Từ lựa chọn tư vấn quốc tế đến bài toán tự chủ công nghệ đường sắt

Bộ Xây dựng ký hợp đồng với tư vấn Ineco (Tây Ban Nha) cho dự án đường sắt tốc độ cao bắc-nam thể hiện cách tiếp cận thận trọng, tiệm cận chuẩn mực quốc tế. Tuy nhiên, bài toán cốt lõi vẫn là con đường làm chủ công nghệ đường sắt của Việt Nam trong dài hạn

Trung Quốc tiến bộ vượt bậc trong ngành đường sắt tốc độ cao. (Ảnh: East Asia Forum)
Trung Quốc tiến bộ vượt bậc trong ngành đường sắt tốc độ cao. (Ảnh: East Asia Forum)

Hạ tầng giao thông thế hệ mới

Trong cách tiếp cận truyền thống, các dự án hạ tầng giao thông thường được nhìn nhận chủ yếu qua lăng kính xây dựng-thi công-vốn đầu tư. Tuy nhiên, với đường sắt tốc độ cao, bức tranh đã thay đổi. Đây không chỉ là một tuyến đường sắt, mà là một hệ thống hạ tầng tích hợp cao, trong đó lớp công nghệ số, dữ liệu và trí tuệ vận hành đóng vai trò quyết định đến an toàn, hiệu quả khai thác và chi phí vòng đời của dự án.

Chính những lớp công nghệ này mới tạo nên “bộ não” của hệ thống đường sắt, quyết định năng lực và mức độ tự chủ công nghệ của một quốc gia. Ở nhiều nước, đây cũng là các hợp phần được doanh nghiệp nội địa đảm nhiệm, để từng bước tích lũy và làm chủ công nghệ. Nếu nhìn sang các quốc gia phương Tây, câu chuyện tự chủ công nghệ đường sắt thường gắn với quá trình công nghiệp hóa kéo dài hàng trăm năm. Nhưng với Việt Nam, những bài học từ Nhật Bản, Trung Quốc hay Hàn Quốc - các quốc gia có bối cảnh phát triển và nhiều điểm tương đồng về thể chế, văn hóa lại mang ý nghĩa tham chiếu trực tiếp hơn.

Shinkansen của Nhật Bản, được đưa vào vận hành từ năm 1964, là hình mẫu sớm về việc gắn đường sắt cao tốc với chiến lược công nghiệp quốc gia. Tại Hàn Quốc, tuyến đường sắt cao tốc Gyeongbu đầu tiên được triển khai trong bối cảnh gần như phụ thuộc hoàn toàn vào công nghệ nước ngoài. Quốc gia này mất khoảng 10 năm để tiếp nhận và làm chủ công nghệ chuyển giao, và gần 20 năm để đạt mức tự chủ cao trong phát triển, vận hành và cải tiến hệ thống đường sắt cao tốc. Những dòng tàu tốc độ cao và hệ thống vận hành của Hàn Quốc ngày nay là kết quả của một chiến lược kiên trì tích lũy tri thức, xây dựng tiêu chuẩn và kinh nghiệm vận hành.

Với Trung Quốc, quốc gia này chọn đi theo một con đường quyết liệt hơn, đó là không phụ thuộc dài hạn vào công nghệ ngoại nhập. Ngay từ đầu những năm 2000, khi hợp tác với các tập đoàn đường sắt hàng đầu của Nhật Bản, Đức, Pháp và Canada, Trung Quốc đặt ra yêu cầu chuyển giao công nghệ, triển khai thông qua liên doanh trong nước, đồng thời đặt mục tiêu nội địa hóa tới 75%.

Quan trọng hơn, Trung Quốc coi đường sắt cao tốc là hệ thống công nghệ tổng thể, huy động đồng thời các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào tín hiệu, điều khiển, điện, viễn thông, dữ liệu và vận hành đã giúp quốc gia này nhanh chóng chuyển từ “học hỏi” sang “tự nghiên cứu và phát triển”. Chỉ trong hơn 7 năm từ 2004, Trung Quốc đã làm chủ công nghệ xây dựng đường sắt cao tốc và đến thời điểm này, trở thành quốc gia có hệ thống đường sắt cao tốc lớn nhất thế giới.

Điểm chung trong câu chuyện của các quốc gia trên không nằm ở việc họ bắt đầu bằng công nghệ nào, mà ở cách họ sử dụng các dự án hạ tầng quốc gia như một bệ phóng để hình thành năng lực công nghệ nội địa. Chuyển giao công nghệ chỉ là bước khởi đầu; làm chủ vận hành, bảo trì, nâng cấp và đổi mới mới là mục tiêu dài hạn.

Cơ hội nào cho công nghệ đường sắt của doanh nghiệp Việt Nam?

Với Việt Nam, dự án đường sắt tốc độ cao bắc-nam đặt ra một bài toán tương tự. Việc thuê tư vấn quốc tế ở giai đoạn đầu là cần thiết, nhưng nếu toàn bộ các lớp công nghệ lõi phụ thuộc vào bên ngoài, Việt Nam sẽ khó hình thành năng lực tự chủ cho một hạ tầng có vòng đời hàng chục năm - thậm chí nhiều thế hệ. Trong bối cảnh đó, sự tham gia của các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam cần được nhìn nhận như một phần của chiến lược quốc gia về tự chủ công nghệ.

Đầu tiên, làm chủ công nghệ đường sắt không thể bắt đầu từ giai đoạn vận hành, mà phải được đặt ra ngay từ khâu chuẩn bị dự án và thiết kế mô hình đầu tư. Nếu các yêu cầu về nội địa hóa, chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực không được tích hợp ngay từ đầu, thì đến giai đoạn khai thác-vận hành, rất khó hình thành khả năng làm chủ, kéo theo các rủi ro dài hạn về phụ thuộc kỹ thuật, chi phí bảo trì-nâng cấp cao và bị động trước thay đổi.

Về mặt pháp lý, Luật Đường sắt 2025 về nguyên tắc không cản trở, thậm chí khuyến khích việc đặt yêu cầu nội địa hóa, chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực trong các gói thầu sử dụng vốn nhà nước, đặc biệt với hạ tầng chiến lược. Việc cho phép áp dụng các mô hình hợp đồng tích hợp như EPC, EC hoặc PPP mở ra khả năng tổ chức dự án theo hướng gắn kết giữa thiết kế-triển khai-vận hành, nếu vai trò và trách nhiệm của các bên được xác định rõ ràng, minh bạch ngay từ hồ sơ mời thầu.

Trên cơ sở đó, phải có sự tham gia của doanh nghiệp trong nước, các chuyên gia Việt Nam ngay từ giai đoạn thiết kế đề án, với trách nhiệm chuyên môn được xác lập rõ ràng và đặt dưới sự giám sát của Nhà nước. Ở những quốc gia làm chủ được công nghệ đường sắt cao tốc, tư vấn nước ngoài đóng vai trò chuyển giao tri thức và chuẩn mực, trong khi năng lực nội địa được tích lũy thông qua việc cùng tham gia trực tiếp vào quá trình thiết kế, xây dựng tiêu chuẩn và tổ chức vận hành hệ thống.

Việt Nam cần tiếp cận dự án theo hướng tư vấn quốc tế kết hợp với sự tham gia chặt chẽ của doanh nghiệp nội địa. Các đơn vị ngành đường sắt như Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam có thể tham gia ngay từ đầu vào công tác tư vấn về quản lý hạ tầng, tiêu chuẩn kỹ thuật, tổ chức vận hành và bảo trì; các doanh nghiệp công nghiệp như THACO có thể tham gia vào các khâu sản xuất, lắp ráp, cơ khí và chế tạo đầu máy…; doanh nghiệp công nghệ Việt Nam như FPT có thể đảm nhiệm các lớp công nghệ số của hệ thống đường sắt tốc độ cao, bao gồm hệ thống điều hành-giám sát, nền tảng dữ liệu vận hành, các giải pháp an toàn-an ninh và tự động hóa.

5c790846a9aa3d318688d5cd78897d96-2448.jpg
Chia sẻ về vai trò của doanh nghiệp công nghệ Việt Nam trong các dự án hạ tầng chiến lược, ông Trương Gia Bình – Chủ tịch Tập đoàn FPT khẳng định cam kết đồng hành cùng đất nước trên con đường làm chủ công nghệ.

Cuối cùng, làm chủ công nghệ đường sắt không thể tách rời bài toán đào tạo nhân lực. Các quốc gia thành công đều coi dự án hạ tầng quốc gia là “trường học lớn”, nơi kỹ sư và chuyên gia trong nước được tham gia trực tiếp vào thiết kế, vận hành và cải tiến hệ thống. Với Việt Nam, việc gắn triển khai dự án với các chương trình đào tạo, chuyển giao và thực hành sẽ quyết định giá trị lâu dài của tuyến đường sắt - không chỉ là một công trình hiện đại, mà là năng lực công nghệ cho nhiều thế hệ tiếp theo.

Có thể bạn quan tâm

Toàn cảnh hội thảo. (Ảnh: BÍCH LIÊN)

Đề xuất đãi ngộ 300 triệu đồng/tháng cho Tổng công trình sư

Dự thảo Thông tư quy định cơ chế tài chính đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược đề xuất mức thu nhập tối đa 300 triệu đồng/tháng đối với Tổng công trình sư. Đây được xem là bước đi đột phá nhằm xây dựng cơ chế đãi ngộ đủ sức cạnh tranh để thu hút, giữ chân nhân tài, từng bước làm chủ các công nghệ chiến lược.

Các học viên thực hành khai thác và phân tích dữ liệu mở của NASA dưới sự hướng dẫn của cố vấn.

Khơi dậy tư duy khoa học cho học sinh từ dữ liệu mở của NASA

Ngày 8/7, Trại hè Khám phá dữ liệu mở 2026 (NASA Open Data Camp 2026) khai mạc tại Trung tâm Hoa Kỳ Hà Nội, mang đến cơ hội để 80 học sinh từ 14 đến 17 tuổi tiếp cận với nguồndữ liệu mở của Cơ quan hàng không và vũ trụ Hoa Kỳ (NASA), đồng thời rèn luyện tư duy khoa học và kỹ năng giải quyết vấn đề dựa trên dữ liệu.

Các đại biểu tham quan tại VCCA 2025. (Ảnh: Ban Tổ chức cung cấp)

Robot, AI và drone Make in Vietnam trước cơ hội bứt phá

Không chỉ là diễn đàn khoa học, Hội nghị khoa học và Triển lãm quốc tế về Điều khiển và tự động hóa lần thứ 8 (VCCA 2026) hướng tới mục tiêu kết nối nhà khoa học với doanh nghiệp, thúc đẩy thương mại hóa các công nghệ chiến lược như robot, AI, drone và tự động hóa thông minh.

Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.

Khơi thông nguồn lực thể chế để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực bứt phá

Trong kỷ nguyên phát triển dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, yêu cầu cấp thiết đặt ra là xây dựng một hệ thống pháp luật thực sự kiến tạo phát triển, nơi thể chế không còn là điểm nghẽn mà trở thành động lực giải phóng mọi nguồn lực, khơi dậy và phát huy tối đa tiềm năng sáng tạo của con người Việt Nam.

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng phát biểu chỉ đạo tại Lễ kỷ niệm.

Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam và sứ mệnh dẫn dắt ngành hạt nhân Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Sáng 7/7, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (VinAtom) tổ chức Lễ kỷ niệm 50 năm thành lập (26/4/1976-26/4/2026), đánh dấu chặng đường nửa thế kỷ xây dựng, phát triển và cống hiến cho ngành năng lượng nguyên tử Việt Nam. Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đến dự và phát biểu chỉ đạo tại Lễ kỷ niệm.

Khách tham quan triển lãm Vietnam ETE & Greenergy Expo 2025.

Sắp diễn ra Triển lãm quốc tế về công nghệ, thiết bị điện và sản phẩm tiết kiệm năng lượng

Triển lãm quốc tế lần thứ 19 về công nghệ, thiết bị điện (Vietnam ETE 2026) và sản phẩm tiết kiệm năng lượng, năng lượng xanh (Greenergy Expo 2026) sẽ diễn ra tại Trung tâm Triển lãm Quốc tế ICE Hà Nội từ ngày 7 đến 9/10, kỳ vọng thu hút khoảng 20 nghìn lượt khách tới tham quan, làm việc và kết nối giao thương.

Hoạt động tại phòng thí nghiệm Trường đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội. (Ảnh: Diệp Ngọc)

Chiến lược công nghệ lượng tử nhằm bảo vệ chủ quyền công nghệ, tích hợp không gian số toàn cầu

Sau 18 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, công nghệ lượng tử được đặt ở vị trí trung tâm, cụ thể hóa trong Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược theo Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.

Nhiều hành vi thường xuất hiện trong các vụ lừa đảo công nghệ cao tăng mạnh mức xử phạt.

Tăng mức xử phạt hàng loạt thủ đoạn lừa đảo công nghệ cao

Từ 1/7/2026, Nghị định 174/2026/NĐ-CP có hiệu lực, thay thế nhiều quy định của Nghị định 15/2020/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử. Đáng chú ý, nhiều hành vi thường xuất hiện trong các vụ lừa đảo công nghệ cao... đã tăng mạnh mức xử phạt.

Một hội nghị của Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) trao đổi về công tác thanh tra xử lý vi phạm bản quyền về sở hữu công nghiệp.

Bước chuyển trong tư duy chính sách về sở hữu trí tuệ

Kết luận 51-KL/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh công tác sở hữu trí tuệ phục vụ phát triển kinh tế-xã hội trong tình hình mới đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy chính sách, đưa sở hữu trí tuệ từ công cụ bảo hộ quyền thành nguồn lực phát triển quốc gia, gắn với yêu cầu hoàn thiện thể chế và tổ chức thực thi đồng bộ.

Diễn đàn châu Âu-châu Phi nhằm tăng cường hợp tác trong kỷ nguyên số. (Ảnh: ACCORD)

Đối phó thách thức tin giả

Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra nhiều cơ hội thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, song cũng tạo ra những thách thức lớn. Nguy cơ lan truyền thông tin sai lệch gia tăng không chỉ ở những khu vực công nghệ chưa phát triển đồng đều như châu Phi mà ở cả những nơi đã phát triển mạnh mẽ như châu Âu. 

Tiến sĩ Hoàng Lương trao đổi với nhóm nghiên cứu về kết quả xử lý nước thải bằng công nghệ EBB (Ảnh: LƯƠNG HIẾU)

Ứng dụng “gạch sinh học” xử lý nước thải

Việc xử lý nước thải tại các khu dân cư, làng nghề, trang trại chăn nuôi ở Việt Nam gặp nhiều khó khăn như chi phí đầu tư cao, công nghệ xử lý phức tạp do nhiều loại nước thải đan xen và khó vận hành ở quy mô nhỏ…

Hoạt động nghiên cứu, thực hành tại Trường đại học Phenikaa. (Ảnh: VŨ THƠM)

Mô hình hợp tác “3 nhà” trong phát triển khoa học, công nghệ

Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là sự nghiệp của toàn dân, toàn hệ thống chính trị; trong đó, người dân và doanh nghiệp là trung tâm, chủ thể; nhà khoa học là nhân tố then chốt; Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt và thúc đẩy.

Xã Phụng Hiệp, thành phố Cần Thơ lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.

Chuyển đổi số - “chìa khóa” vận hành hiệu quả chính quyền cơ sở

Thực hiện chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị theo yêu cầu đặt ra tại Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đã từng bước góp phần tạo đột phá trong xây dựng và vận hành chính quyền nhân dân.