(Tiếp theo và hết)
Tình trạng khủng hoảng của một số ngân hàng tại Mỹ và Thụy Sĩ thời gian vừa qua đã làm rung động thị trường tài chính thế giới. Tổng thống Mỹ Joe Biden đã phải trấn an các nhà đầu tư và người gửi tiền. Nguyên nhân gây ra khủng hoảng đều bắt nguồn từ việc mức độ rủi ro tài sản tăng cao do rủi ro lãi suất.
Khởi nguồn từ Mỹ
Liên tiếp trong vòng khoảng 11 ngày, ba ngân hàng lớn của Mỹ là Silicon Valley Bank (SVB), SignatureBank (SB) và Silvergate Bank (Silvergate) sụp đổ. Sau đó là khủng hoảng thanh khoản tại ngân hàng First Republic Bank (FRB). Nhiều câu hỏi được đặt ra về sự phá sản của các ngân hàng này.
Ngày 8/3 vừa qua, ngân hàng SVB đã phải bán một lượng lớn trái phiếu trị giá 21 tỷ USD, chịu lỗ khoảng 1,8 tỷ USD (sau thuế). SVB cũng đặt kế hoạch huy động vốn thêm 2,25 tỷ USD. Tờ The Wall Street Journal cho hay, sau những thông tin này, các nhà đầu tư, quỹ đầu tư mạo hiểm, khách hàng cá nhân... đã ồ ạt rút tiền khỏi SVB. Chỉ tính riêng trong ngày 9/3, người gửi tiền đã rút ra 42 tỷ USD khiến SVB không còn khả năng chi trả. Trưa 10/3, cơ quan quản lý đã đóng cửa SVB và chỉ định Công ty Bảo hiểm tiền gửi liên bang (FDIC) là đơn vị tiếp quản ngân hàng.
Với hệ số an toàn vốn rất cao, tại sao SVB phải huy động thêm vốn và tại sao nó phá sản? Theo Học viện Chính sách ngân hàng của Mỹ, Đạo luật S.2155 của Luật Ngân hàng điều chỉnh quy định các ngân hàng quy mô tài sản dưới 250 tỷ USD không phải áp dụng tỷ lệ dự trữ thanh khoản LCR (Liquidity Coverage Ratio) và đây chính là nguyên nhân gây đổ vỡ của SVB. Thế nhưng, LCR thời điểm cuối năm 2022 của SVB là 150% (quy định tối thiểu là 100%), nghĩa là SVB đáp ứng tiêu chuẩn LCR. Vì vậy, nguyên nhân sâu xa chính là rủi ro về lãi suất, thể hiện qua cấu trúc danh mục tài sản và nghĩa vụ nợ của SVB. Tổng tiền gửi tại SVB lên tới 173,1 tỷ USD, trong đó tiền gửi không kỳ hạn là 80,8 tỷ USD. Lượng tiền gửi tăng mạnh trong năm 2021 do đây là thời điểm đại dịch Covid-19, dẫn tới các gói kích thích kinh tế khổng lồ được tung ra với lãi suất thấp, đồng thời sự thăng hoa trong lĩnh vực công nghệ và các start-up trong bối cảnh giãn cách xã hội thu hút được nguồn tài chính lớn.
Sang năm 2022, hoạt động của các quỹ đầu tư mạo hiểm giảm đến 68%, từ mức 94 tỷ USD cuối năm 2021 còn 36 tỷ USD cuối năm 2022. Các hãng công nghệ, khởi nghiệp bắt đầu cạn nguồn tài chính, họ phải rút tiền phục vụ hoạt động kinh doanh, dịch chuyển khoản đầu tư sang những nơi lãi suất cao hơn khiến lượng tiền gửi sụt giảm mạnh, từ gần 200 tỷ USD vào cuối tháng 3/2022 xuống còn 173 tỷ USD vào cuối năm và giảm đến hai con số trong những tháng đầu năm 2023. Trong khi đó, danh mục đầu tư của SVB phần lớn là các chứng khoán dài hạn và có lãi suất thấp. Khi lãi suất bắt đầu tăng, chi phí huy động vốn tăng lên và danh mục đầu tư lãi suất thấp sẽ phải chịu những tổn thất bất thường. Báo cáo tài chính của SVB cuối năm 2022 xác định khoản lỗ tiềm ẩn chưa thực hiện là 2,5 tỷ USD.
Sự thất bại của SVB không phải đến từ việc không tuân thủ quy định mà đến từ sự yếu kém trong quản trị rủi ro, đặc biệt là rủi ro lãi suất. Thực tế, SVB không có giám đốc quản lý rủi ro trong tám tháng của năm 2022. Hệ thống quản trị của SVB cũng có nhiều vấn đề, trong đó có việc lãnh đạo bán cổ phiếu của ngân hàng trước khi ngân hàng sụp đổ.
SVB và SB là hai ngân hàng chủ yếu phục vụ khách hàng liên quan tài sản kỹ thuật số. Vào tháng 11/2022, sự sụp đổ của Sàn giao dịch tiền kỹ thuật số và Quỹ phòng hộ FTX đã khiến các khách hàng có nguy cơ mất hàng tỷ USD, dẫn tới họ phải rút tiền gửi khỏi hai ngân hàng này. Để giữ thanh khoản, các ngân hàng này đã phải bán đi tài sản tài chính, những tài sản bị giảm giá trị khi lãi suất tăng. Tương tự SVB, trong báo cáo tài chính của SB cuối năm 2022 ghi nhận khoản lỗ tiềm ẩn là 1,78 tỷ USD, còn trong báo cáo tài chính của Silvergate cũng ghi nhận một khoản lỗ lũy kế là 755 triệu USD.
Trong khi đó, FRB được thành lập năm 1985 và là ngân hàng lớn thứ 14 nước Mỹ. Cũng như các ngân hàng đang gặp khủng hoảng, đến cuối năm 2022, FRB có khoản lỗ tiềm ẩn chưa thực hiện liên quan danh mục đầu tư chứng khoán là 331 triệu USD.
Ngày 12/3, sau sự cố sụp đổ của SVB, lo ngại những tác động dây chuyền, FRB đã trấn an các nhà đầu tư bằng các khoản vay bổ sung từ FED, Ngân hàng JPMorgan Chase&Co và Ngân hàng cho vay mua nhà liên bang hỗ trợ với tổng số tiền là 70 tỷ USD. Thế nhưng, bất chấp những động thái này, ngày 13/3, cổ phiếu của FRB đã giảm 71%, từ mức 81,76 USD xuống còn 31,21 USD, trước khi giao dịch bị tạm dừng.
Đến ngày 16/3, 11 ngân hàng tư nhân lớn của Mỹ cho biết sẽ gửi 30 tỷ USD để hỗ trợ FRB. Hành động này nhằm xoa dịu những lo ngại rằng đây có thể là ngân hàng tiếp theo trong chuỗi “domino” phá sản. Dù vậy, khách hàng tiếp tục rút tiền khỏi FRB.
Credit Suisse Group AG (CS) là một ngân hàng Thụy Sĩ rất mạnh trong hoạt động đầu tư và quản lý tài sản, với quy mô lên đến 1.700 tỷ USD. CS bắt đầu gặp vấn đề liên quan hoạt động đầu tư khi thay đổi “khẩu vị” rủi ro, tham gia nhiều thương vụ với cấu trúc phức tạp. Đầu năm 2021, CS gặp hai sự cố lớn. Đầu tiên là việc phá sản của công ty fintech Greensill, nơi CS đầu tư 10 tỷ USD. Tiếp theo là sự sụp đổ của quỹ đầu tư Archegos khiến CS mất 5,5 tỷ USD.
Vào tháng 10/2022, cổ phiếu CS mất giá mạnh và chi phí bảo hiểm khả năng vỡ nợ của CS trong hợp đồng hoán đổi rủi ro vỡ nợ tín dụng (CDS) kỳ hạn 5 năm tăng lên mức cao nhất trong nhiều năm. Việc này đã tạo ra làn sóng rút tiền khỏi CS, khiến ngân hàng bị rút ròng lên đến 100 tỷ USD và họ phải tăng vốn thêm 4 tỷ franc (4,3 tỷ USD) để hỗ trợ thanh khoản. Sự việc tạm lắng xuống nhưng sự sụp đổ của hai ngân hàng tại Mỹ là SVB và SB đã giáng một đòn nặng nề do những lo ngại về hiệu ứng “domino”, cùng với việc công bố “những điểm yếu quan trọng” trong kiểm soát nội bộ. Điều này đã khiến cổ phiếu của CS giảm 30% vào ngày 15/3, xuống mức thấp nhất lịch sử là 1,56 franc (khoảng 1,69 USD/cổ phiếu) và bị tạm dừng giao dịch do làn sóng bán tháo. Để khắc phục tình hình, CS thông báo sẽ vay 50 tỷ franc (tương đương 53,68 tỷ USD) từ Ngân hàng Trung ương Thụy Sĩ (SNB) dưới dạng công cụ cho vay có bảo đảm và công cụ thanh khoản ngắn hạn.
Nếu CS sụp đổ, ảnh hưởng đối với nền kinh tế toàn cầu sẽ lớn hơn nhiều so việc sụp đổ ngân hàng khu vực ở Mỹ.
Hành động của FED và SNB
Trong quá khứ, Bear Stearns là ngân hàng đầu tư của Mỹ đã phá sản vào tháng 8/2007. Khi đó, Chính phủ Mỹ đã cung cấp một khoản tài trợ lên đến 29 tỷ USD và tạo điều kiện bán tổ chức tài chính này cho JPMorgan Chase. Thế nhưng, việc Chính phủ Mỹ cứu Bear Stearns đã tạo một tiền lệ khiến các ngân hàng không chịu thay đổi vì cảm thấy luôn được bảo đảm. Chính vì thế, khi Lehman Brothers, một ngân hàng có tổng tài sản lên đến 639 tỷ USD, phá sản vào năm 2008, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) đã không đưa ra hỗ trợ. Hệ quả là kéo theo toàn bộ hệ thống tài chính Mỹ nói riêng và thế giới nói chung bị ảnh hưởng, gây ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007-2009.
Đến thời điểm tháng 3/2023, trước việc sụp đổ của SVB, SB và Silvergate, FED cũng không cứu trợ các ngân hàng này. Mặc dù vậy, Chính phủ liên bang Mỹ đã có những giải pháp hỗ trợ thích hợp.
Vào ngày 10/3, Công ty Bảo hiểm ký thác Liên bang Mỹ (FDIC) được giao quyền quản lý tài sản SVB. Để bảo vệ người gửi tiền, FDIC đã thành lập một ngân hàng bắc cầu là Ngân hàng Bảo hiểm tiền gửi quốc gia Santa Clara (DINB). FDIC lập tức chuyển giao cho DINB tất cả các khoản tiền gửi được bảo hiểm của SVB với mức tối đa là 250.000 USD. Các khoản tiền gửi vượt quá 250.000 USD sẽ không được bảo hiểm. Những khoản tiền trong phạm vi bảo hiểm sẽ được chi trả cho khách hàng chậm nhất vào ngày 13/3. Đối với phần tiền gửi không được bảo hiểm, người gửi tiền sẽ nhận được chứng chỉ tiếp nhận tiền gửi. Khi FDIC bán tài sản của SVB, FDIC có thể thanh toán thêm cho người gửi tiền không được bảo hiểm. Hành động này đã giúp giảm sự xáo trộn trên thị trường tài chính.
Đối với SB, Cơ quan Dịch vụ tài chính bang New York đã chỉ định FDIC làm nơi tiếp nhận. Để bảo vệ người gửi tiền, FDIC đã thành lập ngân hàng Signature Bridge N.A, tiếp nhận toàn bộ các khoản tiền gửi và tài sản của SB. Cách xử lý đối với SB cũng tương tự SVB, với vai trò của FDIC và Quỹ Bảo hiểm tiền gửi (DIF). Đối với Silvergate Bank, ngân hàng thông báo ngừng hoạt động và tự nguyện thanh lý tài sản một cách có trật tự và phù hợp quy định của pháp luật.
Chính phủ Mỹ cũng điều chỉnh chính sách bằng cách đưa ra Chương trình cho vay dành cho các ngân hàng nhằm tăng cường thanh khoản cho hệ thống tài chính (BTFP). Theo chương trình BTFP, FED sẽ cung cấp cho các ngân hàng khoản vay kỳ hạn một năm, với lãi suất bằng với lãi suất của giao dịch hoán đổi chỉ số qua đêm (OIS) kỳ hạn một năm cộng thêm 0,1%. Các ngân hàng có thể sử dụng các loại chứng khoán đủ điều kiện mà họ có như trái phiếu chính phủ và nợ bảo đảm bằng thế chấp để bảo đảm cho các khoản vay này.
Còn tại Thụy Sĩ, với quy mô, vai trò và tầm ảnh hưởng toàn cầu của ngân hàng Credit Suisse (CS), Ngân hàng Trung ương Thụy Sĩ (SNB) phối hợp Cơ quan Giám sát định chế tài chính Thụy Sĩ (FINMA) đã nhanh chóng ủng hộ ngân hàng UBS mua lại CS với mức giá 3 tỷ franc Thụy Sĩ (3,25 tỷ USD) bằng cách phát hành cổ phiếu mới để hoán đổi cổ phiếu CS. Để hỗ trợ UBS, Chính phủ Thụy Sĩ cũng bảo đảm bù đắp khoản lỗ mà UBS phải gánh chịu khi sáp nhập CS, đồng thời, hỗ trợ thanh khoản cho UBS khi cần thiết.