Ở vùng cao phía bắc, những nếp nhà trình tường, một hoặc hai tầng của đồng bào Tày, Nùng, H’Mông, Hà Nhì... được sinh ra từ điều kiện đặc thù khí hậu và thổ nhưỡng, tập quán sinh hoạt. Tùy đặc trưng của kết cấu đất và địa thế, mỗi tộc người có cách xử lý kỹ thuật trình tường riêng. Tựu trung, ngôi nhà bao gồm bốn hạng mục chính: Móng nhà bằng đá; bên trên là những vách tường đất dày 40 - 60 cm, có khi tới 80 cm, dựng từ các khuôn đất được nện kỹ, quánh chặt, bám dính lấy nhau bền vững; mái được lợp bằng ngói âm dương hoặc cỏ tranh bó thành tấm ngay ngắn; hệ thống cột gỗ, các ô cửa sổ, cửa ra vào, hành lang (bao quanh tầng hai, nếu có) và thang gỗ.
Tấm tường đất dày dặn giúp giữ ấm trong mùa đông và giữ mát trong mùa hè, khiến cho ngôi nhà trở thành một kiến trúc thuận tự nhiên. Nhưng có lẽ, trên tiến trình phát triển của cuộc sống tiện nghi hơn, những nếp nhà trình tường ở vùng núi cao ngày một thưa vắng, như lời chia sẻ của anh Phà Thó Suy, 46 tuổi, một trong năm người thợ Hà Nhì về sửa lại ngôi nhà lần này: “Nhà truyền thống tại Y Tý dần dần bị mai một”.
Trong khi kiến trúc hiện đại đang nỗ lực tìm cách trở lại hòa nhịp với thiên nhiên, những kiến trúc truyền thống thuận tự nhiên ở nước ta lại đứng trước nguy cơ mai một. Nghịch lý trong sự phát triển này đang cần được hóa giải bởi chính cộng đồng và chính quyền địa phương, để có thể tránh một tương lai gần, khi muốn biết về nếp nhà xưa của cha ông, người ta chỉ còn cách về Thủ đô, đến bảo tàng...
Điều đáng nói, những câu chuyện phía sau các đợt sửa chữa, gia cố ngôi nhà rông của đồng bào Ba Na, nhà dài của đồng bào Ê Đê, khuôn viên nhà của đồng bào Chăm tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam gần đây cho thấy, tại nhiều địa phương, các ngôi nhà và khuôn viên nhà truyền thống không chỉ ít dần mà còn thường không giữ được nguyên bản, pha trộn nhiều vật liệu công nghiệp, làm nhòe, mờ dần triết lý kiến trúc thuận theo tự nhiên.