Bắt kịp xu hướng nông nghiệp hữu cơ

Bài 2: Con đường còn lắm gian nan
Trang trại chăn nuôi bò theo hướng hữu cơ tại huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai. (Ảnh VƯƠNG NGUYỄN)
Trang trại chăn nuôi bò theo hướng hữu cơ tại huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai. (Ảnh VƯƠNG NGUYỄN)

Theo Liên đoàn quốc tế các phong trào nông nghiệp hữu cơ, sản xuất nông nghiệp hữu cơ là sản xuất theo nguyên tắc bảo đảm hệ sinh thái cây trồng, vật nuôi, tạo ra những sản phẩm có chất lượng an toàn với người sử dụng và đem lại hiệu quả kinh tế, duy trì và nâng cao độ màu mỡ của đất. Tại Việt Nam, bộ Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 11041 về nông nghiệp hữu cơ cũng nêu rõ, đó là hệ thống sản xuất nhằm duy trì sức khỏe của đất, hệ sinh thái và con người. Tuy nhiên, để áp dụng và triển khai đầy đủ các nguyên tắc, yêu cầu này còn rất gian nan đối với nền nông nghiệp Việt Nam.

Tính đến năm 2021, tại Việt Nam, diện tích đất trồng trọt hữu cơ đạt hơn 61.000ha, diện tích nuôi trồng thủy sản hữu cơ hơn 100.000ha, diện tích thu hái tự nhiên nông nghiệp hữu cơ hơn 12.000ha. Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp hữu cơ đạt 335 triệu USD/năm. Số lượng nhà sản xuất nông nghiệp hữu cơ hơn 17.000 đơn vị, 555 nhà chế biến và 60 nhà xuất khẩu.

Khó đầu vào, bí đầu ra

Một trong những điều kiện quan trọng đầu tiên của sản xuất nông nghiệp hữu cơ là nguồn đất, nguồn nước, vật tư nông nghiệp đầu vào (phân bón, thức ăn gia súc, thuốc thảo mộc, chế phẩm sinh học…), thì hiện nay các yếu tố này tại Việt Nam đều đang thiếu. Nguyên nhân là một số vùng sản xuất đã trải qua thời gian dài áp dụng phương pháp canh tác thâm canh dựa vào hóa học nên đất trồng, nguồn nước, hệ sinh thái bị suy giảm chất lượng.

Đối với danh mục vật tư đầu vào vừa thiếu, vừa chưa có hướng dẫn cụ thể về chủng loại được sử dụng trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ nên gây khó khăn, lúng túng cho người sản xuất và tổ chức chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn nông nghiệp hữu cơ. Điều này được chứng thực tại nhiều địa phương.

Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đồng Nai Cao Tiến Sỹ, nhận định: Hiện, các loại rau, cây trồng là nguồn nguyên liệu chính để sản xuất thức ăn trong chăn nuôi hữu cơ. Tuy nhiên, do đặc điểm thổ nhưỡng cùng với việc lạm dụng phân bón vô cơ, thuốc trừ sâu và hóa chất trong quá trình canh tác nông nghiệp trước đây đã làm nhiều vùng sản xuất trên địa bàn tỉnh bị ô nhiễm ở các mức độ khác nhau, dẫn đến việc chuyển đổi, xác định vùng chăn nuôi hữu cơ, vùng nguyên liệu phục vụ đầu vào cho sản xuất chăn nuôi hữu cơ gặp nhiều khó khăn.

Mặt khác, áp lực đô thị hóa và tốc độ phát triển công nghiệp cũng ảnh hưởng đến vùng sản xuất hữu cơ khiến người chăn nuôi nhỏ lẻ không có điều kiện bố trí các khu vực sản xuất theo tiêu chuẩn. Hiện chưa có nguồn giống vật nuôi, nguyên liệu đầu vào được chứng nhận hữu cơ nên cần có thời gian chuyển đổi giống và nguyên liệu đầu vào phù hợp.

Tại huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp, năm 2022 đã triển khai chương trình định hướng nông dân chuyển đổi sang sản xuất theo hướng hữu cơ với diện tích 200ha trên các loại cây trồng. Ông Võ Văn Dũng - Giám đốc Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp huyện Tháp Mười cho biết: Cái khó trong sản xuất hữu cơ hiện nay là nguồn đất, nguồn nước phải đáp ứng theo quy định về giới hạn kim loại nặng và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Khu vực sản xuất hữu cơ phải được khoanh vùng, phải có vùng đệm hoặc hàng rào vật lý tách biệt với khu vực không sản xuất hữu cơ.

Tuy nhiên, phần lớn diện tích canh tác của các hộ nông dân nhỏ lẻ, manh mún nên việc tập trung đất cho sản xuất hữu cơ, quy mô hóa vùng sản xuất, quy hoạch vùng trồng theo đúng yêu cầu còn gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, các loại thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học được phép sử dụng trong sản xuất hữu cơ chưa nhiều nên trong những năm đầu, việc kiểm soát dịch hại chưa đạt hiệu quả như mong muốn, đặc biệt là những vùng thâm canh 2 vụ, 3 vụ lúa/năm.

Trong khi đó, để đạt được chứng nhận hữu cơ quốc tế như USDA (Mỹ), EU Organic (Liên minh châu Âu) hoặc JAS (Nhật Bản) thì thách thức còn lớn hơn nữa đối với nông nghiệp Việt Nam. Theo thông tin từ nhiều doanh nghiệp, các mẫu đất, mẫu nước, mẫu phân bón hữu cơ và tất cả các yếu tố đầu vào của nông nghiệp hữu cơ đều được tổ chức đánh giá kiểm tra một cách gắt gao.

Cụ thể, đất đạt tiêu chuẩn hữu cơ phải là đất hoang hoặc đất đã không canh tác 2 năm trở lên hoặc đất đang canh tác thì phải có thời gian chuyển đổi ít nhất 3 năm hoàn toàn không sử dụng hóa chất. Thậm chí, thời gian yêu cầu có thể phải dài hơn tùy thuộc vào giống cây trồng ngắn ngày hay cây lâu năm.

Bên cạnh đầu vào thì đầu ra nông sản hữu cơ dù số lượng còn ít nhưng cũng vấp phải vô vàn trở ngại. Nguyên nhân là do thị trường tiêu thụ sản phẩm hữu cơ trong nước chưa phát triển, chủ yếu là sản phẩm nhập khẩu, tiêu thụ tập trung tại các kênh phân phối hiện đại và phục vụ thị phần nhỏ khách hàng trung và cao cấp.

Trong khi đó, trên thị trường còn có sự cạnh tranh không lành mạnh giữa sản phẩm hữu cơ có chứng nhận và sản phẩm "hữu cơ tự xưng" (sản phẩm không có chứng nhận nhưng được ghi trên bao bì, nhãn mác là sản phẩm hữu cơ) khiến người tiêu dùng chưa thật sự tin tưởng vào chất lượng sản phẩm nông nghiệp hữu cơ. Ngoài ra, một nguyên nhân quan trọng nữa là giá thành sản phẩm hữu cơ còn cao nên chưa thu hút được sự quan tâm của người tiêu dùng trong nước.

Vướng chính sách, thiếu tài chính và nhân lực

Theo Phó Cục trưởng Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường Phạm Văn Duy, hiện nguồn vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp hữu cơ ở Trung ương, địa phương và doanh nghiệp còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển. Mặt khác, do nông nghiệp hữu cơ tiềm ẩn nhiều rủi ro liên quan đến thiên tai, dịch bệnh và thị trường nên vẫn còn thiếu các doanh nghiệp lớn đầu tư vào lĩnh vực này.

Ông Nguyễn Lâm Viên - chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Vinamit chia sẻ: Khi triển khai dự án sản xuất hữu cơ, chi phí đầu tư được ước tính lên đến hàng trăm tỷ đồng. Đây là một thách thức về tài chính đối với bất kỳ doanh nghiệp nào. Thực tế, một trang trại hữu cơ 150ha tại Vinamit đã được công ty đầu tư hơn 200 tỷ đồng để xây dựng cơ sở vật chất, chưa tính đến các chi phí đầu tư khác và hiện vẫn đang tiếp tục được đầu tư.

Còn đối với nông dân, dù sản xuất hữu cơ trên đơn vị diện tích nhỏ thì thời gian cũng thường kéo dài hơn so với thông thường, trong khi năng suất, sản lượng thấp hơn so với sản xuất truyền thống nên nguồn thu nhập có nguy cơ giảm, khiến họ không đủ tiềm lực tài chính để duy trì và tái đầu tư.

Bên cạnh nguồn tài chính là vấn đề nhân lực. Hiện, công tác tập huấn và bồi dưỡng về nông nghiệp hữu cơ chưa được triển khai đồng bộ tại các địa phương. Hầu hết các doanh nghiệp đều cho rằng, đội ngũ chuyên gia, kỹ thuật chuyên về nông nghiệp hữu cơ còn rất hạn chế khiến việc tìm kiếm như "mò kim đáy bể". Chưa kể, lực lượng lao động là công nhân cũng chưa có nhiều kiến thức và kinh nghiệm về vấn đề thực hành hữu cơ tại trang trại.

Trong khi đó, mặc dù hệ thống chính sách về phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam bước đầu được hình thành để từng bước chuyển đổi nhận thức và điều chỉnh tổ chức sản xuất nhưng còn phân tán ở nhiều văn bản khác nhau và chưa đồng bộ từ khâu sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm. Các cơ chế hỗ trợ chưa đủ mạnh và thiếu các cơ chế đặc thù để hiện thực hóa chính sách nhằm khuyến khích đầu tư và phát triển sản xuất hữu cơ.

Về vấn đề này, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Phát triển Nông nghiệp Hải Âu (Seagull ADC) Trần Phong Lan nhìn nhận: Tại Việt Nam, tháng 12/2006, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành bộ Tiêu chuẩn nông nghiệp hữu cơ 10 TCN 602-2006 nhưng phải đến năm 2018 thì mới hoàn thành ban hành bộ Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 11041 về nông nghiệp hữu cơ, làm cơ sở cho việc chứng nhận hữu cơ của Việt Nam. Ngày 29/8/2018, Nghị định 109/2018/NĐ-CP về nông nghiệp hữu cơ được ban hành. Qua các mốc thời gian này cho chúng ta thấy việc nhận thức về sự cần thiết thay đổi từ canh tác vô cơ sang canh tác hữu cơ cho đến thực hành ở tầm vóc chiến lược quốc gia có độ trễ đáng kể.

(Còn nữa)

(*) Xem Báo Nhân Dân từ số ra ngày 28/2/2023.Bộ Khoa học và Công nghệ đang biên soạn các tiêu chuẩn quốc gia TCVN về một số sản phẩm nông nghiệp hữu cơ đặc thù, dự kiến công bố trong năm nay, nhằm bổ khuyết cho các tiêu chuẩn đã công bố (tiêu chuẩn về mật ong hữu cơ; tiêu chuẩn về nấm hữu cơ, rau mầm hữu cơ và trồng trọt hữu cơ trong nhà màng và trong thùng chứa; tiêu chuẩn về rong biển hữu cơ). Ngoài ra, Bộ Khoa học và Công nghệ đang nghiên cứu để triển khai xây dựng tiêu chuẩn quốc gia về phân bón sử dụng trong nông nghiệp hữu cơ nhằm tháo gỡ một số khó khăn cho người sản xuất hữu cơ hiện nay. Trong mục tiêu phát triển nông nghiệp hữu cơ của Việt Nam, năm 2025 sẽ tăng tỷ lệ sản phẩm phân bón hữu cơ trong tổng sản phẩm phân bón lên 15%; tăng số lượng thuốc bảo vệ thực vật sinh học trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng lên hơn 30%.

Có thể bạn quan tâm

VISSAN triển khai kế hoạch sản xuất hàng tết từ đầu tháng 9/2026. (Ảnh: SATRA)

SATRA chủ động nguồn hàng cung ứng Tết Đinh Mùi 2027

Từ vùng nguyên liệu, nhà máy chế biến, chợ đầu mối đến hệ thống bán lẻ, SATRA đang triển khai kế hoạch chuẩn bị hàng Tết Đinh Mùi 2027 với quy mô dự trữ hơn 376 tỷ đồng, đồng thời tăng cường công tác an toàn thực phẩm, logistics và khuyến mại kích cầu nhằm phục vụ thị trường Thành phố Hồ Chí Minh.

Người dân Thủ đô chủ động giữ gìn không gian sống. (Ảnh: Thanh Hậu)

Bảo đảm chất lượng môi trường cho người dân nông thôn Thủ đô

Từ những buổi tổng vệ sinh cuối tuần tạo ra những tuyến đường không rác… thành phố Hà Nội đang biến phong trào bảo vệ môi trường thành việc làm thường xuyên của cộng đồng. Khi người dân tham gia giữ gìn không gian sống, tiêu chí môi trường trong nông thôn mới không còn nằm trên giấy, mà trở thành một phần chất lượng sống.

Mở rộng kết nối, chia sẻ dữ liệu nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp thực hiện thủ tục xuất nhập khẩu. (Ảnh: CHQ)

Giữ thông suốt thủ tục xuất nhập khẩu sau phân cấp

Thẩm quyền giải quyết nhiều thủ tục xuất nhập khẩu đang chuyển về địa phương, kéo theo yêu cầu điều chỉnh cách tiếp nhận hồ sơ và trao đổi dữ liệu. Việc mở rộng Cổng thông tin một cửa quốc gia được tính toán theo hiện trạng từng hệ thống, nhằm kết nối đúng cơ quan xử lý, tránh trùng lặp và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.

Ảnh: THÀNH ĐẠT

Giá vàng ngày 6/10: Thế giới tiếp đà giảm, trong nước đi ngang phiên thứ 3 liên tiếp

Giá vàng thế giới hôm nay (6/10) tiếp tục giảm xuống mức 4.125,9 USD/ounce, trong bối cảnh kỳ vọng lãi suất duy trì ở mức cao tiếp tục hỗ trợ lợi suất trái phiếu Mỹ. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn SJC đi ngang phiên thứ 3 liên tiếp, niêm yết lần lượt ở mức 143,5 triệu đồng/lượng và 143 triệu đồng/lượng.

Trang sức bạc. (Ảnh: THU LAN)

Sáng 6/10, giá bạc thế giới giảm nhẹ

Sáng 6/10, giá bạc thế giới giảm nhẹ về ngưỡng hơn 60 USD/ounce trong bối cảnh đồng USD mạnh lên và lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ tăng vọt, lấn át các yếu tố hỗ trợ từ số liệu việc làm Mỹ yếu hơn dự kiến và khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) tăng lãi suất trong tháng 10 trở nên mờ nhạt.

Ảnh minh họa. (Ảnh: nhandan.vn)

Phát huy giá trị và uy tín Thương hiệu quốc gia Việt Nam

Qua 23 năm thực hiện, Chương trình Thương hiệu quốc gia Việt Nam đã khẳng định vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức toàn xã hội, nhất là của cộng đồng doanh nghiệp về vai trò của thương hiệu trong sản xuất, kinh doanh và hội nhập quốc tế. 

Công ty cổ phần Cảng quốc tế Nam Vân Phong (Khu kinh tế Vân Phong) đang chờ những quyết định về quy hoạch để mở rộng kho bãi và nâng khả năng tiếp nhận tàu lên 70.000DWT cập cảng.

Khơi thông động lực kinh tế biển

Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa vừa tổ chức hội nghị gặp mặt doanh nghiệp cảng biển, lắng nghe các kiến nghị để tỉnh tập trung tháo gỡ những “điểm nghẽn” nhằm đưa cảng biển và logistics trở thành động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế địa phương.

Các đại biểu trải nghiệm bên cây măng cụt 40 năm tuổi. (Ảnh: VĂN ÚT)

Cần Thơ chuyển đổi tư duy sản xuất nông nghiệp

Không chỉ làm ra nhiều nông sản, nông dân thành phố Cần Thơ đang đứng trước yêu cầu phải biết bán sản phẩm, xây dựng thương hiệu, ứng dụng công nghệ và gia tăng giá trị trên từng đơn vị diện tích. Chuyển từ tư duy “sản xuất nông nghiệp” sang “kinh tế nông nghiệp” đang trở thành hướng đi tất yếu để mang lại hiệu quả cao.

[Infographic] Chứng khoán ngày 5/10: VN-Index tăng 15,49 điểm, thanh khoản thị trường giảm

[Infographic] Chứng khoán ngày 5/10: VN-Index tăng 15,49 điểm, thanh khoản thị trường giảm

Ngày 5/10, VN-Index tăng 15,49 điểm (+0,89%) lên mức 1.753,20 điểm. Độ rộng trên HoSE nghiêng về tích cực với 155 mã tăng giá, 151 mã giảm giá và 49 mã giữ giá tham chiếu. Thanh khoản giảm, khối lượng giao dịch khớp lệnh giảm mạnh 29,7% so phiên trước. Khối ngoại tiếp tục bán ròng với giá trị bán 281,8 tỷ đồng trên HoSE.

Ảnh minh họa. (Nguồn: TTXVN)

Chứng khoán ngày 5/10: VN-Index tăng gần 16 điểm, VIC và VHM nâng đỡ thị trường

Phiên giao dịch ngày 5/10, sắc xanh lan tỏa trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Các mã VIC, VHM đóng góp đáng kể vào đà tăng của các chỉ số chính, trong khi thanh khoản suy giảm và khối ngoại tiếp tục bán ròng cho thấy dòng tiền vẫn có sự thận trọng. Chốt phiên, VN-Index tăng 15,49 điểm (+0,89%), lên mức 1.753,2 điểm.

Các doanh nghiệp khoa học-công nghệ gia tăng mạnh trong bối cảnh hiện nay. (Ảnh: CTV)

Hơn 223,9 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động 9 tháng năm 2026

Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế 9 tháng qua đạt hơn 5 triệu tỷ đồng, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung, số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động đạt hơn 223,9 nghìn doanh nghiệp, bình quân một tháng có 24,9 nghìn doanh nghiệp gia nhập thị trường.