Xác định đúng vai trò, đổi mới tư duy nghiên cứu khoa học cơ bản

Mới đây, tại cuộc làm việc cho ý kiến về công tác nghiên cứu khoa học cơ bản, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có những chỉ đạo phân tích, gợi mở, chỉ rõ điểm nghẽn, định hướng những giải pháp trọng tâm, toàn diện tạo động lực để nghiên cứu khoa học cơ bản phát triển có thêm nhiều đóng góp hơn nữa cho phát triển đất nước.

Hoạt động nghiên cứu khoa học tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. (Ảnh: VÂN NGA)
Hoạt động nghiên cứu khoa học tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. (Ảnh: VÂN NGA)

Định vị nghiên cứu khoa học cơ bản

Đề cập gợi mở của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước về vai trò của nghiên cứu cơ bản đối với phát triển đất nước trong giai đoạn mới, Giáo sư, Tiến sĩ Trần Tuấn Anh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam chia sẻ, muốn quốc gia phát triển có thu nhập cao thì Việt Nam không thể chỉ là đất nước gia công công nghệ mà phải có năng lực tạo ra tri thức mới.

Vai trò của nghiên cứu cơ bản đối với phát triển đất nước được thể hiện rõ khi nghiên cứu cơ bản tạo ra tri thức mới, làm cơ sở cho sự hình thành các công nghệ hiện đại. Nghiên cứu cơ bản đồng thời là nguồn gốc của đổi mới sáng tạo và các công nghệ tương lai.

Bên cạnh đó, nghiên cứu cơ bản góp phần nâng cao năng lực tự chủ của quốc gia. Khi làm chủ được tri thức và các hướng nghiên cứu mới, Việt Nam sẽ từng bước hình thành năng lực nội sinh của nền kinh tế thông qua khoa học và công nghệ, giảm phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu.

Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Minh, nguyên Hiệu trưởng Trường đại học Sư phạm Hà Nội cho rằng, khoa học cơ bản được ví như là cái “móng” của một tòa nhà, là nền tảng cho mọi tiến bộ của khoa học, công nghệ. Nghiên cứu khoa học cơ bản có thể chưa tạo ra sản phẩm ngay lập tức, nhưng đặt nền móng cho tri thức và phương pháp cho các ứng dụng tương lai. Kết quả nghiên cứu cơ bản không chỉ tạo ra “nguyên liệu” mà còn “nuôi dưỡng” cho đổi mới, sáng tạo.

Kết quả của nghiên cứu cơ bản cũng tạo ra động lực cho đổi mới sáng tạo; những phát minh công nghệ đột phá như bán dẫn, AI, lượng tử... đều là kết quả của nghiên cứu cơ bản. Cũng từ khoa học cơ bản đã thúc đẩy sự đổi mới, sáng tạo như phát minh ra vật liệu mới, ra năng lượng sạch; dẫn đến các công nghệ lõi như công nghệ bán dẫn, công nghệ y sinh và nhiều ngành khác.

Nghiên cứu khoa học cơ bản là con đường tốt nhất để đào tạo đội ngũ chất lượng cao góp phần giải quyết các vấn đề cốt lõi của một quốc gia và là con đường hội nhập hiệu quả. Do đó, phát triển nghiên cứu khoa học cơ bản là xu thế và Việt Nam không thể ngoài cuộc.

Theo nhiều nhà khoa học, công tác nghiên cứu khoa học cơ bản là một nội dung rất quan trọng, không chỉ của ngành khoa học và công nghệ, mà còn là vấn đề chiến lược liên quan trực tiếp đến mô hình phát triển, năng lực tự chủ và vị thế quốc gia của Việt Nam trong những thập niên tới.

Nghị quyết số 57-NQ/TW chỉ rõ yêu cầu đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng, chú trọng nghiên cứu cơ bản; trong khi Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 cũng xác định nghiên cứu cơ bản là hoạt động khám phá bản chất, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy.

Đặc biệt, trong kết luận tại cuộc họp về công tác nghiên cứu khoa học cơ bản, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã định hướng rõ ràng, tạo động lực to lớn cho hoạt động nghiên cứu cơ bản phát triển xứng tầm.

Đổi mới tư duy nghiên cứu

Từ góc độ liên kết viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp, Giáo sư, Tiến sĩ Trần Đại Lâm, Viện trưởng Khoa học Vật liệu (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) cho rằng đây chính là một điểm nghẽn trong nghiên cứu khoa học, công nghệ mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã chỉ ra và có phân tích rất sâu sắc.

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Trần Đại Lâm, có hai nguyên nhân từ cả phía các nhà khoa học làm việc trong viện, trường cũng như phía doanh nghiệp. Đối với các nhà khoa học thì quen với cách tiếp cận từ dưới lên, trong phòng thí nghiệm có đam mê gì là chủ động đề xuất hướng nghiên cứu như vậy, không quá quan tâm về nhu cầu của xã hội, nhu cầu của doanh nghiệp.

Về phía doanh nghiệp hoạt động khoa học, công nghệ không nhiều, chủ yếu doanh nghiệp thiên về sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu công nghệ đã có sẵn của nước ngoài. Do đó, nhu cầu kết quả cải tiến sáng chế, cộng tác với các nhà khoa học là không nhiều. Chính vì vậy là mối liên kết tương đối lỏng lẻo.

Vì vậy, trong thời gian tới, với Nghị quyết về 68-NQ/TW là một trong những nghị quyết bộ tứ trụ cột hy vọng cộng đồng khoa học, các nhà doanh nghiệp sẽ có sự bắt tay chặt chẽ hơn, có sự kết nối mật thiết, từ đó nhà khoa học sẽ tìm trong doanh nghiệp những vấn đề để thành đối tượng nghiên cứu của mình, còn doanh nghiệp cũng đồng hành với nhà khoa học ngay từ sớm, từ những kết quả trong phòng thí nghiệm đến khi ra được sản phẩm cuối có thể phục vụ hữu ích cho nhà doanh nghiệp.

Nhấn mạnh quan điểm nghiên cứu khoa học cơ bản là tạo nền tảng tri thức của quốc gia chứ không phải là vấn đề chuyên ngành hẹp mà các nhà khoa học tự do theo đuổi đam mê của mình, Giáo sư, Tiến sĩ Trần Đại Lâm cho rằng, sự khác biệt so với trước đây là nhà khoa học theo đuổi đam mê của mình nhưng cần có định hướng phục vụ cho phát triển công nghệ chiến lược, công nghệ lõi quốc gia.

Việc công bố quốc tế vẫn là cần thiết nhưng nhà khoa học cũng cần tìm hiểu xem đất nước đang cần gì để tập trung trí tuệ vào hướng nghiên cứu đó và khi đó nhu cầu của đất nước, nhu cầu của doanh nghiệp sẽ hiệu quả, thiết thực hơn. Cùng với đó, các nhà nghiên cứu khoa học cơ bản cũng cần làm việc liên ngành để từ đó có kết nối trong quy mô lớn hơn, xây dựng một tập thể khoa học lớn hơn; phát triển liên ngành, xuyên quốc gia, xuyên biên giới, tạo dựng năng lực để chúng ta thành công phát triển công nghệ sẽ cao hơn tiến tới tự chủ về mặt công nghệ.

Đổi mới tư duy nghiên cứu với tinh thần quyết liệt hơn, mạnh mẽ hơn và có tầm nhìn dài hạn hơn đối với nghiên cứu khoa học cơ bản sẽ không chỉ giải quyết câu chuyện của ngành khoa học hôm nay, mà đang chuẩn bị nền tảng tri thức cho tương lai phát triển của đất nước trong nhiều thập niên tới.

Có thể bạn quan tâm

Khoa học công nghệ là động lực để phát triển đất nước thời kỳ mới. (Ảnh: Sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội trong giờ học về Trí tuệ nhân tạo (AI)).

Từ độc lập đến hùng cường: Một Việt Nam đứng vững giữa thời đại

Nếu thế hệ cha anh đã anh dũng giành lấy quyền quyết định vận mệnh dân tộc, thì thế hệ hôm nay mang trên vai sứ mệnh xây đắp nội lực để đất nước thực sự làm chủ tương lai của chính mình. Ngày Quốc khánh 2/9 là dịp để chúng ta nhìn lại chặng đường gian lao đã đi qua để soi rọi con đường phía trước.

Chính sách xóa đói giảm nghèo của Chính phủ làm thay đổi tích cực cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số.

Chính sách xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam qua 40 năm đổi mới

Trong 40 năm qua (1986-2026), cùng với quá trình đổi mới tư duy phát triển và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách xóa đói, giảm nghèo đã có bước chuyển căn bản cả về quan điểm, mục tiêu và phương thức thực hiện.

Cán bộ kỹ thuật VNPT hướng dẫn giáo viên Trường Tiểu học Đại Thịnh (sau sáp nhập) thao tác sử dụng các tính năng của hệ sinh thái giáo dục VnEdu. (Ảnh: VNPT)

Số hóa quản trị trường học sau sáp nhập và lời giải từ VnEdu

Đứng trước bài toán quy mô tăng gấp đôi sau sáp nhập, Trường Tiểu học Đại Thịnh (Mê Linh, Hà Nội) đã nhanh chóng giải tỏa áp lực quản trị và chuẩn hóa dòng dữ liệu “đúng - đủ - sạch - sống” nhờ điểm tựa vững chắc từ Hệ sinh thái giáo dục số VnEdu của VNPT.

OpenAI cắt quyền truy cập mô hình đối với Cursor sau khi SpaceX mua lại

OpenAI cắt quyền truy cập mô hình đối với Cursor sau khi SpaceX mua lại

Ngay sau khi SpaceX hoàn tất thương vụ thâu tóm trị giá 60 tỷ USD đối với Anysphere, công ty chủ quản của công cụ lập trình AI đình đám Cursor, OpenAI đã lập tức tuyên bố trên mạng xã hội X và website chính thức rằng sẽ chấm dứt hợp tác và khóa quyền truy cập trực tiếp của Cursor vào toàn bộ các mô hình trí tuệ nhân tạo của họ.

Giới thiệu sản phẩm ứng dụng AI tại Ngày hội Trí tuệ nhân tạo Việt Nam năm 2025. (Ảnh: HÀ LINH)

Chuyển đổi toàn diện quốc gia bằng trí tuệ nhân tạo

Ngày 28/8/2026, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1671/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Quyết định này thay thế Quyết định số 127/QĐ-TTg ngày 26/1/2021 về ban hành Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng Trí tuệ nhân tạo đến năm 2030.

Đà Nẵng triển khai thành công mô hình Trung tâm điều hành thông minh (IOC).

Nâng cao năng lực số cho cán bộ cơ sở

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, năng lực số không còn là kỹ năng bổ trợ, mà đã trở thành một bộ phận thiết yếu của năng lực thực thi công vụ. Đổi mới phương thức đào tạo sẽ giúp nâng cao năng lực số, giảm tình trạng cán bộ cấp cơ sở không đồng đều về năng lực số ở một số địa phương hiện nay.

Các diễn giả chính và thành viên Ban tổ chức hội thảo. (Ảnh: Tuấn Anh)

Gợi mở hướng nghiên cứu, thúc đẩy cơ hội hợp tác mới trong công nghệ giáo dục và trí tuệ nhân tạo

Hội thảo nhằm tạo diễn đàn để các nhà khoa học, chuyên gia và các bên liên quan cùng trao đổi, thảo luận về những thay đổi mà AI đang tạo ra đối với giáo dục, qua đó gợi mở các hướng nghiên cứu và thúc đẩy những cơ hội hợp tác mới trong lĩnh vực công nghệ giáo dục và trí tuệ nhân tạo.

Ông Nguyễn Khắc Lịch, Cục trưởng Cục Công nghệ số và trí tuệ nhân tạo, công bố Giải thưởng tại cuộc họp báo định kỳ của Bộ Khoa học và Công nghệ. (Ảnh: HÀ LINH)

Giải thưởng Make in Vietnam có hạng mục riêng về trí tuệ nhân tạo

Giải thưởng “Sản phẩm công nghệ số Make in Vietnam” năm 2026 lần đầu tiên có hạng mục riêng dành cho sản phẩm trí tuệ nhân tạo (AI) xuất sắc nhằm khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam phát triển các sản phẩm trí tuệ nhân tạo có giá trị gia tăng cao, góp phần thúc đẩy hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Giao diện Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo. (Ảnh chụp màn hình)

Vận hành Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo

Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo (AI) và cơ sở dữ liệu quốc gia về hệ thống trí tuệ nhân tạo đã được Bộ Khoa học và Công nghệ đưa vào vận hành, hình thành một đầu mối thống nhất phục vụ quản lý nhà nước, cung cấp thông tin và hỗ trợ phát triển hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo Việt Nam an toàn, có trách nhiệm.

Robot taxi tự hành do Công ty cổ phần Phenikaa-X nghiên cứu phát triển là một trong bốn dòng phương tiện được thử nghiệm.

Kiến tạo môi trường để công nghệ được thử nghiệm

Việc Công ty cổ phần Phenikaa-X là đơn vị đầu tiên tại Hà Nội triển khai thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với phương tiện tự hành đánh dấu bước chuyển từ nghiên cứu, phát triển công nghệ sang kiểm chứng trong thực tế, từ quản lý công nghệ mới sang kiến tạo môi trường để công nghệ được thử nghiệm và đưa vào thực tiễn.

Doanh nghiệp tìm hiểu giải pháp hạ tầng trung tâm dữ liệu tại DCCI Summit 2026 (Ảnh Viettel IDC)

Khơi thông dòng chảy dữ liệu

Việt Nam đang từng bước hình thành không gian dữ liệu thống nhất, mở rộng khả năng kết nối, chia sẻ và đưa dữ liệu vào lưu thông. 

Nguyễn Vũ An Chi, học sinh lớp 11 Trường trung học phổ thông Lý Thái Tổ, Hà Nội. (Ảnh: VNPT)

Năm học mới và những “lớp học” trong chiếc điện thoại

Từ thời khóa biểu, tài liệu ôn tập đến những buổi học trực tuyến, chiếc điện thoại kết nối internet đang hiện diện trong nhiều hoạt động học tập hằng ngày của người trẻ. Khi năm học mới bắt đầu, nhu cầu kết nối vì thế không chỉ gắn với liên lạc hay giải trí, mà ngày càng gắn với khả năng học tập chủ động và linh hoạt hơn.

Tỉnh đoàn Tây Ninh và MobiFone Tây Ninh ký kết Thỏa thuận hợp tác chiến lược về chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030. (Ảnh: THANH PHONG)

Tuổi trẻ Tây Ninh tiên phong chuyển đổi số

Nhằm cụ thể hóa mục tiêu về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, ngày 27/8, Tỉnh đoàn Tây Ninh tổ chức Hội nghị tập huấn nâng cao năng lực số cho cán bộ, đoàn viên, thanh niên, học sinh, sinh viên bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến tại 150 điểm cầu ở các xã, phường và trường học trên địa bàn.

(Ảnh minh họa: Bộ Khoa học và Công nghệ)

Không chỉ “có sóng”, người dân cần internet đủ nhanh, ổn định

Điện thoại hiển thị vạch sóng nhưng người dân vẫn khó gửi hồ sơ, truy cập dịch vụ số; có nơi việc liên lạc còn phụ thuộc vào “may rủi”. Thông tư số 51/2026/TT-BKHCN đưa ra cách tiếp cận mới: phổ cập viễn thông công ích không chỉ được tính bằng vùng phủ, mà phải được kiểm chứng bằng chất lượng kết nối thực tế.

Cần thu hút và giữ chân những tổng công trình sư, chuyên gia, nhà khoa học đủ năng lực đảm nhận các nhiệm vụ công nghệ chiến lược. (Ảnh: Bộ Khoa học và Công nghệ)

Tạo sức hút mới với nhân lực công nghệ chiến lược

Người giỏi có thể được thu hút bằng thu nhập, nhưng để họ ở lại và tạo ra kết quả, cần những bài toán đủ lớn, phòng thí nghiệm hiện đại, đội ngũ cộng sự và quyền quyết định chuyên môn. Nghị định số 260/2026/NĐ-CP đã mở cơ chế theo hướng đó; vấn đề còn lại là đưa chính sách vào thực tiễn.

Tăng cường khả năng ứng dụng, thương mại hóa đối với sản phẩm công nghệ. (Ảnh: Bộ Khoa học và Công nghệ)

Đặt hàng từ thực tiễn, đo kết quả bằng sản phẩm

Thay vì bắt đầu từ đề xuất nghiên cứu và chờ đến khi nghiệm thu mới đánh giá, nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược sẽ được hình thành từ bài toán thực tế, chia theo từng gói công việc và sàng lọc qua các mốc kết quả. Cách làm mới hướng nguồn lực nhà nước vào công nghệ có khả năng ứng dụng, thương mại hóa.