Tháng Sáu, Ngày Âm nhạc thế giới luôn là dịp để nhắc nhớ về sức mạnh nguyên thủy của âm nhạc. Ở nước ta, sức mạnh ấy vẫn luôn đến từ muôn vàn nghệ sỹ, đơn vị lớn nhỏ đã góp công sức làm nên, và trong số đó, Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam (Vietnam National Symphony Orchestra - VNSO) là một minh chứng tiêu biểu, ngọn cờ đi đầu trong hành trình âm nhạc ấy. Sự ra đời và tồn tại bền bỉ, vượt qua bao năm tháng gian khó của dàn nhạc như một minh chứng cho sự bền bỉ của nghệ thuật hàn lâm tại nước nhà. Đi qua hơn bốn thập kỷ, tập thể ấy từng bước xóa mờ rào cản vô hình giữa âm nhạc nghệ thuật và công chúng, vươn mình trở thành một nhịp cầu văn hóa của quốc gia. Gắn bó với dàn nhạc từ những ngày đầu, Giám đốc Trịnh Tùng Linh mang trong mình góc nhìn sâu sát của một người từng ngồi ở vị trí nhạc công cho tới khi gánh vác vai trò quản lý. Câu chuyện của ông cũng chính là lát cắt chân thực về sự chuyển mình của một dàn nhạc quốc gia. (COPY)

Ngày 14 tháng 6 năm 1984, Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam chính thức được thành lập theo quyết định của Bộ Văn hóa. Đất nước giai đoạn đó vẫn ngổn ngang trăm bề sau chiến tranh, bài toán kinh tế đè nặng lên từng gia đình. Việc đặt nền móng cho một đơn vị biểu diễn nghệ thuật bác học đạt chuẩn quốc gia ngay lúc ấy mang một ý nghĩa lớn, bởi phía sau nó là một niềm tin: đời sống tinh thần của con người không thể để dành đến khi no đủ. Người dân có quyền nghe những gì tinh túy nhất của nhân loại ngay trong thiếu thốn, bởi chính âm nhạc mới là chỗ con người tựa vào giữa bộn bề.

Nhìn ở một góc độ rộng hơn, việc thành lập Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam năm 1984 không đơn thuần là một quyết định về nghệ thuật. Đó còn là một lựa chọn mang ý nghĩa văn hóa của một quốc gia vừa bước qua chiến tranh và đang trong quá trình tái thiết. Trên thế giới, sự hiện diện của một dàn nhạc giao hưởng quốc gia thường được xem là dấu hiệu cho thấy một nền văn hóa đã đạt tới mức độ tổ chức và phát triển nhất định, bởi loại hình nghệ thuật này đòi hỏi hệ thống đào tạo bài bản, đội ngũ nghệ sĩ chuyên nghiệp, cơ sở vật chất đồng bộ và một cộng đồng công chúng có nhu cầu tiếp nhận. Bởi vậy, sự ra đời của VNSO trong hoàn cảnh còn nhiều khó khăn khi ấy có thể được xem như một tuyên ngôn rằng đời sống tinh thần cũng là một phần không thể thiếu của công cuộc phát triển đất nước.

Người đặt những viên gạch đầu tiên là cố nghệ sĩ, nhạc trưởng, nhạc sĩ Đỗ Dũng, vị giám đốc đầu tiên của dàn nhạc. Suốt hơn hai mươi năm kế tiếp, bao thế hệ nghệ sĩ đồng hành cùng dàn nhạc đã chứng kiến những thăng trầm, đổi mới trong khó khăn của đất nước, mà vẫn truyền cho nhau lửa nghề và tinh thần nguyên vẹn dù nhiều người đã đi xa.

Và ngọn lửa ấy đã có cơ hội được toả hơi ấm mạnh mẽ, qua bước ngoặt năm 2005, khi dàn nhạc chuyển sang phương thức hoạt động mới, tăng cường cả về số lượng lẫn chất lượng, cùng với hệ thống lịch diễn khoa học, bài bản: các chương trình hoà nhạc được xây dựng theo mùa, có lịch diễn cố định, có bán vé trước. Nghe qua thì tưởng chừng không quá phức tạp, nhưng để giữ được những đêm hòa nhạc đều đặn, dàn nhạc phải đứng trước rất nhiều thách thức: địa điểm, kinh phí và con người. Thật may mắn, thách thức là vậy, nhưng các chương trình “Hoà nhạc đặt vé trước” ấy đến nay đã đi qua gần hai trăm số.

Thay đổi thấy rõ nhất là ở khán phòng. Có thời, những đêm thính phòng phải mời người đến lấp chỗ trống. Nay nhiều chương trình hết vé từ sớm, và người ngồi dưới ngày một trẻ. Khoảng cách giữa nhạc hàn lâm với người nghe được rút lại dần dần, không phải bằng cách chiều theo thị hiếu, mà bằng việc kiên nhẫn gây dựng một thói quen.

Để công chúng bước qua được sự e dè ban đầu, giám đốc Trịnh Tùng Linh chia sẻ: “Hãy đến với âm nhạc cổ điển bằng tâm thế nhẹ nhàng nhất. Đừng tự gồng mình rằng phải hiểu thật sâu mới được nghe. Ai cũng có thể đến được với nhạc cổ điển”. Với ông, cảm xúc chính là cánh cửa đầu tiên để chạm tới trái tim của khán giả.

Cứ thế, sự nỗ lực và thành quả của VNSO được bồi đắp qua từng chuyến đi ra biển lớn. Từ lần xuất ngoại đầu tiên tới Trung Quốc năm 2000, dàn nhạc tiếp tục ghi dấu ấn tại Carnegie Hall và Boston Symphony Hall của Hoa Kỳ năm 2011. VNSO lần lượt trình diễn tại Nhà hát La Fenice ở Ý năm 2013 và Nhạc viện Tchaikovsky ở Nga năm 2014. Mỗi điểm đến là một lời khẳng định về năng lực chuyên môn của nghệ sĩ Việt Nam trước những tượng đài âm nhạc lâu đời nhất thế giới. Và chúng ta đã làm được điều đó.

Ngồi dưới khán phòng, người ta chỉ thấy thành quả cuối cùng. Ít ai hình dung một dàn nhạc phải vận hành thế nào để có được đêm diễn suôn sẻ ấy. Ông Trịnh Tùng Linh ví dàn nhạc với một đội bóng: ai cũng có vai trò riêng, nhưng cái hay nằm ở sự ăn ý. Một nốt vào sai, một nhịp đi lệch, tai người yêu nhạc sẽ bắt được ngay.

Sự ăn ý ấy không tự dưng mà có. Nó là kết quả của hàng nghìn giờ tập đi tập lại, của việc mấy chục, mấy trăm con người tập lắng nghe nhau cho đến khi gần như phải đoán định được hơi thở của người ngồi cạnh. Một dàn nhạc giỏi không nằm ở chỗ ai chơi hay nhất, mà ở chỗ tất cả cùng hoà điệu và tôn nhau lên nhờ sự phối hợp ăn ý. Cái khó của người nghệ sĩ trong dàn nhạc, vì thế, đôi khi lại là học cách lùi xuống đúng lúc: biết nhường tiếng cho giai điệu chính, biết giữ mình trong một khoảng lặng. Ít loại hình nào đòi hỏi kỷ luật và tinh thần tập thể đến thế.

Có lẽ cũng vì vậy mà nhiều người xem dàn nhạc giao hưởng như hình ảnh thu nhỏ của một xã hội văn minh. Mỗi nghệ sĩ đều phải đạt tới trình độ cá nhân rất cao, nhưng đồng thời phải biết tiết chế cái tôi để phục vụ một mục tiêu lớn hơn là tổng thể tác phẩm. Không có nhạc cụ nào đủ sức tạo nên toàn bộ vẻ đẹp của bản giao hưởng, cũng như không một cá nhân nào có thể thay thế vai trò của tập thể. Trong không gian ấy, tài năng cá nhân và tinh thần cộng tác không đối lập mà bổ sung cho nhau. Đó cũng là một trong những giá trị bền vững nhất mà nghệ thuật giao hưởng mang lại cho đời sống hiện đại.

Thuyền trưởng là nhạc trưởng. Như trọng tài giữ nhịp cả trận đấu, như thuyền trưởng quyết định hướng đi của con tàu, nhạc trưởng điều tiết tốc độ và sắc thái của tác phẩm, lo lắng cho sự phối hợp của tất cả các thành viên từ quá trình tập luyện cho tới khi nốt nhạc cuối cùng kết thúc. Bốn thập kỷ qua, VNSO làm việc cùng nhiều thế hệ nhạc trưởng trong nước như NSND Trọng Bằng, NSƯT Trần Vương Thạch, nhạc trưởng Lê Phi Phi. Bên cạnh những tên tuổi quốc tế như Colin Metters hay Fukumura Yoshikazu, có thể nói, vị nhạc trưởng gắn bó lâu nhất với dàn nhạc cho tới nay là nhạc trưởng Honna Tetsuji - ông đã làm cố vấn cho dàn nhạc từ năm 2001 và giữ vị trí Giám đốc Âm nhạc kể từ năm 2009.

Những thế hệ nghệ sĩ độc tấu với năng lực chuyên môn cao, kỹ thuật ổn định, phong cách nổi bật không chỉ là niềm tự hào, kiêu hãnh, khẳng định vị thế của âm nhạc hàn lâm Việt Nam trên trường quốc tế mà còn ”tạo cảm hứng cho chính những người đồng nghiệp đang ngồi trong dàn nhạc” khi dàn nhạc và các nghệ sĩ độc tấu người Việt cùng nhau kết hợp và trình diễn những tác phẩm kinh điển tới khán thính giả yêu nhạc - như lời chia sẻ của Giám đốc Trịnh Tùng Linh.

Bốn mươi năm, VNSO dựng được nhiều chùm tác phẩm lớn của các bậc thầy thế giới: Mahler, Beethoven, Mozart, Brahms, Schubert, Bruckner. Có những dự án để đời, như đêm trình diễn Bản giao hưởng số 8 của Mahler với gần một nghìn người trên sân khấu dịp Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Sau những lần biểu diễn thăng hoa như thế, đồng nghiệp quốc tế thường nhắc đến cái nồng nhiệt và sự nhạy bén trong xử lý sắc thái của dàn nhạc giao hưởng với các nghệ sĩ người Việt như một “chất” riêng không thể thấy ở bất cứ một dàn nhạc nào khác.

Lớp khán giả nhạc cổ điển ở Việt Nam đang trẻ lại trông thấy trong khoảng mười năm qua. Nhiều người trẻ đến nhà hát không hẳn để nghe cho hiểu, mà để tìm một quãng lặng giữa nhịp sống gấp gáp. VNSO hiểu rằng mở rộng tệp người nghe không có nghĩa là hạ thấp tiêu chuẩn chuyên môn của người biểu diễn. Dàn nhạc vẫn diễn các tác phẩm kinh điển của các tác giả lớn với những chương trình đồ sộ, song dàn nhạc chú trọng hơn vào cách kể chuyện như việc truyền thông gần gũi và đa dạng hơn trên mạng xã hội, đưa các tác phẩm “hàn lâm” đến công chúng một cách bình dị qua những lát cắt hậu trường, những buổi tập, câu chuyện về từng cây đàn hay hoàn cảnh ra đời của tác phẩm. Cái đích là gỡ bỏ định kiến “xa cách, khó nghe”, để giao hưởng gần lại mà vẫn giữ nguyên chiều sâu của nó.

Trên sân khấu là ánh đèn, là âm nhạc, là sự thăng hoa của nghệ sĩ và khán thính giả. Nhưng phía sau tấm màn nhung của các sân khấu sáng đèn ấy là nỗi lo của những người làm công tác tổ chức, làm sao để vừa nỗ lực cho sự chuyển dịch, vừa bảo đảm các lịch trình biểu diễn thường niên và quan trọng hơn cả là đời sống cho anh chị em nghệ sĩ. Vẫn hiểu rằng dòng nhạc giao hưởng là dòng nhạc kén người nghe, giám đốc Trịnh Tùng Linh trăn trở: Một nhạc công chuyên nghiệp phải qua một chặng đào tạo dài và khắt khe, học từ sơ cấp lên đại học, mười mấy năm ròng mới chính thức vào nghề, lúc bắt đầu sự nghiệp thì đã hai tư, hai lăm tuổi. Ra trường, cơm áo gạo tiền lại đè nặng lên vai, việc bên ngoài lại mời gọi, không ít người trẻ đành nhận thêm việc trái nghề để trang trải đời sống. Mỗi lần phân tâm như thế là một lần phí đi quãng đời làm nghề vốn đã chẳng dài.

“Các bạn đã dành cả tuổi trẻ cho nghệ thuật đỉnh cao. Điều tôi mong là họ được toàn tâm toàn ý với nghề” - Ông trầm giọng khi chia sẻ về tâm tư của các nghệ sĩ.

Theo ông Linh, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có rất nhiều nỗ lực để tạo điều kiện và đồng hành cùng dàn nhạc trong những năm qua. Bên cạnh đó, sự đón nhận mỗi ngày một rộng của công chúng trẻ và sự ủng hộ của doanh nghiệp cùng các đối tác quốc tế cũng đã phần nào chia sẻ những khó khăn với các nhạc công và Dàn nhạc trong giai đoạn chuyển đổi. Đầu tháng 6 vừa rồi, Cục Hợp tác quốc tế đã làm việc với lãnh đạo VNSO để bàn hướng tăng cường hỗ trợ dàn nhạc trong giai đoạn mới, nối tiếp cuộc trao đổi giữa Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch với Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam Ito Naoki.

Vượt lên trên vai trò biểu diễn đơn thuần, âm nhạc là một phương thức giao tiếp không biên giới. Những dự án mang tính biểu tượng như vở opera "Công nữ Anio" nhân dịp kỷ niệm 50 năm quan hệ ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản đã cho thấy sức nặng của nghệ thuật trong việc kết nối các quốc gia. Vở diễn gây tiếng vang lớn với phần âm nhạc do nhạc sĩ Trần Mạnh Hùng viết, dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng Honna Tetsuji; đêm công diễn có sự hiện diện của Hoàng Thái tử Nhật Bản Akishino và Công nương Kiko.

Nghĩ về chặng đường tương lai, giám đốc Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam chia sẻ: “Tôi mong khi nhắc đến Việt Nam, bạn bè quốc tế thấy một đất nước có chiều sâu văn hóa, đủ sức đối thoại với thế giới bằng ngôn ngữ của nghệ thuật bác học.” Những chuyến lưu diễn quốc tế của VNSO trong hơn hai thập kỷ qua vì thế mang ý nghĩa vượt ra ngoài khuôn khổ chuyên môn. Khi một dàn nhạc quốc gia xuất hiện trên các sân khấu lớn của thế giới, đó không chỉ là câu chuyện của âm nhạc mà còn là câu chuyện về hình ảnh đất nước. Nếu kinh tế giúp một quốc gia hiện diện trên bản đồ thương mại, thì văn hóa giúp quốc gia ấy được ghi nhớ bằng bản sắc và chiều sâu tinh thần. Trong bối cảnh sức mạnh mềm ngày càng trở thành một yếu tố quan trọng của quan hệ quốc tế, các nghệ sĩ giao hưởng cũng đang góp phần thực hiện một hình thức ngoại giao đặc biệt: kể câu chuyện về Việt Nam bằng thứ ngôn ngữ không cần phiên dịch là âm nhạc.

Bốn mươi năm đi từ những ngày khán phòng còn vắng, Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam đã gây dựng cho mình một chỗ đứng vững chãi. Tiếng vỗ tay không ngớt dưới ánh đèn, những bó hoa tươi thắm thay cho lời tri ân… tất cả chính là phần thưởng cho bao thế hệ nghệ sĩ đã gửi gắm tuổi thanh xuân vào một công việc đòi hỏi ở họ một đời khổ luyện. Nhưng tình yêu với âm nhạc, suy cho cùng, lại được nuôi dưỡng từ những điều lặng thầm nhất. Đó là khi cái tôi cá nhân tự nguyện hòa vào nhịp đập tập thể, là lúc gánh nặng cơm áo tạm lùi lại phía sau để nhường chỗ cho một độ rung cảm thuần khiết, biến những nhạc cụ phương Tây thành nơi nương náu cho hồn cốt Việt. Tập thể ấy vẫn đang tiếp tục cuộc hành trình của mình, cất lên những thanh âm vượt thời gian.

  • Xuất bản: 06/2026
  • Tổ chức sản xuất: Khánh Sơn
  • Thực hiện: Anh Thư
  • Trình bày: Anh Thư - Thuỳ Dung
  • Hình ảnh, video: TheAnh28 Entertainment, Nhân vật cung cấp