Xây dựng hệ sinh thái xuất khẩu lao động toàn diện

Thị trường lao động đang ngày càng đòi hỏi người lao động có trình độ tay nghề, kỹ năng cao. Vì thế, công tác đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài cần một sự thay đổi về chất. Đó là chuyển từ "xuất khẩu sức lao động" sang "xuất khẩu nhân lực chất lượng".

Một lớp học tiếng Hàn dành cho học viên chuẩn bị xuất khẩu lao động. Ảnh Văn Học
Một lớp học tiếng Hàn dành cho học viên chuẩn bị xuất khẩu lao động. Ảnh Văn Học

Sau hơn 40 năm, hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài đã trở thành một lĩnh vực kinh tế - xã hội quan trọng, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và thu hút hàng tỷ USD về nước mỗi năm. Tuy nhiên, xu thế mới trên thị trường lao động đang đòi hỏi chúng ta có sự chuyển đổi phù hợp để đón bắt cơ hội từ phân khúc lao động tay nghề cao, thu nhập cao, nhất là trong các ngành dịch vụ - kỹ thuật - công nghệ.

Những "khoảng tối" phía sau con số đẹp

Theo báo cáo của Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Nội vụ), chỉ trong 10 tháng đầu năm 2025, Việt Nam đã có 121.190 lao động đi làm việc ở nước ngoài, đạt 93,2% kế hoạch năm. Dự kiến đến cuối năm, con số này sẽ vượt 130.000 người, tiếp nối thành tích vượt kế hoạch 126,9% của năm 2024, với tổng giai đoạn 2021-2025 đạt 636.000 người, vượt 127% kế hoạch. Lãnh đạo Cục thông tin: Hiện có khoảng 860.000 lao động Việt Nam đang làm việc tại hơn 40 quốc gia, đưa về 6,5 đến 7 tỷ USD mỗi năm. Đây là nguồn ngoại tệ lớn, góp phần cân bằng cán cân thanh toán và cải thiện đời sống hàng triệu hộ gia đình ở Việt Nam.

Báo cáo cũng cho biết, thị trường xuất khẩu lao động của Việt Nam vẫn tập trung chủ yếu vào ba quốc gia truyền thống: Nhật Bản, Đài Loan (Trung Quốc) và Hàn Quốc. Trong 10 tháng năm nay, ba thị trường này chiếm hơn 90% tổng số lao động xuất cảnh: Nhật Bản dẫn đầu với hơn 55.000 người, Đài Loan gần 47.000 người, Hàn Quốc khoảng 10.000 người. Sự ổn định của ba thị trường này đã giúp Việt Nam duy trì vị thế của nước xuất khẩu lao động trong khu vực châu Á. Song, chính mức độ phụ thuộc cao vào một số thị trường trọng điểm cũng là vấn đề cần lưu tâm. Như khi đồng yên Nhật sụt giá, thu nhập thực tế của người lao động giảm mạnh; khi Hàn Quốc thay đổi chính sách visa ngành đóng tàu hoặc khi Đài Loan siết quản lý môi giới, lập tức hàng chục nghìn hợp đồng lao động bị ảnh hưởng.

Đằng sau những thành tích về công tác xuất khẩu lao động, vẫn còn những hạn chế, thách thức nhất định. Đó là cơ cấu lao động xuất khẩu của Việt Nam vẫn nghiêng về lao động phổ thông, kỹ năng thấp, ngoại ngữ kém; doanh nghiệp cung ứng còn phân tán thậm chí có những doanh nghiệp thiếu năng lực tìm kiếm hợp đồng chất lượng cao. Việc môi giới đưa lao động không có giấy phép ra nước ngoài vẫn tồn tại. Điều này không chỉ gây méo mó thị trường mà còn làm tổn hại hình ảnh lao động Việt Nam, ảnh hưởng đến chiến lược phát triển của một loại hình còn nhiều triển vọng.

Qua các hội nghị, hội thảo, nhiều ý kiến đã chỉ rõ những "khoảng tối" vẫn tồn tại, như: Kỹ năng nghề và trình độ ngoại ngữ của người lao động chưa đáp ứng yêu cầu của các thị trường phát triển; một số doanh nghiệp còn thu phí cao, tuyển chọn chưa minh bạch; thủ tục hành chính còn rườm rà, chưa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp; tình trạng lao động bỏ hợp đồng, cư trú bất hợp pháp vẫn diễn ra, ảnh hưởng đến uy tín và hiệu quả hoạt động.

Với tình trạng đó, có thể nói chúng ta đang nặng về xuất khẩu "sức lao động" hơn là "năng lực con người". Mô hình này tuy đã giúp giải quyết việc làm, thu nhập cho người lao động trong thời gian dài nhưng chưa đủ để tạo vị thế bền vững cho Việt Nam trong chuỗi giá trị lao động toàn cầu.

Để mỗi người lao động là một "đại sứ nhân lực"

Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa và chuyển đổi số, nguồn nhân lực chất lượng được xem là "mỏ vàng" của mỗi quốc gia. Như vậy, tư duy về xuất khẩu lao động cũng cần phải thay đổi sâu sắc theo hướng này. Nghĩa là, đưa người đi làm việc ở nước ngoài phải gắn với sự đầu tư về đào tạo cũng như chiến lược phát triển, và tái hòa nhập cho người hồi hương. Nếu xác định người lao động là tài sản chiến lược của quốc gia, chúng ta phải xây dựng một hệ sinh thái xuất khẩu nhân lực toàn diện. Trong đó, Chính phủ với vai trò kiến tạo, sẽ phải gắn đào tạo với thị trường, gắn doanh nghiệp với nhà trường và gắn người lao động với chính sách phát triển quốc gia.

Thứ trưởng Nội vụ Vũ Chiến Thắng nhìn nhận: "Các doanh nghiệp đưa người lao động đi nước ngoài đã và đang chủ động mở rộng thị trường, đầu tư vào đào tạo, tăng cường hợp tác quốc tế, đồng thời góp phần thực hiện chủ trương của Đảng để chuyển từ lượng sang chất, từ xuất khẩu tạm thời sang xuất khẩu giá trị lâu dài vì mục tiêu lớn hơn. Đó là, đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài chính là một hoạt động đối ngoại nguồn nhân lực".

Thực tế cho thấy, muốn gia nhập thị trường có thu nhập cao, năng lực người lao động phải đi trước một bước. Khi người lao động tiếp cận được phân khúc cao, giá trị của họ không chỉ ở số lượng kiều hối gửi về nước, mà còn ở cả tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm, văn hóa được tích lũy trong suốt quá trình làm việc. Mỗi người lao động trở thành một "đại sứ nhân lực", góp phần định vị hình ảnh Việt Nam trong nền kinh tế toàn cầu.

Để đưa định hướng này vào đời sống, Bộ Nội vụ đang khẩn trương sửa đổi một số quy định liên quan, tiếp đó xây dựng Chiến lược đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Tinh thần là chuyển đổi tư duy quản lý từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm", cắt giảm tối đa thủ tục hành chính không cần thiết, triệt tiêu tình trạng "xin-cho". Đồng thời, rà soát và hoàn thiện Nghị định sửa đổi Nghị định số 112/2021/NĐ-CP, ngày 10/12/2021, quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; thực hiện phân cấp, phân quyền cho địa phương trong lĩnh vực đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

Về đào tạo, thực hiện chuẩn hóa theo khung kỹ năng quốc tế (ASEAN Skills, EU Qualifications Framework) để lao động Việt Nam có thể được công nhận bằng cấp và hành nghề toàn cầu. Về doanh nghiệp, cần chuyển từ "công ty dịch vụ xuất khẩu lao động" sang "doanh nghiệp cung ứng nhân lực chất lượng cao", từ đó góp phần tái cấu trúc thị trường và nâng cao chất lượng lao động.

Chuyên gia chính sách Vũ Xuân Hùng phân tích: Chúng ta phải dứt khoát chuyển dịch từ xuất khẩu lao động "chiều rộng" sang "chiều sâu", cạnh tranh bằng "kỹ năng và kỷ luật" thay vì giá rẻ. Để không phụ thuộc vào một số thị trường chính, cơ quan chức năng cần xây dựng các đề án mở rộng sang các thị trường thu nhập cao như Đức, Canada, Australia và nhân rộng mô hình đào tạo tiên tiến.

Ngoài ra, Bộ cần triển khai chương trình đánh giá toàn diện, công khai, minh bạch hoạt động của doanh nghiệp, làm cơ sở để sàng lọc, loại bỏ những doanh nghiệp yếu kém, cạnh tranh thiếu lành mạnh ra khỏi thị trường. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, đẩy mạnh chuyển đổi số. Ưu tiên nguồn lực tối đa cho việc nâng cấp Hệ thống cơ sở dữ liệu về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, và kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư ■

Cộng đồng doanh nghiệp cần chung tay cùng Bộ Nội vụ "làm trong sạch hóa thị trường", đầu tư bài bản vào chất lượng đào tạo và xây dựng thương hiệu lao động Việt Nam ngày càng uy tín, chuyên nghiệp trên trường quốc tế".

Thứ trưởng Nội vụ Vũ Chiến Thắng

Có thể bạn quan tâm

Du khách quốc tế khám phá văn hóa sông nước tại thành phố Cần Thơ. Ảnh: Lâm Phong

Sức bật từ những thương hiệu văn hóa đặc thù

Cùng với hàng nghìn lễ hội truyền thống đặc sắc, thu hút rất đông du khách trong và ngoài nước đến tham quan, trải nghiệm, nhiều mô hình sự kiện văn hóa, liên hoan, lễ hội mới... đã và đang được các địa phương trên cả nước từng bước xây dựng, với kỳ vọng tạo sức bật cho phát triển du lịch từ giá trị, thế mạnh riêng có của mình.

"Ngã tư quốc tế" Tạ Hiện-Lương Ngọc Quyến trong khu phố cổ Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Hà Nội và kỳ vọng mang tên Kinh tế đêm

Lựa chọn gắn với bảo tồn di sản, phát huy tinh hoa văn hóa và thúc đẩy công nghiệp văn hóa, kinh tế đêm tại Thủ đô Hà Nội đang được kỳ vọng trở thành động lực tăng trưởng mới, góp phần xây dựng thương hiệu Thành phố trải nghiệm văn hóa ban đêm an toàn, văn minh, hiện đại và giàu bản sắc.

Vườn quốc gia Cát Tiên trở thành điểm đến mới của du lịch có trách nhiệm tại Việt Nam. Ảnh: Hải Lâm

Động lực mới cho hành trình bảo vệ tài nguyên tự nhiên

Từ bảo tồn biển, du lịch dưới tán rừng đến thích ứng với thiên tai, một số mô hình tại Việt Nam cho thấy hướng phát triển thống nhất trong khai thác, phát triển du lịch kết hợp bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, gìn giữ bản sắc và tạo sinh kế cho người dân.

Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Việt Nam Nguyễn Hồng Hải.

Cần đột phá trong tư duy và hành động

Từ góc nhìn của người có nhiều kinh nghiệm quản lý lĩnh vực văn hóa và du lịch, Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Việt Nam Nguyễn Hồng Hải chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm khơi thông nguồn lực, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiện thực hóa các mục tiêu của du lịch Việt Nam đến năm 2030.

Du khách quốc tế đến với Khu bảo tồn Làng nhà sàn dân tộc sinh thái Thái Hải, tỉnh Thái Nguyên. Ảnh: Lâm Phong

Tạo điểm đến hấp dẫn từ liên kết các giá trị

Du lịch Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ với lượng khách và tổng thu liên tục tăng trưởng. Nhưng để duy trì sức hấp dẫn lâu dài, cần đi xa hơn việc khai thác cảnh quan và di sản, hướng tới phát triển xanh, gìn giữ bản sắc văn hóa và bảo đảm cộng đồng địa phương thật sự được hưởng lợi.

Nổi tiếng hay không thì cuộc sống của vợ chồng chị Vàng Thị Thông vẫn vậy, sáng làm nông, trưa về đón khách. Ảnh: NVCC

Công bằng ngay từ điều kiện phát triển

Ngày nay, những câu chuyện truyền cảm hứng về hành trình lập nghiệp thành công của phụ nữ Việt Nam không còn là cá biệt. Nhưng, phía sau mỗi câu chuyện ấy là câu hỏi lớn hơn: Làm thế nào để cơ hội học tập, tiếp cận công nghệ, nguồn vốn và thị trường không chỉ đến với những người đủ may mắn, đủ kiên trì tự tìm đường, mà trở thành cánh cửa rộng mở cho số đông?

Sáng kiến coLoan, hướng tới hỗ trợ nữ tài xế, người giao hàng tiếp cận phương tiện điện.

Chuyển đổi xanh phải là quá trình chuyển đổi bao trùm

Chuyển đổi xanh đang mở ra những ngành nghề, mô hình kinh doanh và cơ hội sinh kế mới. Tuy nhiên, để phụ nữ thật sự hưởng lợi từ quá trình chuyển đổi, điều quan trọng không chỉ là tạo thêm việc làm xanh, mà còn là tháo gỡ những rào cản khiến họ khó tiếp cận vốn, công nghệ, kỹ năng và thị trường.

Bà Caroline Nyamayemombe, Trưởng đại diện UN Women Việt Nam

“Không để phụ nữ phải tự vượt qua rào cản mang tính hệ thống”

Trao đổi với Nhân Dân cuối tuần nhân Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10, bà Caroline Nyamayemombe, Trưởng đại diện Cơ quan Liên hợp quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho phụ nữ (UN Women) Việt Nam, nhấn mạnh yêu cầu cần chuyển từ mở rộng sự tham gia sang bảo đảm phụ nữ thật sự được hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế.

Nhìn nhận từ thực tế công tác bình đẳng giới tại Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Ảnh: Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

Chặng đường mới đòi hỏi bước tiến mới

Phụ nữ Việt Nam ngày càng khẳng định năng lực trong quản lý nhà nước, sản xuất, kinh doanh, khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, sự hiện diện ngày càng rộng rãi ấy chưa đồng nghĩa với cơ hội bình đẳng trong tiếp cận các vị trí lãnh đạo và quyền quyết định.

Chân chạy Puripol Boonson phá kỷ lục ASIAD ở cả hai nội dung 100 và 200m.

Nhìn sang nhà hàng xóm

Thể thao Thái Lan giành tới 18 Huy chương vàng tại ASIAD 20. Con số của Malaysia, Indonesia lần lượt là chín và năm, với phần lớn ở những nội dung sẽ tranh tài tại Olympic Los Angeles 2028. Khoảng cách giữa thể thao Việt Nam và các nước láng giềng hiện hoàn toàn phụ thuộc vào hướng đi tới đây.

Đội tuyển cầu mây nữ nhận mức đãi ngộ cao sau khi giành Huy chương vàng ASIAD 20.

Tấm lưới đỡ dưới bục huy chương

Cách đây hai năm, nguyên Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Văn Hùng từng trả lời phiên chất vấn Quốc hội xoay quanh tám chính sách về đào tạo, việc làm và tiền thưởng đã áp dụng trên toàn quốc đối với các vận động viên. Tới thời điểm này, đã có những chuyển đổi dần rõ nét.

Bắn súng Việt Nam cần phát triển chiều sâu lực lượng.

Đứng dậy sau thất bại

Bắn súng Việt Nam có một số cá nhân nổi bật, nhưng cần nhiều xạ thủ đủ sức vào chung kết và tranh huy chương ở nhiều nội dung hơn. Nói cách khác, Việt Nam chưa duy trì được sức cạnh tranh đủ rộng và ổn định trước các cường quốc châu Á, từ đó đặt ra yêu cầu phải nâng cấp hệ thống huấn luyện, phát triển lực lượng và đầu tư dài hạn.

Cục trưởng Cục Thể dục Thể thao Việt Nam Nguyễn Danh Hoàng Việt chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần sau kỳ ASIAD 20. Ảnh: Thành Đạt

“Cần đầu tư có chiều sâu cho thể thao”

Đó là khẳng định của Cục trưởng Cục Thể dục Thể thao Việt Nam Nguyễn Danh Hoàng Việt trong cuộc trò chuyện với Nhân Dân cuối tuần, sau ASIAD 20. Theo hướng này, một bản đề án kinh tế thể thao đang được Cục xây dựng, gợi mở thêm những hướng thúc đẩy xã hội hóa và kinh tế thể thao phát triển, từ đó có thêm nguồn lực cho tuyển chọn và đào tạo vận động viên.

Thể thao Việt Nam cần sớm thay đổi để đạt được những mục tiêu đề ra ở ASIAD và Olympic. Ảnh: Bùi Lượng

Bài học từ ASIAD

Thành tích của thể thao Việt Nam tại kỳ Đại hội Thể thao châu Á (ASIAD/Asian Games) lần thứ 20 không chỉ cho thấy sự hụt hơi so với chỉ tiêu khiêm tốn - giành tối thiểu bốn Huy chương vàng, mà còn bộc lộ sự sút kém so với chính mình.

Cán bộ đồn biên phòng Phó Bảng (Tuyên Quang) lắng nghe ý kiến của bà con. Ảnh: Thành Đạt

Khơi dậy khát vọng cống hiến cho đất nước

Trong hành trình dựng nước và giữ nước, dân tộc ta chưa bao giờ thiếu người dám nghĩ, dám làm, dám xông vào nơi đầu sóng ngọn gió để mở đường cho cuộc sống. Từ khát vọng chinh phục thiên tai của người nông dân đến tính tiên phong, bản lĩnh của những cán bộ trước một quyết định lớn, luôn là nguồn sức mạnh đưa đất nước tiến lên. Nghị quyết số 24 -NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị, vì thế, không chỉ đáp ứng yêu cầu công tác cán bộ, mà còn khơi dậy khát vọng chinh phục đã được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử, làm nên cốt cách con người Việt Nam.

Lãnh đạo Thành ủy Quảng Ninh cùng phường Bãi Cháy và các cơ quan chức năng trực tiếp tháo gỡ khó khăn cho các dự án chậm tiến độ trên địa bàn phường.

Khuyến khích hành động và kiểm soát rủi ro bằng thể chế

Nhiều năm qua, thực tiễn đã chứng minh Quảng Ninh luôn là một trong những địa phương được Trung ương đánh giá cao về tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đi trước, làm trước với những kết quả tích cực, qua đó tạo sự phát triển vượt bậc, bứt phá.

Cán bộ xã Sơn Tây Thượng (Quảng Ngãi) hướng dẫn người dân trồng cà-phê xen canh.

Những chuyển động từ cơ sở

Sau một năm triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, bộ máy hành chính tỉnh Quảng Ngãi đã có nhiều chuyển biến rõ nét. Việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền giúp chính quyền cơ sở tự tin, chủ động đưa nhiều quyết sách hợp với thực tiễn, đáp ứng được yêu cầu đổi mới.

Chương trình nghệ thuật đặc biệt Xuân Quê hương 2026. Ảnh: An Đăng

Nối vòng tay lớn, phát huy nguồn lực kiều bào

Trong giai đoạn phát triển mới, việc ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW là yêu cầu khách quan, đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về người Việt Nam ở nước ngoài và công tác người Việt Nam ở nước ngoài.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Canada. Ảnh: Thống Nhất

Tầm nhìn chiến lược trong giai đoạn phát triển mới

Nhất quán tinh thần đoàn kết trong đường lối chiến lược về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW - văn kiện chính trị quan trọng thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng trong giai đoạn phát triển mới.

TS Trần Hải Linh.

Hun đúc sức mạnh đại đoàn kết vì khát vọng chung

Thực tế minh chứng, đại đoàn kết không thể chỉ được thể hiện bằng khẩu hiệu mà phải được cụ thể hóa bằng cơ chế tham gia, đối thoại, phản biện, ghi nhận và sử dụng thực chất những đóng góp của kiều bào. Đó là khẳng định của TS Trần Hải Linh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân và Đầu tư Việt Nam-Hàn Quốc, Chủ tịch sáng lập Hội Chuyên gia, Trí thức Việt Nam-Hàn Quốc, khi trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần.

Trại hè "Việt Nam 2026 - tôn vinh tiếng Việt gắn kết cộng đồng" được tổ chức dành riêng cho con em kiều bào ở xa Tổ quốc. Ảnh: UBNVNONN

Giữ tiếng Việt - Giữ một con đường trở về quê hương

Dù ở Tokyo, Paris, Seoul, Bangkok, Vientiane hay bất cứ nơi nào trên thế giới, khi một người trẻ tự hào nói hai tiếng Việt Nam, chúng ta biết rằng quê hương vẫn đang hiện diện trong trái tim các em. Bởi vậy, gìn giữ tiếng Việt không đơn thuần là gìn giữ sự tồn tại của một ngôn ngữ, mà đó là giữ một con đường trở về quê hương.

Cộng đồng người Việt tại Nga - nhịp cầu vững chắc nối tình hữu nghị Việt-Nga. Ảnh: Tâm Hằng

Chất xúc tác khơi lên tiềm lực kiều bào

Hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ hướng về quê hương, mà nhờ sự gắn kết của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, có thể cùng hơn 100 triệu người Việt Nam trong nước tạo thành một mạng lưới chung của trí tuệ, khát vọng và hành động.

Nghị quyết số 23-NQ/TW mang tới những định hướng quan trọng và rất mới về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và tăng cường gắn kết với quê hương. Ảnh: Xuân Giao

Xây những nhịp cầu mang văn hóa Việt Nam ra thế giới

Bên cạnh câu hỏi quen thuộc “Kiều bào có thể đóng góp gì cho đất nước?”, chúng ta cần đặt thêm một câu hỏi quan trọng không kém: “Đất nước có thể tạo điều kiện ra sao để kiều bào phát huy tốt nhất khả năng đóng góp của mình?”. Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt đối với một cộng đồng đông đảo, đa dạng và có lịch sử hình thành rất khác nhau như người Việt Nam ở nước ngoài.

Minh họa: PHAN DUY THANH

Thách thức trong kỷ nguyên dữ liệu

Trong thời đại mà mỗi phần trăm thành tích đều được đo đạc và tối ưu bằng dữ liệu, thế giới đã bước sang cuộc đua mới, nơi cảm biến và những con số có thể quyết định ranh giới thắng thua.

Vận động viên Hoàng Quý Phước là trường hợp hiếm hoi thuộc chương trình thí điểm khoa học đặc thù.

Khoảng trống còn thiếu

Muốn chinh phục mục tiêu giành từ năm đến bảy Huy chương vàng ASIAD, và phấn đấu có thành tích ổn định ở các kỳ Olympic, thể thao Việt Nam cần nhanh chóng ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào công tác đào tạo và huấn luyện vận động viên. Tuy nhiên, đây vẫn đang là mắt xích yếu nhất, đồng thời là bài toán lớn đầy thách thức ở thời điểm hiện tại.

Chuyên gia Dương Đức Thủy

“Chúng ta đã có máy, nhưng lại để trong kho!”

Đó là câu mà chuyên gia Dương Đức Thủy thốt lên trong cuộc trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần. Bởi, vấn đề của điền kinh Việt Nam không chỉ là thiếu thiết bị, mà là thiếu cả thói quen dùng dữ liệu và tư duy chuyên nghiệp, từ nhà quản lý đến chính vận động viên.