Từ Mưa đỏ đến Hồi ức Quảng Trị: Khúc ca bi tráng về chiến tranh và giá trị của hòa bình

Khi khán giả rời rạp sau bộ phim Mưa đỏ, nhiều người vẫn lặng đi, với những cảm xúc nặng trĩu. Đó không chỉ là nỗi xúc động đơn thuần của kỹ xảo điện ảnh mà còn là sự gợi nhắc, rung động sâu sắc về những trang ký ức 81 ngày đêm Thành cổ Quảng Trị trong cuốn sách Hồi ức Quảng Trị của tác giả Nguyễn Thuỵ Kha.

Những ngày Tháng Tám cờ hoa, bộ phim Mưa đỏ đang được công chiếu tại các rạp chiếu phim trên cả nước, khắc họa lại 81 ngày đêm bi tráng của trận chiến Thành cổ Quảng Trị năm 1972, thu hút đông đảo khán giả thưởng thức.

Tiếp nối sâu sắc mạch cảm xúc về những hiện thực lịch sử bi tráng của trận Thành cổ Quảng Trị, độc giả tìm về với ký ức lịch sử qua cuốn sách Hồi ức Quảng Trị, tác phẩm do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản lần thứ ba.

z6956100177269-3d4fd2eed72e59e9d4a4b8c0fd10ed45.jpg
Cuốn sách Hồi ức Quảng Trị của tác giả Nguyễn Thụy Kha vừa được Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản lần thứ ba.

Nội dung tác phẩm là những dòng hồi ký, nhật ký chiến trường, giúp chúng ta của ngày hôm nay hiểu sâu hơn rằng đằng sau từng thước phim là cả một hiện thực khốc liệt, nơi những người lính phải đánh đổi tuổi trẻ và sinh mạng để giữ lấy từng tấc đất quê hương.

Hồi ức Quảng Trị tái hiện một cách chân thực 81 ngày đêm ở Thành cổ năm 1972, thời điểm được coi là “mùa hè đỏ lửa” trong lịch sử cuộc chiến tranh chống Mỹ của dân tộc. Nếu trong phim, hình ảnh những chiến sĩ nằm lại dưới những lớp đất đá đổ rào rào khiến người xem rơi nước mắt, thì trong cuốn sách, từng câu chữ làm chúng ta nghẹn ngào: “Chúng tôi chiến đấu trong mưa bom bão đạn, có khi cả ngày không ngẩng đầu lên được, chỉ biết giữ súng mà bắn” . Cảm xúc khán giả khi chứng kiến những hình ảnh bi tráng, khốc liệt trên màn ảnh chính là sự cộng hưởng với những dòng chữ được hồi tưởng về những tháng ngày quần thảo với đạn bom, cái chết luôn hiện hữu.

Sự khốc liệt của chiến tranh hiện lên rõ nét qua từng trang sách. Những chi tiết đời thường như bữa cơm chỉ có mẩu bánh chuyền tay, giọt nước chia nhau trong hầm làm người đọc thêm thấm thía cái giá của hòa bình. Có đoạn viết: “Trong hầm trú ẩn chật hẹp, chúng tôi chuyền nhau mẩu bánh, nhìn nhau cười để quên đi tiếng bom nổ trên đầu”.

Đó là chi tiết khiến khán giả liên tưởng ngay đến những cảnh phim các chiến sĩ chia sẻ từng giọt nước, từng cái ôm ấm tình đồng đội. Cả bộ phim và cuốn sách đều nhấn mạnh rằng ngay trong hoàn cảnh khốc liệt nhất, tình người vẫn sáng lên, để chiến tranh không chỉ là sự hủy diệt mà còn là nơi bộc lộ phẩm chất cao đẹp nhất của con người.

Điều đặc biệt ở Hồi ức Quảng Trị là sự đối chiếu hai phía chiến tuyến. Nếu khán giả trong rạp rùng mình khi chứng kiến kẻ thù ngã xuống trong nỗi tuyệt vọng, thì cuốn sách đã ghi lại tâm trạng ấy: “Họ không có ước mơ, hoài bão tuổi trẻ, họ chiến đấu vì sự sống còn của bản thân, thấy sự hy sinh của mình là vô nghĩa”. Cảm xúc khán giả vì thế không chỉ dừng ở lòng thương tiếc, sự tri ân những chiến sĩ Giải phóng đã ngã xuống bên ta, mà còn gợi lên sự xót xa cho những số phận người lính ở phía bên kia. Chiến tranh, xét đến cùng, là mất mát cho tất cả.

Khán giả xúc động khi thấy hình ảnh dòng Thạch Hãn nhuộm đỏ trong Mưa đỏ, còn trong Hồi ức Quảng Trị, dòng sông hiện lên như một chứng nhân: “Dòng Thạch Hãn đã gồng mình chở xác bao đồng đội, như chứng nhân lặng lẽ của cuộc chiến”. Sự tương đồng ấy khiến cảm xúc từ rạp phim lan tỏa sang trang sách, và ngược lại, để mỗi người đọc, người xem thêm một lần chiêm nghiệm về sự linh thiêng của độc lập, tự do.

Khi bộ phim khép lại, khán giả không chỉ rưng rưng mà còn trăn trở: Ta sẽ làm gì để xứng đáng với sự hy sinh ấy? Câu trả lời có sẵn trong Hồi ức Quảng Trị: “Máu xương chúng tôi gửi lại nơi này không phải để ai thương hại, mà để đất nước vươn lên mạnh mẽ”. Cảm xúc khán giả sau bộ phim chính là động lực để họ tìm đến trang sách, nơi những người đi trước nhắn gửi niềm tin vào tương lai, rằng hòa bình cần được gìn giữ bằng sự nỗ lực và trách nhiệm của mỗi thế hệ.

Cuốn sách Hồi ức Quảng Trị không chỉ là tập hợp hồi ký, nhật ký chiến trường mà còn là một chứng tích sống động của lịch sử, nơi từng câu chữ thấm đẫm máu xương và khát vọng tự do. Đọc sách, độc giả không chỉ được trở về với 81 ngày đêm Thành cổ bi tráng, mà còn cảm nhận sâu sắc giá trị của hòa bình hôm nay. Đây là một tác phẩm cần thiết để mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ, thêm một lần tri ân, ghi nhớ và tự nhủ về trách nhiệm giữ gìn, xây dựng đất nước trong thời bình.

Có thể bạn quan tâm

Nhà báo Hữu Việt và các diễn giả Phạm Thị Kim Oanh, Phan Cẩm Tú tại buổi tọa đàm. (Ảnh: HỒNG QUÂN)

Bảo vệ bản quyền từ góc nhìn của lĩnh vực điện ảnh

Trong các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, điện ảnh là một trong số những loại hình bị vi phạm bản quyền nhiều nhất. Ở kỷ nguyên số, công nghệ và trí tuệ nhân tạo là sự tiến bộ nhưng cũng là những công cụ đắc lực để sao chép và phát tán sản phẩm điện ảnh, gây ảnh hưởng nặng nề nhiều mặt.

Phối cảnh công trình biểu tượng bông lúa Cà Mau.

Giá trị văn hóa từ "Biểu tượng bông lúa" ở Cà Mau

Sự phát triển của một địa phương trong kỷ nguyên mới không chỉ được đong đếm một cách cơ học bằng những con đường rải nhựa, hay những cây cầu bê-tông nối nhịp đôi bờ. Tầm vóc và sức sống của một vùng đất còn được khắc họa đậm nét qua những biểu tượng văn hóa mang tầm nhìn chiến lược.

Cảnh trong vở kịch ngắn “Chuyện nhà chị Tín” của Nhà hát Kịch Việt Nam biểu diễn tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. (Ảnh: THƯƠNG NGUYỄN)

Mở lối để sân khấu tiếp cận công chúng

Không thiếu những cuộc thi, liên hoan được tổ chức rầm rộ, những vở diễn mới liên tục ra mắt mỗi năm, nhưng sân khấu nước ta vẫn đang loay hoay đi tìm khán giả. Lý do tình trạng này là bởi các đơn vị chức năng chưa xây được nhịp cầu đủ mạnh để kết nối với công chúng trong môi trường truyền thông đang thay đổi từng ngày.

Các văn nghệ sĩ trong chuyến đi thực tế tại mỏ than ở Quảng Ninh vào dịp Ngày Thơ Việt Nam năm 2026. (Ảnh: THIÊN AN)

Chuyển động mới của văn học viết về công nhân

Trong dòng chảy của văn học đương đại, đề tài công nhân từng là mạch nguồn quan trọng, được khai thác nhiều, nhưng cũng có giai đoạn gần như vắng bóng. Vài năm trở lại đây, mảng đề tài này được quan tâm hơn, không còn bó hẹp trong khuôn mẫu cũ mà thể hiện góc nhìn đa chiều, gắn với nhịp vận động của xã hội hiện đại. 

Hơn 50.000 khán giả có mặt tại Sân vận động quốc gia Mỹ Đình thưởng thức chương trình “Tổ quốc trong tim”. (Ảnh THÀNH ĐẠT)

Hoàn thiện thể chế, tạo đà cho văn hóa bứt phá

Ngày 24/4, Quốc hội chính thức thông qua Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam với tỷ lệ tán thành cao (477/489 đại biểu). Nghị quyết đánh dấu bước chuyển quan trọng trong hoàn thiện thể chế, tạo đà cho văn hóa thật sự bứt phá, trở thành nguồn lực nội sinh và động lực đưa đất nước phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn mới.

Nguyễn Bảo Yến (áo vàng) và các thành viên Hội đồng đánh giá luận án và các giảng viên hướng dẫn của Nhạc viện Quốc gia S.V.Rachmaninov.

Nguyễn Bảo Yến: Từ Quán quân Sao Mai đến Tiến sĩ âm nhạc đầu tiên của Việt Nam ở nước ngoài

Tại Nhạc viện Quốc gia S.V.Rachmaninov bên dòng sông Đông của nước Nga vừa diễn ra một sự kiện đáng nhớ khi Quán quân Sao Mai năm 2015 Nguyễn Bảo Yến bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ chuyên ngành âm nhạc. Cô cũng là nữ ca sĩ Việt Nam đầu tiên được nhận học vị Tiến sĩ âm nhạc ở nước ngoài.

Các đại biểu cắt băng khai trương Tuần văn hóa Thanh Hóa-Hội An.

Tuần văn hóa kỷ niệm 65 năm kết nghĩa Thanh Hóa-Hội An

Kỷ niệm 65 năm ngày kết nghĩa giữa đô thị tỉnh lỵ Thanh Hóa và Hội An, thành phố Đà Nẵng (1961-2026), tại Công viên Hội An ở phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa diễn ra chuỗi hoạt động, sự kiện trong khuôn khổ Tuần lễ văn hóa tôn vinh nghĩa tình Thanh Hóa-Hội An.

Khuôn viên di tích Giồng Bốm là toàn bộ khu vực của Thánh thất Ngọc Minh gồm 3 ngôi nhà: Hiệp thiên đài, Cửu trùng đài và Bát quái đài. (Ảnh: Mộng Thường)

Giồng Bốm 80 năm: Hào khí “đạo không rời đời”

Tám mươi năm là một quãng lùi đủ dài để khói lửa chiến tranh tan vào hư không, nhường chỗ cho màu xanh trù phú phủ lên mảnh đất Phong Thạnh kiên cường. Thế nhưng, thời gian dẫu có bào mòn vạn vật cũng chẳng thể xóa nhòa ký ức bi tráng về rực lửa năm 1946 tại vùng đất cực nam Tổ quốc.