Chuyện về chiếc chiếu sính lễ

Từ trung tâm vùng cao A Lưới (TP Huế), men theo những cung đường quanh co dẫn vào thôn A Roàng (xã A Lưới 4) là những ngôi nhà sàn lấp xấp nhỏ xinh nằm nép mình bên triền núi. Trong tiếng gió thổi và làn khói bên bếp lửa, những người phụ nữ Tà Ôi vẫn lặng lẽ làm công việc đã gắn bó với họ từ thuở còn thơ bé: Đan chiếu Âm-ber.

Tùy kích thước và độ cầu kỳ của hoa văn, một tấm chiếu có thể mất từ 5 ngày đến hai tuần mới hoàn thành.
Tùy kích thước và độ cầu kỳ của hoa văn, một tấm chiếu có thể mất từ 5 ngày đến hai tuần mới hoàn thành.

Băng rừng tìm nguyên liệu

Với người Tà Ôi, chiếu Âm-ber là sính lễ không thể thiếu trong ngày cưới. Nhà gái mang tấm chiếu do chính tay mình đan sang nhà trai như một cách thể hiện sự đảm đang của cô dâu và sự trân trọng dành cho gia đình chồng. Người già trong bản vẫn tin rằng, chiếu càng đẹp, hoa văn càng tinh xảo thì cuộc sống của đôi vợ chồng trẻ càng thuận hòa, hạnh phúc. Bởi vậy, nghề đan chiếu không đơn thuần là công việc thủ công, mà còn là một phần của phong tục và bản sắc văn hóa.

Để làm nên một tấm chiếu, việc đầu tiên là vào rừng tìm lá a’anh-chác, loại cây họ dứa dại mọc sâu trong núi. Ngày trước, nguyên liệu khá dồi dào, chỉ cần đi một buổi sáng là có thể gùi về đủ lá để làm. Nhưng nay, cây mọc thưa dần, người muốn tìm lá phải đi xa hơn, băng qua nhiều cánh rừng mới gặp được những bụi lá dài và đẹp.

Ngồi bên hiên nhà, bà A Viết Thị Nhi có hơn 40 năm gắn bó với nghề, vừa tước lá vừa nhớ lại: “Hồi trước đi một lúc là có đầy gùi. Chừ khó lắm, có khi đi cả ngày mới kiếm được đủ lá. Gặp được bụi lá dài hai, ba mét là mừng như tìm thấy của quý của rừng”.

Những tà lá được mang về, rửa sạch đem phơi nhưng phải theo nguyên tắc không được quá khô vì sẽ giòn, dễ gãy nhưng nếu còn ẩm, sợi sẽ mềm, khó đan. Chỉ những người có kinh nghiệm nhìn màu lá héo mới biết khi nào nguyên liệu đã đạt độ vừa đủ. Sau khi lá phơi héo, được tước thành từng sợi nhỏ đều nhau, công đoạn nhuộm màu mới bắt đầu.

Chiếu Âm-ber truyền thống thường có bốn màu chủ đạo: Đỏ, xanh lá, tím và trắng ngà tự nhiên của lá. Theo các nghệ nhân, mỗi màu đều được lấy từ cây rừng. Màu đỏ được tạo từ củ nâu, màu xanh từ lá a’rưh giã nhuyễn, còn một số màu khác được tạo nên bằng cách kết hợp các nguyên liệu tự nhiên với vỏ ốc và nước tro. Cụ bà Hồ Thị Chiến, người có hơn nửa thế kỷ gắn bó với nghề đan, chậm rãi kể: “Muốn màu đẹp thì phải ngâm sợi trong chum cả tháng trời, mất công nhưng màu mới bền, mới lên đúng sắc của chiếu xưa”. Sau khi nhuộm và phơi khô, những sợi lá bắt đầu được đan thành hoa văn - một công đoạn đòi hỏi sự kiên nhẫn tuyệt đối.

Tùy kích thước và độ cầu kỳ của hoa văn, một tấm chiếu có thể mất từ 5 ngày đến hai tuần mới hoàn thành. Chị Viên Thị Loan, một trong số ít người trẻ còn theo nghề ở A Roàng cho biết, học đan chiếu không quá khó nhưng để có một tác phẩm đẹp thì cần nhiều năm rèn luyện. “Chỉ cần lơ là một chút là lệch dòng, muốn đẹp phải tháo ra làm lại rất mất công”, chị Loan chia sẻ.

Giữ hồn văn hóa giữa đại ngàn

Từ xưa, hễ là người con gái Tà Ôi ai cũng biết và tự đan những tấm chiếu Âm-ber thật đẹp mang về nhà chồng. Đan chiếu cũng trở thành một nghề có thể kiếm thêm thu nhập lúc nông nhàn. Nhưng lá a’anh-chác ngày càng trở nên khó kiếm, chiếu Âm-ber chỉ được đan theo đơn đặt hàng để người địa phương tổ chức đám cưới nên lượng người làm nghề cũng ít đi.

Mỗi ngày, bà Nhi vẫn ngồi bên hiên nhà, đôi tay ánh mắt luôn chăm chú vào từng mối đan. Trong khi nhiều nghề truyền thống dần mai một, chiếu Âm-ber vẫn hiện diện trong đời sống của người Tà Ôi như một biểu tượng văn hóa không thể thay thế. “Mỗi tấm chiếu được trao trong ngày cưới không chỉ là món sính lễ mà có cả lời chúc phúc âm thầm gửi theo con gái về nhà chồng. Mong vợ chồng thương yêu nhau, sống trọn nghĩa trọn tình”, bà Nhi tâm sự.

Chính ý nghĩa ấy đã khiến nghề đan chiếu không chỉ được giữ bằng đôi tay mà còn bằng niềm tự hào và trách nhiệm. Giữa đại ngàn Trường Sơn, những tấm chiếu Âm-ber vẫn hiện diện như một chứng nhân của văn hóa Tà Ôi. Tại vài ngôi nhà sàn ở A Roàng, tiếng sột soạt của những sợi lá vẫn đều đặn vang lên. Những bàn tay phụ nữ Tà Ôi vẫn cần mẫn đan từng mối nối, như cách họ lặng lẽ nối dài truyền thống từ thế hệ này sang thế hệ khác. Và chừng nào những người phụ nữ như bà Nhi, chị Loan vẫn kiên nhẫn bên khung đan, chừng đó lời chúc phúc của người mẹ Tà Ôi dành cho con gái vẫn còn được gửi gắm trọn vẹn.