Vẽ tranh dân gian Đông Hồ bằng ngôn ngữ ballet

Tranh Đông Hồ với những giá trị văn hóa truyền thống độc đáo từng là nguồn cảm hứng sáng tạo của nhiều lĩnh vực như thời trang, âm nhạc, mỹ thuật…, song hiếm khi được sử dụng làm chất liệu sáng tác của nghệ thuật vũ đạo.
Vở diễn tôn vinh vẻ đẹp của tranh dân gian Đông Hồ qua ngôn ngữ của nghệ thuật ballet kết hợp múa dân gian và múa đương đại. (Ảnh VNOB)
Vở diễn tôn vinh vẻ đẹp của tranh dân gian Đông Hồ qua ngôn ngữ của nghệ thuật ballet kết hợp múa dân gian và múa đương đại. (Ảnh VNOB)

Bởi thế, khi “Đông Hồ”- vở ballet mới nhất của Nhà hát Nhạc vũ kịch Việt Nam công diễn tại Nhà hát Lớn Hà Nội (tối 22-23/3) đã khiến người xem bất ngờ trước sự kết hợp đầy thú vị giữa vẻ đẹp của hội họa dân gian truyền thống và ngôn ngữ ballet cổ điển thế giới.

Cũng như những bức tranh Đông Hồ được in bởi nhiều lớp mầu khác nhau trên giấy dó, vở diễn được tạo nên bởi sự hòa quyện ăn ý giữa những lớp múa ballet và múa dân gian, múa đương đại.

Trong thời lượng hơn một giờ đồng hồ, trên nền nhạc của bản giao hưởng “Bốn mùa” (New for Seasons) do nhà soạn nhạc cổ điển đương đại Max Richter biên soạn lại từ bản gốc cùng tên của Atonio Vivaldi (nhà soạn nhạc nổi tiếng người Italia đầu thế kỷ 18), vở diễn đã “họa” lại nét đặc sắc của 11 bức tranh Đông Hồ nổi tiếng bằng ngôn ngữ cơ thể của gần 20 diễn viên nam, nữ tài năng.

Ở đó, “Hứng dừa”, “Tố nữ”, “Chăn trâu thả diều”, “Đám cưới chuột”, “Đánh ghen”, “Vinh quy bái tổ”, “Lý ngư vọng nguyệt”… đã không còn là những bức tranh dân gian tĩnh mà hiện lên đầy sống động trong sự chuyển động, tiếp biến không ngừng. Dưới bàn tay dàn dựng của biên đạo Nguyễn Ngọc Anh, quốc tịch Anh gốc Việt, hiện đang làm việc tại Học viện Nghệ thuật biểu diễn Hồng Kông (Trung Quốc), vở ballet “Đông Hồ” không tập trung vào phương pháp kể chuyện chi tiết mà đưa người xem hướng tới sự giản dị, tinh tế được truyền tải một cách trừu tượng, thiên về tính cảm nhận.

Nếu theo dõi kỹ, có thể nhận ra ở một số phân đoạn, cảnh kết của màn này được sử dụng làm cảnh bắt đầu của các màn tiếp theo, tạo sức gợi về sự liên kết, vận động liên tục, góp phần nối dài thêm những giá trị của thông điệp “cho” và “nhận” xuyên suốt vở diễn.

Biên đạo múa Nguyễn Ngọc Anh tâm sự, dù phần lớn thời gian sống ở nước ngoài nhưng tâm hồn anh vẫn luôn hướng về Việt Nam. “Tôi mong muốn mang đến cho tranh Đông Hồ một linh hồn mới, bằng nét vẽ mới, không phải chỉ là khuôn gỗ hay thiết kế trang phục, mà bằng “ngòi bút” sắc sảo tạo nên bởi mũi những đôi giày của nghệ sĩ ballet, giúp cảm xúc của công chúng đến được và “chạm” vào chân trời mới của nghệ thuật ballet trong niềm tự hào về văn hóa truyền thống dân tộc”, biên đạo Ngọc Anh chia sẻ.

Theo anh, bản thân mỗi bức tranh Đông Hồ đã giàu hình ảnh, mầu sắc và mang những câu chuyện riêng, cho nên khi diễn đạt bằng ngôn ngữ múa, thách thức đặt ra là làm thế nào để làm bật lên được cái hồn cốt, nét duyên dáng đặc trưng thuần Việt chứa đựng trong đó.

Đó là lý do trong thời gian eo hẹp chỉ khoảng chưa đầy một tháng làm việc trực tiếp cùng dàn nghệ sĩ Nhà hát Nhạc vũ kịch Việt Nam, biên đạo Ngọc Anh không chỉ yêu cầu diễn viên thực hiện tốt kỹ thuật vũ đạo mà còn phải thể hiện được thần thái, tính cách nhân vật thông qua ánh mắt, nét mặt, cử chỉ.

Thưởng thức vở diễn, có thể thấy rõ những nỗ lực trong thể hiện nội tâm nhân vật của Nghệ sĩ Ưu tú Như Quỳnh, Nghệ sĩ Ưu tú Phan Lương, Nghệ sĩ Ưu tú Việt An, Thu Hằng, Đức Hiếu, Lệ Thanh... trong các màn diễn như: “Đánh ghen”, “Đám cưới chuột”, “Thiếu phụ bồng con”...

Tham gia diễn xuất xuyên suốt nhiều phân đoạn của vở diễn, Nghệ sĩ Ưu tú Phan Lương, Trưởng đoàn Vũ kịch của Nhà hát cho biết: Về mặt vũ đạo, vở diễn khai thác yếu tố múa ballet cổ điển châu Âu, đòi hỏi phần chân diễn viên phải có sự chắc chắn trong tạo hình.

Trong khi đó, yếu tố dân gian lại đòi hỏi sự mềm mại uyển chuyển cho nên những động tác sử dụng nhiều cơ xoáy, xoắn, uốn ở phần trên của diễn viên đã được huy động triệt để để tạo sự sóng sánh của cơ thể trong loạt chuyển động liên tục. Muốn đáp ứng, diễn viên phải có những kỹ năng cơ bản tốt để có thể tiếp tục phát triển động tác...

Chỉ với những đạo cụ giản đơn như chiếc quạt giấy, những sợi dây đen tượng trưng cho suối tóc, sự kết nối, hòa quyện trong sắc mầu tươi tắn của tranh Đông Hồ cùng họa tiết tiêu biểu trên yếm thắm của diễn viên nữ, vở diễn vẫn tạo được ấn tượng thị giác cho người xem, nhất là khi kết hợp cùng công nghệ ánh sáng, hình ảnh, tạo nên không gian nghệ thuật vừa quen thuộc vừa mới mẻ, vừa truyền thống vừa hiện đại.

Đây không phải lần đầu ballet, loại hình nghệ thuật cổ điển châu Âu được sử dụng như ngôn ngữ để kể câu chuyện về văn hóa Việt. Trước đó, Nhà hát Nhạc vũ kịch Việt Nam đã trình diễn “Hàm lệ minh châu”, vở ballet lấy cảm hứng từ truyền thuyết dân gian xoay quanh câu chuyện tình yêu Mỵ Châu-Trọng Thủy; biên đạo múa Tuyết Minh cũng từng dàn dựng “Ballet Kiều” cho các nghệ sĩ Nhà hát Giao hưởng Nhạc vũ kịch Thành phố Hồ Chí Minh dựa trên tuyệt tác văn học “Truyện Kiều”...

Điều này cho thấy, văn hóa dân gian, dân tộc vẫn luôn là suối nguồn cảm hứng không ngừng tuôn chảy. Với “Đông Hồ”, các nghệ sĩ tiếp tục khẳng định “chìa khóa” để mở đường cho văn hóa Việt Nam bước ra thế giới bằng chính những hình thức sáng tạo mới trên nền những giá trị văn hóa truyền thống. Ấy cũng là cách giúp nghệ thuật chinh phục công chúng hiện đại trên cơ sở tiếp nối, bảo tồn và phát huy những tinh hoa văn hóa dân tộc.

Có thể bạn quan tâm

Cảnh trong vở kịch ngắn “Chuyện nhà chị Tín” của Nhà hát Kịch Việt Nam biểu diễn tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. (Ảnh: THƯƠNG NGUYỄN)

Mở lối để sân khấu tiếp cận công chúng

Không thiếu những cuộc thi, liên hoan được tổ chức rầm rộ, những vở diễn mới liên tục ra mắt mỗi năm, nhưng sân khấu nước ta vẫn đang loay hoay đi tìm khán giả. Lý do tình trạng này là bởi các đơn vị chức năng chưa xây được nhịp cầu đủ mạnh để kết nối với công chúng trong môi trường truyền thông đang thay đổi từng ngày.

Các văn nghệ sĩ trong chuyến đi thực tế tại mỏ than ở Quảng Ninh vào dịp Ngày Thơ Việt Nam năm 2026. (Ảnh: THIÊN AN)

Chuyển động mới của văn học viết về công nhân

Trong dòng chảy của văn học đương đại, đề tài công nhân từng là mạch nguồn quan trọng, được khai thác nhiều, nhưng cũng có giai đoạn gần như vắng bóng. Vài năm trở lại đây, mảng đề tài này được quan tâm hơn, không còn bó hẹp trong khuôn mẫu cũ mà thể hiện góc nhìn đa chiều, gắn với nhịp vận động của xã hội hiện đại. 

Hơn 50.000 khán giả có mặt tại Sân vận động quốc gia Mỹ Đình thưởng thức chương trình “Tổ quốc trong tim”. (Ảnh THÀNH ĐẠT)

Hoàn thiện thể chế, tạo đà cho văn hóa bứt phá

Ngày 24/4, Quốc hội chính thức thông qua Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam với tỷ lệ tán thành cao (477/489 đại biểu). Nghị quyết đánh dấu bước chuyển quan trọng trong hoàn thiện thể chế, tạo đà cho văn hóa thật sự bứt phá, trở thành nguồn lực nội sinh và động lực đưa đất nước phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn mới.

Nguyễn Bảo Yến (áo vàng) và các thành viên Hội đồng đánh giá luận án và các giảng viên hướng dẫn của Nhạc viện Quốc gia S.V.Rachmaninov.

Nguyễn Bảo Yến: Từ Quán quân Sao Mai đến Tiến sĩ âm nhạc đầu tiên của Việt Nam ở nước ngoài

Tại Nhạc viện Quốc gia S.V.Rachmaninov bên dòng sông Đông của nước Nga vừa diễn ra một sự kiện đáng nhớ khi Quán quân Sao Mai năm 2015 Nguyễn Bảo Yến bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ chuyên ngành âm nhạc. Cô cũng là nữ ca sĩ Việt Nam đầu tiên được nhận học vị Tiến sĩ âm nhạc ở nước ngoài.

Các đại biểu cắt băng khai trương Tuần văn hóa Thanh Hóa-Hội An.

Tuần văn hóa kỷ niệm 65 năm kết nghĩa Thanh Hóa-Hội An

Kỷ niệm 65 năm ngày kết nghĩa giữa đô thị tỉnh lỵ Thanh Hóa và Hội An, thành phố Đà Nẵng (1961-2026), tại Công viên Hội An ở phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa diễn ra chuỗi hoạt động, sự kiện trong khuôn khổ Tuần lễ văn hóa tôn vinh nghĩa tình Thanh Hóa-Hội An.

Khuôn viên di tích Giồng Bốm là toàn bộ khu vực của Thánh thất Ngọc Minh gồm 3 ngôi nhà: Hiệp thiên đài, Cửu trùng đài và Bát quái đài. (Ảnh: Mộng Thường)

Giồng Bốm 80 năm: Hào khí “đạo không rời đời”

Tám mươi năm là một quãng lùi đủ dài để khói lửa chiến tranh tan vào hư không, nhường chỗ cho màu xanh trù phú phủ lên mảnh đất Phong Thạnh kiên cường. Thế nhưng, thời gian dẫu có bào mòn vạn vật cũng chẳng thể xóa nhòa ký ức bi tráng về rực lửa năm 1946 tại vùng đất cực nam Tổ quốc.

Sinh viên tái hiện đám cưới Nam Kỳ xưa.

Vĩnh Long khơi dậy dòng chảy văn hóa dân tộc trong lòng thế hệ trẻ

Trường đại học Sư phạm kỹ thuật Vĩnh Long vừa tổ chức Chương trình  “Khoa thi Minh kinh bác học” lần thứ I năm 2026. Việc tái hiện không gian khoa bảng xưa và những nghi lễ truyền thống của vùng đất Nam Bộ ngay tại giảng đường không chỉ là sân chơi văn hóa, mà còn là hành trình bồi đắp lòng tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ.