Từ tài sản bảo đảm, cơ chế định giá tài sản trên đất nông nghiệp đến rủi ro của mô hình liên kết chuỗi, nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân vẫn loay hoay trước cánh cửa tín dụng. Muốn khơi thông nguồn lực cho “tam nông”, đòi hỏi những bước đi quyết liệt hơn trong cải cách cơ chế.
Vượt rào cản tài sản thế chấp và pháp lý
Trở ngại lớn nhất hiện nay của các doanh nghiệp, hợp tác xã chính là câu chuyện tài sản bảo đảm. Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Aeroco Coffee Lê Đình Tư trăn trở: “Nhiều thời điểm doanh nghiệp dồn lực đầu tư nhà xưởng, máy móc thì không còn đủ tài sản thế chấp theo yêu cầu ngân hàng, buộc phải tự xoay xở lúc khó khăn nhất”.
Đồng quan điểm, Giám đốc Công ty Sản xuất thương mại dịch vụ Việt Thắng Nguyễn Thị Dung cho hay, khi doanh nghiệp đứng ra làm “mắt xích” chủ trì liên kết với nông dân từ tổ chức sản xuất đến bao tiêu sản phẩm thì khó khăn lớn nhất vẫn là tài sản bảo đảm. Đất nông nghiệp thường được định giá thấp hơn nhiều so với đất ở hoặc đất thương mại dịch vụ trong khi tính thanh khoản lại hạn chế.
Trong mô hình liên kết, quyền sử dụng đất thuộc về hộ dân, doanh nghiệp chỉ đóng vai trò tổ chức và điều phối sản xuất cho nên không có tài sản đứng tên để thế chấp. Ngay cả các tài sản trên đất như nhà màng, vườn cây, hệ thống tưới hay chuồng trại rất khó định giá. Điều này khiến nhiều dự án dù có hiệu quả nhưng vẫn khó vay vốn hoặc chỉ được cấp tín dụng ở mức thấp. Nhiều hợp tác xã cũng rơi vào tình trạng tương tự.
Ông Nguyễn Tấn Công, Chủ tịch Hội đồng quản trị Hợp tác xã Nông nghiệp và dịch vụ Nam Yang cho rằng, với những đơn vị đã sản xuất ổn định, có doanh thu và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính, thì cần được coi là cơ sở để đánh giá khả năng vay vốn thay vì chỉ phụ thuộc hoàn toàn vào tài sản bảo đảm.
Phần lớn mô hình nông nghiệp công nghệ cao hiện nay đều cần vốn đầu tư lớn và thời gian thu hồi kéo dài. Tuy nhiên, nhiều hộ dân và hợp tác xã chủ yếu chỉ tiếp cận được nguồn vốn ngắn hạn, tạo ra nghịch lý: Đầu tư dài hạn nhưng vốn lại ngắn hạn.
Ông Vũ Đại Dũng (xã Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk) từ lâu đã ấp ủ kế hoạch xây dựng kho cấp đông sầu riêng trên diện tích khoảng 6.000-7.000m2. Với tổng vốn dự kiến lên đến 20 tỷ đồng, con số quá lớn lại chưa có nguồn vay cho nên kế hoạch chưa thể thực hiện. Ông Dũng nhận thấy một lượng lớn phụ phẩm như vỏ sầu riêng, vỏ chanh dây bị bỏ đi, vừa lãng phí và ảnh hưởng đến môi trường. Bản thân có tham vọng phát triển kinh tế tuần hoàn nông nghiệp vì đây là nguồn nguyên liệu tiềm năng để sản xuất phân bón hữu cơ, nhưng để biến phụ phẩm thành đầu vào cho sản xuất lại cần đầu tư hệ thống dây chuyền sản xuất với nguồn vốn lớn. “Vì thế, cũng giống như kho cấp đông, ý tưởng này đành chỉ là kế hoạch trong đầu”, ông Dũng chia sẻ.
Theo đại diện một ngân hàng tại Đắk Lắk, việc thế chấp tài sản hình thành từ đầu tư công nghệ cao trên đất nông nghiệp vẫn còn vướng mắc về pháp lý và cơ chế định giá. Hoạt động sản xuất nông nghiệp của nhiều hộ dân còn mang tính truyền thống, thiếu hóa đơn chứng từ cho nên khó đáp ứng yêu cầu của một số chương trình tín dụng. Một khó khăn khác là tính rủi ro rất cao của nông nghiệp. Tại Đắk Lắk, nhiều đợt ngập lụt đã gây thiệt hại cho hàng nghìn khách hàng với dư nợ bị ảnh hưởng lên đến hàng trăm tỷ đồng.
Chuỗi liên kết bền vững-Lối ra cho dòng vốn
Trong bối cảnh nông nghiệp chuyển dần sang mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị, nhiều ý kiến cho rằng cách tiếp cận tín dụng cũng cần thay đổi. Để khơi thông “điểm nghẽn”, giải pháp căn cơ được các chuyên gia, lãnh đạo ngành đề xuất đó là chuyển từ cho vay dựa trên tài sản sang cho vay dựa trên dòng tiền và hiệu quả chuỗi liên kết.
Theo ông Trần Văn Hiển, Trưởng ban Kinh tế và Xúc tiến thương mại (Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam), bên cạnh vấn đề lãi suất, điều mà người dân và doanh nghiệp quan tâm nhất vẫn là khả năng tiếp cận được nguồn vốn.
“Các ngân hàng cần đổi mới tiêu chí cho vay, thay vì quá phụ thuộc vào tài sản bảo đảm cố định thì nên đánh giá doanh nghiệp dựa trên dòng tiền thực tế. Hiện nay, hầu hết hoạt động tài chính của doanh nghiệp đều được quản lý trên hệ thống số, minh bạch hơn trước nhiều. Ngoài ra, các hợp đồng, đơn hàng mà doanh nghiệp đã ký với đối tác cần được xem là cơ sở để đánh giá tín dụng. Với những doanh nghiệp tham gia vào chuỗi cung ứng ổn định, dòng tiền thường xuyên và liên tục thì đây là yếu tố có giá trị, giúp ngân hàng yên tâm hơn khi cấp vốn”, ông Hiển nhấn mạnh.
Chủ tịch Hiệp hội Sầu riêng Đắk Lắk Lê Anh Trung đề xuất, cần tổ chức lại quan hệ tín dụng theo chuỗi giá trị rộng hơn, trong đó doanh nghiệp đầu chuỗi, hợp tác xã và ngân hàng cùng xây dựng phương án tài chính tổng thể. Dòng vốn nên được thiết kế dựa trên dòng tiền tương lai của cả chuỗi sản xuất, doanh nghiệp có thể tham gia bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thu mua hoặc đồng vay cùng hợp tác xã để giảm rủi ro cho ngân hàng và mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho nông dân. Các đơn vị liên quan cần xây dựng chuỗi liên kết bền vững giữa doanh nghiệp-hợp tác xã-nông dân nhằm bảo đảm trách nhiệm bao tiêu sản phẩm, giúp dòng vốn tín dụng được sử dụng hiệu quả hơn.
Nhiều ý kiến góp ý cần hoàn thiện cơ chế pháp lý, công nhận và cho phép thế chấp các tài sản đầu tư trên đất nông nghiệp như nhà kính, hệ thống tưới thông minh hay tài sản hình thành từ dự án công nghệ cao để doanh nghiệp, hợp tác xã có thể tiếp cận nguồn vốn dài hạn. Một hướng đi khác đang được các ngân hàng tính tới là đánh giá khả năng tạo dòng tiền thay vì chỉ nhìn vào giá trị tài sản thế chấp.
Theo bà Trịnh Thị Kim Liên, Phó Giám đốc Agribank Nam Thanh Hóa, ngân hàng hiện ưu tiên xem xét hiệu quả phương án sản xuất kinh doanh và khả năng tạo dòng tiền của doanh nghiệp khi cấp tín dụng. Đồng thời, ngân hàng cũng đa dạng hóa tài sản bảo đảm, chấp nhận tài sản hình thành từ vốn vay hoặc tài sản hợp pháp khác theo quy định.
Các chuyên gia kinh tế nhận định, muốn dòng vốn chảy mạnh vào nông nghiệp hiện đại, cần đồng bộ thêm các công cụ hỗ trợ như bảo hiểm nông nghiệp, phát triển mã số vùng trồng, tiêu chuẩn xanh và nâng cao năng lực quản trị cho hợp tác xã, doanh nghiệp. Bởi trong một nền nông nghiệp đang chuyển nhanh sang sản xuất quy mô lớn, chế biến sâu và xuất khẩu, tín dụng không thể chỉ dừng ở vai trò “cho vay”. Dòng vốn cần trở thành một phần của hệ sinh thái phát triển nông nghiệp hiện đại, nơi ngân hàng, doanh nghiệp, hợp tác xã, nông dân cùng chia sẻ trách nhiệm và lợi ích trong chuỗi giá trị. Khi những “nút thắt” về cơ chế được tháo gỡ, dòng vốn sẽ mở đường cho nông nghiệp Việt Nam bước sang giai đoạn phát triển mới: Hiện đại hơn, bền vững hơn và có sức cạnh tranh cao hơn trên thị trường quốc tế.