Thuế carbon: “Luật chơi mới” trong thương mại toàn cầu

Trong bức tranh kinh tế toàn cầu đang chuyển mình mạnh mẽ theo hướng xanh và bền vững, chính sách thuế carbon, đặc biệt là Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) mà Liên minh châu Âu (EU) triển khai từ ngày 1/10/2023 được coi là thách thức lớn nhưng cũng là cơ hội để doanh nghiệp Việt "vươn mình".

Về bản chất, Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (The EU's Carbon Border Adjustment Mechanism - CBAM) sẽ đánh thuế carbon đối với tất cả hàng hóa nhập khẩu vào thị trường các nước thuộc Liên minh châu Âu (EU) dựa trên cường độ phát thải khí nhà kính trong quy trình sản xuất tại nước sở tại.

Theo lộ trình, giai đoạn chuyển tiếp CBAM kéo dài từ nay đến hết năm 2025, và từ tháng 1/2026 sẽ áp dụng đầy đủ với nhiều nhóm ngành hàng chủ lực như thép, nhôm, xi-măng, phân bón, điện, hydrogen. Thống kê của các chuyên gia cho thấy, riêng mặt hàng nhôm, giá trị và sản lượng xuất khẩu sang EU dự báo giảm lần lượt 4% và 0,4%.

Mặc dù CBAM đánh trực tiếp vào nhà nhập khẩu châu Âu, song trên thực tế, các doanh nghiệp Việt Nam khó tránh khỏi sức ép. Nhập khẩu EU sẽ tìm mọi cách chuyển gánh nặng thuế sang nhà xuất khẩu, bằng việc ép giá, sàng lọc đối tác theo tiêu chí phát thải thấp.

Trong bối cảnh Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của EU tại ASEAN, “né” CBAM gần như là điều bất khả thi.

Doanh nghiệp xoay xở trước thách thức khi “luật chơi xanh” chính thức áp đặt

Việt Nam là đối tác đứng thứ 11 về hàng hóa nhập khẩu vào EU. Dù hiện tại phần lớn hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam không thuộc các nhóm này. Hiện, mới chỉ có một số sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam chịu sự điều chỉnh của CBAM EU như: sắt nhôm, thép, nhôm, hydrogen, xi-măng và phân bón... Nhưng một vấn đề cần được tính trước là nếu cơ chế này được mở rộng sang các lĩnh vực khác trong tương lai, CBAM sẽ tạo thêm chi phí đáng kể đối với các hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.

Các nghiên cứu cho thấy, xuất khẩu thép có thể giảm khoảng 4% giá trị, sản lượng giảm 0,8%. Ngành nhôm cũng chịu sụt giảm tương tự, trong khi xi-măng và phân bón ít chịu ảnh hưởng hơn nhưng vẫn phải thận trọng trước nguy cơ mở rộng danh mục CBAM trong tương lai.

Tại Tập đoàn Austdoor, đơn vị nội thất xuất khẩu nhiều sản phẩm sang thị trường châu Âu, ông Trần Công Hậu, Giám đốc Kinh doanh quốc tế thừa nhận: “CBAM chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng hóa. Nhưng chúng tôi ý thức rất rõ: muốn đi đường dài thì phải xanh hóa sản xuất”.

Theo ông Hậu, Austdoor đã và đang triển khai đồng bộ nhiều biện pháp như sử dụng điện mặt trời thay thế điện truyền thống, thay thế nguyên liệu đốt gây ô nhiễm bằng viên nén gỗ, cải tiến quy trình sản xuất để giảm phát thải, lắp đặt hệ thống xử lý chất thải, đồng thời đẩy mạnh truyền thông nội bộ nhằm tạo sự đồng thuận trong toàn tập đoàn.

z4867579001890-a7c36325e964b2497d57ee513dfe4ec4.jpg
Trong bối cảnh Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của EU tại ASEAN, “né” CBAM gần như là điều bất khả thi. (Ảnh: ĐỖ BẢO)

Không dừng ở đó, Austdoor còn đầu tư vào dự án trồng rừng và nhà máy viên nén gỗ, coi đây là nền tảng để tham gia thương mại tín chỉ carbon trong tương lai.

“Chúng tôi tiến hành kiểm kê khí nhà kính toàn hệ thống để định giá carbon và sẵn sàng cho thị trường giao dịch carbon thí điểm năm 2025”, ông Hậu cho biết.

Ông Phạm Hoàng Hải, Hội đồng Doanh nghiệp vì sự phát triển bền vững Việt Nam (VBCSD) nhấn mạnh: “Doanh nghiệp cần khẩn trương kiểm kê phát thải, xây dựng giải pháp cắt giảm carbon. Đây vừa là yêu cầu bắt buộc, vừa là bước chuẩn bị để hội nhập sâu hơn”.

Ở góc độ nghiên cứu chính sách, bà Nguyễn Minh Thảo, Trưởng ban Nghiên cứu Môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh (CIEM) cho rằng: “Doanh nghiệp trong nước vẫn khá bị động so với doanh nghiệp FDI. Họ thiếu thông tin, thiếu công nghệ, thiếu cả cơ chế hỗ trợ. Vai trò của hiệp hội và cơ quan quản lý là then chốt, không chỉ trong việc cung cấp thông tin mà còn trong tạo chính sách hỗ trợ chuyển đổi xanh”.

co-che-cbam-cua-eu-va-giai-phap-cho-viet-nam-1.jpg
Lộ trình thực hiện cơ chế CBAM của EU. (Nguồn: Tạp chí Công thương)

Con đường thích ứng không chỉ là “xanh hóa”

CBAM chính thức bước vào giai đoạn vận hành bắt buộc từ ngày 1/1/2026. Đây sẽ là cột mốc quan trọng buộc các doanh nghiệp xuất khẩu phải tuân thủ nghĩa vụ khai báo và nộp chứng chỉ carbon.

Thích ứng với thuế carbon không chỉ là câu chuyện đổi mới công nghệ hay thay thế năng lượng. Đó còn là quá trình tái cấu trúc toàn diện từ quản trị rủi ro, chuyển đổi mô hình kinh doanh, mở rộng thị trường, đến tham gia thị trường tín chỉ carbon. Đây cũng là cơ hội thúc đẩy cải cách thể chế trong nước.

Các Hiệp định thương mại tự do FTA thế hệ mới đòi hỏi Việt Nam sửa đổi hàng trăm văn bản pháp luật để tương thích với thông lệ quốc tế. Cải cách này, theo các chuyên gia, sẽ góp phần tạo môi trường kinh doanh minh bạch, giảm chi phí và nâng cao sức cạnh tranh.

Bà Nguyễn Minh Thảo, Trưởng ban Nghiên cứu Môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh (CIEM) lưu ý, các FTA thế hệ mới đã bổ sung hàng loạt tiêu chuẩn phi thương mại về môi trường, lao động, truy xuất nguồn gốc.

“Không chỉ carbon, mà cả các vấn đề lao động, quyền tự do hiệp hội, truy xuất chuỗi cung ứng cũng là hàng rào mới. Nếu không chuẩn bị, hàng hóa Việt Nam khó duy trì chỗ đứng tại EU và Mỹ”.

Theo các chuyên gia, việc tuân thủ CBAM không chỉ là trách nhiệm của cơ quan quản lý mà còn đòi hỏi sự chủ động từ phía doanh nghiệp.

Theo đó, các doanh nghiệp cần chủ động đầu tư vào công nghệ sạch, cải thiện quy trình sản xuất, xây dựng hệ thống quản lý phát thải và nâng cao năng lực báo cáo, xác minh dữ liệu phát thải.

Việc chuyển đổi sản xuất xanh không chỉ có ý nghĩa quan trọng với mỗi doanh nghiệp mà còn tác động tới cả chuỗi cung ứng. Khi một đơn vị cung ứng giảm phát thải, các doanh nghiệp trong chuỗi hoạt động cũng sẽ đến gần hơn với mục tiêu về đạt mức phát thải ròng khí nhà kính bằng 0 vào năm 2050.

ltn-1288.jpg
Chuyển đổi số-xanh trong năm 2025 giúp Công ty May 10 giảm khoảng 15-20 nghìn tấn carbon thải ra môi trường. (Ảnh: Thế Đại)

Thuế carbon, CBAM hay các hàng rào xanh khác không còn là “nguy cơ” xa vời, mà đã trở thành “luật chơi chung” trong thương mại toàn cầu. Doanh nghiệp Việt Nam buộc phải thích ứng, không chỉ để giữ thị trường xuất khẩu mà còn để đồng hành cùng xu thế phát triển bền vững của thế giới.

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu nhìn nhận thẳng thắn: “Các nước tiên tiến đặt ra tiêu chí carbon không phải để gây khó dễ, mà để bảo vệ tương lai Trái đất. Nếu Việt Nam không tuân thủ, hậu quả là ngay trước mắt: hàng hóa bị từ chối, thiệt hại hàng tỷ USD mỗi năm”.

Trong “cuộc chơi tất yếu” này, doanh nghiệp nào chuyển đổi sớm sẽ nắm lợi thế, còn sự chậm trễ đồng nghĩa với việc tự loại mình khỏi cuộc cạnh tranh.

CBAM đặt ra nhiều áp lực, song không thể phủ nhận đây cũng là một động lực thúc đẩy sản xuất xanh. Để thích ứng, Việt Nam cần hai hướng đi song song:

Ở cấp Chính phủ: Chủ động đàm phán với EU về lộ trình phù hợp; sớm thiết lập thị trường carbon trong nước; hoàn thiện khung chính sách giảm phát thải; đẩy mạnh năng lượng tái tạo, tiết kiệm năng lượng và loại bỏ dần điện than; ban hành hướng dẫn rõ ràng cho doanh nghiệp trong việc kiểm kê và báo cáo phát thải.

Ở cấp doanh nghiệp: Tiến hành kiểm kê phát thải toàn chuỗi sản xuất; xây dựng báo cáo chi tiết cho từng sản phẩm; tìm giải pháp giảm lượng carbon trong từng công đoạn; bố trí ngân sách cho việc lập báo cáo theo chuẩn CBAM; đồng thời phối hợp chặt chẽ với nhà nhập khẩu EU để hoàn thiện hồ sơ minh bạch.

Có thể bạn quan tâm

Đúng giờ mở cửa thị trường, nguyên Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà cùng các đại biểu đã thực hiện nghi thức khai trương Sàn Giao dịch carbon trong nước, bắt đầu phiên giao dịch đầu tiên của thị trường carbon.. (Ảnh: BTC)

Khơi thông nguồn lực cho kinh tế xanh

Sàn Giao dịch carbon đi vào hoạt động không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, mà còn tạo cơ chế để các doanh nghiệp chủ động tối ưu chi phí giảm phát thải thông qua giao dịch hạn ngạch và tín chỉ carbon.

Nguồn vốn tín dụng xanh đang góp phần hỗ trợ doanh nghiệp và người dân đầu tư vào các mô hình sản xuất nông nghiệp bền vững. (Ảnh: Báo Nhân Dân)

Tín dụng xanh khó đến doanh nghiệp nhỏ nếu thiếu hệ sinh thái hỗ trợ

Tín dụng xanh đang tăng trưởng nhanh, nhưng việc tiếp cận nguồn vốn này vẫn là thách thức lớn đối với nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo các chuyên gia, để tiếp cận tín dụng xanh, doanh nghiệp không chỉ cần vốn mà còn phải đáp ứng các yêu cầu về dữ liệu, ESG và chuyển đổi mô hình sản xuất.

ESG và chuỗi cung ứng xanh: Chìa khóa hút FDI thế hệ mới.

ESG và chuỗi cung ứng xanh: Chìa khóa hút FDI thế hệ mới

Cuộc cạnh tranh thu hút dòng vốn FDI đang bước sang một giai đoạn mới, khi chi phí lao động thấp hay các ưu đãi về đất đai, thuế suất không còn là lợi thế thì năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn ESG (Môi trường, Xã hội và Quản trị doanh nghiệp) đang trở thành yếu tố quyết định để đón dòng vốn FDI chất lượng cao.

Chủ động thích ứng với các tiêu chuẩn xanh toàn cầu.

Chủ động thích ứng với các tiêu chuẩn xanh toàn cầu

Những yêu cầu ngày càng khắt khe về phát thải carbon, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn ESG đang tạo ra áp lực chưa từng có đối với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Hiện nhiều doanh nghiệp đang chủ động tái cấu trúc, đẩy mạnh chuyển đổi số và quản trị phát thải nhằm từng bước tham gia sâu vào chuỗi phát triển bền vững toàn cầu.

Hiện tỉnh Sơn La có 58 hợp tác xã nông nghiệp có mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu.

Chuyển đổi xanh mở lối cho nông nghiệp Sơn La phát triển bền vững

Tỉnh Sơn La đang khẳng định vị thế là địa phương đi đầu trong phát triển nông nghiệp xanh, nông nghiệp tuần hoàn và chuyển đổi số. Những mô hình hợp tác xã, doanh nghiệp tiên phong chế biến nông sản, tư duy sản xuất theo hướng bền vững đã góp phần nâng cao giá trị nông sản, bảo vệ môi trường, tăng thu nhập cho người dân.

Gạch đất không nung, lời giải xanh cho bài toán nhà ở vùng cao.

Gạch đất không nung, lời giải xanh cho bài toán nhà ở vùng cao

Trên hành trình hướng tới phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, xây dựng được xem là lĩnh vực then chốt cần chuyển đổi mạnh mẽ. Không chỉ quy mô tiêu thụ tài nguyên khổng lồ, mà còn bởi lượng phát thải chiếm tỷ trọng lớn. Những nghiên cứu về vật liệu xây dựng xanh không còn là lựa chọn, mà đã trở thành yêu cầu tất yếu.

Việt Nam cam kết phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050. (Ảnh: Netzero.vn)

Net Zero và cơ hội tái cấu trúc nền kinh tế Việt Nam

Cam kết phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050 thường được nhìn nhận như một mục tiêu khí hậu hay nghĩa vụ quốc tế. Nhưng ở góc độ phát triển, Net Zero còn là cơ hội để Việt Nam đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và kiến tạo những động lực phát triển mới cho nền kinh tế.

Sản phẩm vật liệu xanh được Công ty Xi-măng Sông Thao phân phối ra thị trường.

Khơi thông tiềm năng vật liệu xanh, bền vững

Xanh hóa vật liệu cho ngành xây dựng mang lại lợi ích kinh tế, đồng thời là giải pháp hữu hiệu nhằm giảm phát thải, hướng tới nền kinh tế xanh, bền vững. Thời gian qua, các công trình nghiên cứu, thử nghiệm về loại vật liệu này đã cho thấy tính khả thi cao và có nhiều tiềm năng ứng dụng trong thi công.

Dự án góp phần hỗ trợ và khuyến khích phụ nữ trong chuyển đổi xanh. (Ảnh: CTV)

Hỗ trợ tối đa 1,8 tỷ đồng cho các sáng kiến về chuyển đổi xanh do phụ nữ dẫn dắt

Từ nay đến hết ngày 12/6/2026, mỗi sáng kiến góp phần cải thiện sinh kế, tạo việc làm tử tế và nâng cao vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực nông nghiệp bền vững và kinh tế tuần hoàn, phù hợp với điều kiện địa phương và thích ứng với biến đổi khí hậu sẽ được nhận hồ sơ xét tài trợ đợt hai.

Đồng hành xanh hóa nông nghiệp: Từ giấc mơ đến hiện thực

Đồng hành xanh hóa nông nghiệp: Từ giấc mơ đến hiện thực

Từ những vùng đất từng bị xem là chai cứng, khó canh tác, các mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ sinh học đang từng bước tạo nên sự thay đổi rõ rệt. Không chỉ giúp giảm chi phí, tăng năng suất và nâng cao giá trị nông sản, những vườn chanh leo, dâu tây, cà chua… còn mở ra hướng đi mới cho nông nghiệp xanh, bền vững.