Những tháng cuối năm là thời điểm sầu riêng bước vào cao điểm xuất khẩu. Với lợi thế về sản lượng, “vua trái cây” tiếp tục đóng góp đáng kể vào tăng trưởng của nhóm hàng rau quả.
Tuy nhiên, cơ hội càng lớn thì yêu cầu về chất lượng và khả năng truy xuất nguồn gốc càng khắt khe. Bởi những vấn đề liên quan đến tồn dư chất vàng ô và cadimi trong các vụ trước đã trở thành bài học đối với người trồng, doanh nghiệp và cơ quan quản lý.
Yêu cầu giữ vững thị trường bằng chất lượng
Tại vựa trái cây Đồng Tháp, việc tuân thủ quy trình sản xuất, kiểm soát vật tư đầu vào và đáp ứng tiêu chuẩn của thị trường nhập khẩu đang được đặt lên hàng đầu. Ông Nguyễn Văn Điền, một nhà vườn tại xã Mỹ Thiện cho biết, nhà vườn phải thận trọng trong lựa chọn phân bón, hạn chế những yếu tố có nguy cơ gây mất an toàn.
Theo ông Nguyễn Thành Long, Phó Chánh Văn phòng HĐND-UBND xã Thanh Hưng (Đồng Tháp), địa phương đã chỉ đạo các bộ phận chuyên môn, đặc biệt là Phòng Kinh tế, phối hợp với cơ quan chức năng của tỉnh tuyên truyền, hướng dẫn người dân tăng cường sử dụng chất hữu cơ, hạn chế hóa chất và áp dụng các mô hình sinh học. Xã hiện có 26 mã số vùng trồng với diện tích khoảng 1.600 ha. Trong thời gian tới, địa phương đặt mục tiêu phát triển thêm 24 mã số vùng trồng, nhằm phục vụ xuất khẩu chính ngạch và nâng cao thu nhập cho người dân.
Việc mở rộng mã số vùng trồng không đơn thuần là hoàn thiện thủ tục xuất khẩu. Đây còn là bước chuyển từ sản xuất phân tán sang quản lý vùng nguyên liệu có tổ chức, giúp cơ quan chức năng và doanh nghiệp kiểm soát tốt hơn quá trình sản xuất, thu hoạch, đóng gói và truy xuất nguồn gốc. Đấy cũng là một trong những yêu cầu từ phía thị trường tiêu thụ.
Thực tế cho thấy, xuất khẩu nông sản đang đứng trước một yêu cầu kép. Đó là vừa tận dụng nhu cầu thị trường để tăng trưởng, vừa phải chủ động phòng ngừa rủi ro từ những thay đổi về tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn thực phẩm và chính sách nhập khẩu.
Ông Ngô Hồng Phong, Cục trưởng Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đánh giá, số liệu xuất khẩu trong chín tháng đầu năm là điểm tựa vững chắc cho mục tiêu của cả năm. Đặc biệt, tỷ lệ cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm tiếp tục duy trì ổn định ở mức cao, khoảng 94%. Cục đang chuẩn bị kỹ lưỡng để sửa đổi Luật An toàn thực phẩm và Đề án thống nhất một đầu mối quản lý an toàn thực phẩm tại các địa phương.
Còn theo đại diện Cục Thủy sản và Kiểm ngư, trong chín tháng đầu năm 2026, tổng sản lượng thủy sản đạt 7,89 triệu tấn, hoàn thành 78,1% kế hoạch năm và tăng 3,9% so cùng kỳ. Tăng trưởng xuất khẩu cũng cần đi cùng quản lý chất lượng, truy xuất nguồn gốc và phát triển sản xuất bền vững. Cùng với kết quả sản xuất, việc kiểm soát khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) tiếp tục là yêu cầu quan trọng để nâng cao uy tín thủy sản Việt Nam.
Hiện toàn ngành đang quản lý 80. 073 tàu cá. Tỷ lệ lắp đặt thiết bị giám sát hành trình đối với tàu cá từ 15m trở lên đạt 99,7%. Hệ thống quản lý dữ liệu liên thông từ trung ương đến địa phương được đưa vào vận hành, hỗ trợ theo dõi vị trí tàu cá, xác định điểm nóng vi phạm và kiểm tra tình trạng cấp giấy truy xuất nguồn gốc tại các cảng cá.
Những nỗ lực này cho thấy khả năng cạnh tranh của nông, lâm, thủy sản không chỉ được quyết định bởi sản lượng hay giá bán, mà còn phụ thuộc vào năng lực quản trị chuỗi cung ứng và mức độ đáp ứng các chuẩn mực của thị trường nhập khẩu.
Chế biến sâu, đa dạng hóa thị trường
Theo số liệu tổng hợp của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản chín tháng năm 2026 đạt khoảng 56,3 tỷ USD, tương đương 75,9% mục tiêu cả năm. Để đạt mục tiêu 74,212 tỷ USD, trong quý IV, ngành nông nghiệp cần tiếp tục duy trì nhịp tăng trưởng cao, đồng thời tận dụng hiệu quả nhu cầu tiêu dùng gia tăng vào dịp lễ hội, cuối năm và Tết tại các thị trường lớn.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định tiếp tục giữ vững đà tăng trưởng của các nhóm hàng gỗ và sản phẩm gỗ, thủy sản, rau quả. Bên cạnh đó, bộ sẽ cố gắng tháo gỡ khó khăn cho những ngành hàng còn hụt mục tiêu. Các thị trường chủ lực như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản và Liên minh châu Âu (EU) tiếp tục được chú trọng, cùng với việc tìm kiếm cơ hội tại Trung Đông và châu Mỹ.
Ông Trần Gia Long, Phó Vụ trưởng Kế hoạch tài chính (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, cùng với việc thúc đẩy xuất khẩu trước mắt, yêu cầu quan trọng là cơ cấu lại ngành hàng, tổ chức lại sản xuất và thị trường, tập trung vào những lĩnh vực còn dư địa tăng trưởng. Đây không chỉ là giải pháp để hoàn thành kế hoạch năm 2026, mà còn là cơ sở chuẩn bị cho chu kỳ phát triển tiếp theo.
Ông Ngô Xuân Nam, Phó Giám đốc Văn phòng SPS Việt Nam cho rằng, đa dạng hóa thị trường cần gắn với khai thác các sản phẩm chế biến, bởi đây là hướng đi giúp gia tăng giá trị nông sản. Với sầu riêng, bên cạnh xuất khẩu quả tươi, những sản phẩm như sầu riêng sấy, bánh sầu riêng và các dòng chế biến khác cần được quan tâm để mở rộng thị trường tiêu thụ.
Thực tế, xuất khẩu quả tươi thường chịu ảnh hưởng bởi mùa vụ, thời gian bảo quản và yêu cầu vận chuyển. Trong khi đó, sản phẩm đông lạnh, puree (thịt quả nghiền), sấy hoặc chế biến thành nguyên liệu thực phẩm có thể kéo dài thời gian bảo quản, giảm áp lực tiêu thụ trong thời gian thu hoạch tập trung và mở rộng khả năng tiếp cận nhiều nhóm khách hàng.
Những nỗ lực từ nay đến cuối năm của ngành nông nghiệp không chỉ là hướng tới con số mục tiêu hơn 74 tỷ USD xuất khẩu trong năm 2026. Thử thách lớn hơn nằm ở khả năng giữ vững thị trường, nâng giá trị trên mỗi sản phẩm và đưa nông sản Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.