm gieo hạt, tránh lãng phí vật tư, tăng 20% hiệu quả sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật. Đồng thời, các thành viên chủ động sử dụng ứng dụng trên điện thoại thông minh để điều khiển hệ thống tưới giúp tiết kiệm tối đa phân bón và nhân công, bảo đảm dinh dưỡng cho cây trồng. Bên cạnh đó, hợp tác xã phối hợp Công ty Sorimachi Nhật Bản triển khai đồng bộ hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử. Việc này giúp định vị thửa ruộng của nông dân, vẽ sơ đồ diện tích thực tế của hộ sản xuất trên bản đồ vệ tinh; nhập toàn bộ dữ liệu về diện tích sản xuất, giá mua vật tư đầu vào, giá nhân công…; quản lý và kiểm tra toàn bộ thông tin nhật ký sản xuất của hộ nông dân trên phần mềm. Cùng với đó, sau khi nông dân nhập đầy đủ thông tin nhật ký sản xuất như ngày làm đất, gieo hạt, bón phân, thu hoạch… trên điện thoại thông minh, sẽ biết được giá thành sản phẩm, từ đó tính được lợi nhuận. Ngoài ra, các hộ cũng tự phân tích được các yếu tố làm tăng chi phí để điều chỉnh kế hoạch và quy trình bảo đảm sản xuất hiệu quả hơn".

Với chức năng chuyển giao tiến bộ khoa học-kỹ thuật, thông tin, đào tạo người dân nâng cao năng lực hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp, thời gian qua, Trung tâm Khuyến nông quốc gia đã đẩy mạnh công tác chuyển đổi số, ứng dụng khoa học-công nghệ thông qua hoạt động của hệ thống khuyến nông cả nước; đây là cầu nối để đưa chuyển đổi số tiếp cận gần hơn với nông dân, giúp quản lý và tổ chức sản xuất, kinh doanh thuận lợi hơn.

Tại tỉnh Bắc Giang, lĩnh vực nuôi trồng thủy sản đang có những chuyển dịch từ nuôi quảng canh, diện tích nhỏ, sản lượng thấp sang nuôi chuyên canh, thâm canh áp dụng VietGAP. Nhiều nơi người dân đã ứng dụng chuyển đổi số vào sản xuất giúp nâng cao chất lượng, năng suất cá nuôi. Trước đây, việc cho cá ăn, mở máy tạo ô-xi, anh Nguyễn Văn Chính tại xã An Dương, huyện Tân Yên phải làm thủ công cho nên rất vất vả và mất thời gian. Từ khi áp dụng công nghệ tự động hóa trong sản xuất, toàn bộ công việc đều được anh điều khiển bằng điện thoại thông minh.

Anh Chính chia sẻ: "Nhờ chuyển đổi số, chúng tôi theo dõi được độ pH trong ao nuôi, môi trường nước, lượng ô-xi cụ thể hơn việc đo bằng phương pháp thủ công như trước. Từ đó giúp giám sát mức sinh trưởng của cá và theo dõi nguồn bệnh, nguyên nhân gây bệnh để xử lý kịp thời, giúp cá phát triển tốt, đạt năng suất cao".

Nhiều thách thức phía trước

Nhiều ý kiến cho rằng, chuyển đổi số trong nông nghiệp ở nước ta còn nhiều thách thức nhưng đó cũng là cơ hội để ngành nông nghiệp phát triển mạnh mẽ, bền vững, gia tăng giá trị, thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu. Tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chuyển đổi số đang được thực hiện trong các lĩnh vực như: Trồng trọt với cơ sở dữ liệu mã số vùng trồng; công nghệ IoT, Big Data, AI đã được ứng dụng để quản lý, phân tích môi trường, chủng loại, giai đoạn phát triển của cây phục vụ việc truy xuất nguồn gốc và theo dõi quá trình sinh trưởng theo thời gian thực.

Lĩnh vực chăn nuôi với công nghệ IoT, sinh học, blockchain được ứng dụng rộng rãi trong các trang trại chăn nuôi; lĩnh vực lâm nghiệp với công nghệ GIS và ảnh viễn thám được sử dụng để giám sát, theo dõi diễn biến rừng, mất rừng, suy thoái rừng và phát hiện sớm, cảnh báo cháy rừng từ ảnh vệ sinh. Trong kết nối chuỗi giá trị, chuyển đổi số sẽ giúp ngành nông nghiệp Việt Nam thay đổi từ mô hình sản xuất nhỏ lẻ, kém hiệu quả sang mô hình sản xuất mới, có sự liên kết chuỗi giá trị…

Đến nay, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã xây dựng, ban hành các đề án, văn bản về chuyển đổi số; tổ chức các lớp tập huấn cho cán bộ, công nhân viên về chuyển đổi số; xây dựng, vận hành các cơ sở dữ liệu chuyên ngành ở các đơn vị…

Phó Trưởng phòng Công nghệ số Trung tâm Chuyển đổi số và Thống kê nông nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) Nguyễn Hoài Nam cho biết: "Chuyển đổi số ở ngành nông nghiệp mặc dù đã có những kết quả tích cực nhưng bên cạnh đó còn những khó khăn, thách thức. Sự lúng túng và nhận thức chưa đầy đủ về chuyển đổi số của chính quyền, người dân và doanh nghiệp nhất là các hợp tác xã, hộ nông dân đang là vấn đề lớn. Chuyển đổi số đòi hỏi phải có hạ tầng số đồng bộ, hiện đại (cả hạ tầng về IT và ICT). Mặt khác, còn thiếu cơ sở dữ liệu lớn về ngành nông nghiệp như: Cây trồng, vật nuôi, vật tư nông nghiệp, văn bản chính sách…".

Hơn nữa, các cơ sở dữ liệu chuyên ngành nông nghiệp còn rời rạc, thiếu kết nối, tích hợp và chia sẻ với nhau; sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam còn manh mún, nhỏ lẻ, khó áp dụng công nghệ cao; các doanh nghiệp nông nghiệp đầu tư vào chuyển đổi số chưa nhiều; chất lượng nguồn nhân lực có chuyên môn cao trong nông nghiệp số còn hạn chế. Về vấn đề này, ông Hoàng Văn Thám cho rằng: "Hiện nay, nhận thức của cán bộ quản lý hợp tác xã, nông dân và cả cơ quan quản lý cấp huyện, cấp xã về ứng dụng công nghệ số trong hợp tác xã còn hạn chế. Đây là rào cản lớn nhất để chuyển giao ứng dụng công nghệ số cho các hợp tác xã. Bên cạnh đó, nhân lực quản trị và chuyên môn của các hợp tác xã còn thiếu và yếu cho nên việc ứng dụng hệ thống quản trị thông minh, phần mềm quản lý sản xuất, hệ thống kế toán gặp khó khăn; ứng dụng công nghệ số cần vốn đầu tư lớn, rủi ro cao, trong khi vốn của hợp tác xã còn thiếu; sự lan tỏa ứng dụng công nghệ số trong các hợp tác xã chậm và chưa thật sự hiệu quả".

Để đẩy mạnh chuyển đổi số trong nông nghiệp, thời gian tới các bộ, ngành, địa phương và người dân cần thúc đẩy phát triển nền tảng số nông nghiệp, nông thôn bằng việc chuyển đổi nhận thức, kiến tạo thể chế, phát triển hạ tầng số, dữ liệu số, xây dựng nền tảng số dùng chung…

Cùng với đó, cần hình thành nền tảng số nông nghiệp nhằm kết nối, quản lý chuỗi cung ứng, logistics, thanh toán trực tuyến… phục vụ sản xuất, kinh doanh hiệu quả; thay đổi nhận thức về chuyển đổi số cho người dân thông qua việc tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn nâng cao kiến thức; tiếp tục xây dựng thành công mô hình điểm về chuyển đổi số trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi… để nhân rộng ra nhiều địa phương; ưu tiên, hỗ trợ các hợp tác xã trong tích cực ứng dụng chuyển đổi số vào sản xuất; nghiên cứu chuẩn hóa cấu trúc cơ sở dữ liệu dùng chung và cơ sở dữ liệu chuyên ngành có thể tích hợp, chia sẻ giữa hệ thống thông tin của các đơn vị trong ngành và các cấp chính quyền; nghiên cứu, xây dựng nền tảng truy xuất nguồn gốc nông sản có sử dụng công nghệ blockchain…

Có thể bạn quan tâm

Các đại biểu tham dự hội thảo quốc tế do Trường đại học Intracom phối hợp các đơn vị tổ chức. (Ảnh: NHẬT MINH)

Ứng dụng khoa học và công nghệ vào cuộc sống - Từ lý luận đến thực tiễn

Ngày 28/1, tại Hà Nội, Trường đại học Intracom phối hợp Tạp chí Pháp luật và Phát triển, Viện khoa học và Bổ trợ Tư pháp (Liên hiệp Hội Người khuyết tật Việt Nam), Tạp chí Vận động, Nghiên cứu và Giáo dục (JARE)… tổ chức hội thảo quốc tế “Thúc đẩy ứng dụng khoa học và công nghệ vào cuộc sống - Từ lý luận đến thực tiễn”.

Người dân đến giải quyết thủ tục hành chính tại Trung tâm Phục vụ Hành chính công-Chi nhánh số 3-phường Đống Đa, Hà Nội. (Ảnh: nhandan.vn)

Khai thác hiệu quả cơ sở dữ liệu quốc gia

Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức có vai trò thống nhất và chuẩn hóa thông tin nhân sự trong toàn bộ hệ thống cơ quan nhà nước, từ đó có cái nhìn toàn diện về số lượng, chất lượng, cơ cấu đội ngũ nhằm đưa ra các quyết định quản lý và sử dụng nhân sự một cách khoa học, hợp lý.

Sinh viên Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh thực hành nghiên cứu khoa học.

Đổi mới nghiên cứu liên ngành trong lĩnh vực khoa học xã hội

Trong thời đại ngày nay, nhiều vấn đề không chỉ là sự quan tâm của một quốc gia đơn lẻ, mà trở thành vấn đề chung của cả khu vực và thế giới. Theo đó, thúc đẩy nghiên cứu đa ngành là con đường tất yếu để giải quyết các vấn đề thực tiễn một cách toàn diện và hiệu quả.

100% cử tri có mặt tại Hội nghị nhất trí giới thiệu đồng chí Vũ Hải Quân, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Thường trực Bộ Khoa học và Công nghệ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI.

Bộ Khoa học và Công nghệ giới thiệu Thứ trưởng Thường trực Vũ Hải Quân ứng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI

150/150 cử tri có mặt tại hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác đối với người được dự kiến giới thiệu ứng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI của Bộ Khoa học và Công nghệ đã nhất trí giới thiệu Thứ trưởng Thường trực Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân ứng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI.

Đông đảo người dân tham dự triển lãm.

Đẩy mạnh ứng dụng khoa học tiên tiến để bảo tồn và phát triển dược liệu

Sáng 23/1, Viện Dược liệu phối hợp UBND phường Cửa Nam (Hà Nội) tổ chức Triển lãm Sách và Dược liệu Việt Nam với chủ đề “Kết nối tri thức vì sức khỏe cộng đồng” tại Phố Sách Hà Nội. Triển lãm nhằm chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng và 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam.

Người dân cần kiểm tra kỹ thông tin trước khi nộp tiền phạt qua mã QR để tránh bị lừa.

Nhận diện chiêu thức lừa đảo nộp phạt “nguội” qua Zalo

Lợi dụng việc mã QR được sử dụng rộng rãi trong các thủ tục hành chính, nhiều đối tượng xấu đã giả mạo thông báo “phạt nguội”, yêu cầu người dân chuyển tiền qua mã QR trên Zalo. Người dân cần nhận diện rõ quy trình nộp phạt hợp pháp và nâng cao cảnh giác để tránh bị lừa.

Cán bộ Sở Khoa học và Công nghệ Thái Nguyên khảo sát để cấp chỉ dẫn địa lý cho gạo nếp Khẩu Nua Lếch. (Ảnh: THU HIỀN)

Đổi mới sáng tạo ở Thái Nguyên

Tỉnh Thái Nguyên đã và đang khẳng định quyết tâm biến khoa học, công nghệ trở thành khâu đột phá để thúc đẩy kinh tế-xã hội. Với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, Thái Nguyên từng bước đẩy nhanh phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham quan các khu vực bên lề lễ khởi công nhà máy chế tạo chip bán dẫn Hòa Lạc.

Việt Nam sẽ bước vào nhóm số ít quốc gia sở hữu năng lực chế tạo chip bán dẫn

Chip bán dẫn hiện là “đòn bẩy” của những nước chi phối công nghệ sản xuất, sử dụng như công cụ chính trị để kiểm soát, kìm hãm kinh tế, công nghiệp an ninh quốc phòng. Việt Nam xác định bán dẫn là một trong những công nghệ chiến lược cần làm chủ, với mắt xích then chốt vừa được công bố: nhà máy sản xuất chip tại Hòa Lạc.

Ứng dụng khoa học, công nghệ là giải pháp hiệu quả để quản lý, bảo vệ tài nguyên biển.

Ứng dụng công nghệ trong quản lý các khu bảo tồn biển

Đến năm 2030, Việt Nam có 27 khu bảo tồn biển, trong đó có 16 khu bảo tồn biển cấp quốc gia, 11 cấp tỉnh với khoảng 20 hệ sinh thái, 11.000 loại thủy sản, khoảng 3.000 đảo. Đây là địa điểm lý tưởng để thực hiện nhiệm vụ lưu giữ, bảo tồn giống, nguồn gen, đa dạng sinh học; phát triển kinh tế, du lịch; phục vụ nghiên cứu khoa học…