Thúc đẩy hoạt động tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, góp phần phát triển hạ tầng chất lượng quốc gia

Việc sửa đổi Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật được kỳ vọng sẽ đáp ứng yêu cầu hội nhập, phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam, tạo lập môi trường sản xuất, kinh doanh minh bạch, thúc đẩy phát triển thị trường thương mại, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển hạ tầng chất lượng quốc gia.
Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Huỳnh Thành Đạt trình bày Tờ trình dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)
Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Huỳnh Thành Đạt trình bày Tờ trình dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)

Hoàn thiện thể chế để thúc đẩy hoạt động tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật

Chiều 22/11, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 8, Quốc hội nghe Tờ trình và báo cáo thẩm tra về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.

Trình bày tờ trình dự thảo luật, Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Huỳnh Thành Đạt cho biết, Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật năm 2006 được xây dựng và ban hành trong bối cảnh Việt Nam đàm phán, gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) với yêu cầu phải hoàn thiện khung pháp lý về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đánh giá sự phù hợp, loại bỏ rào cản kỹ thuật trong thương mại không cần thiết, thúc đẩy thuận lợi hoá thương mại toàn cầu.

Qua thực tiễn hơn 17 năm thi hành, luật đã đưa hoạt động trong lĩnh vực này được nâng lên cả về chất và lượng, góp phần thúc đẩy nâng cao năng suất chất lượng, năng lực sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa chủ lực của Việt Nam ra thị trường thế giới.

Tuy nhiên, thực tiễn thi hành luật thời gian qua cho thấy đã phát sinh một số hạn chế, bất cập cần xử lý, giải quyết. Do đó, mục tiêu xây dựng dự án luật này này là nhằm hoàn thiện thể chế để thúc đẩy hoạt động tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng.

Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Huỳnh Thành Đạt trình bày Tờ trình dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)

Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Huỳnh Thành Đạt trình bày Tờ trình dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)

Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ nêu rõ, dự án luật thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước, đặc biệt là cụ thể hóa quan điểm chỉ đạo của Ban bí thư tại Chỉ thị số 38-CT/TW ngày 30/7/2024 về đẩy mạnh công tác tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng quốc gia.

Theo Bộ trưởng Huỳnh Thành Đạt, dự thảo sửa đổi, bổ sung 19 điều trên tổng số 71 điều (chiếm 26,7%) của Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, các quy định này đã thể hiện đầy đủ 6 nhóm chính sách đã được Chính phủ thông qua, tập trung vào hoàn thiện các quy định bảo đảm tuân thủ cam kết thực hiện Hiệp định WTO/TBT và các FTA thế hệ mới, phù hợp với thông lệ quốc tế liên quan đến khái niệm, thuật ngữ, chiến lược tiêu chuẩn hóa quốc gia, hạ tầng chất lượng quốc gia, minh bạch hóa về hàng rào kỹ thuật trong thương mại, lập báo cáo đánh giá tác động của quy chuẩn kỹ thuật, cung cấp dịch vụ đánh giá sự phù hợp xuyên biên giới.

Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động liên quan đến xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và hoạt động thử nghiệm, chứng nhận, giám định nhằm khai thác hiệu quả nguồn lực xã hội, phù hợp thông lệ quốc tế.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải điều hành phiên họp chiều 22/11. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải điều hành phiên họp chiều 22/11. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)

Hoàn thiện quy định về đối tượng, trình tự, thủ tục xây dựng, thẩm định, công bố, ban hành tiêu chuẩn Việt Nam, quy chuẩn kỹ thuật; xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật theo trình tự, thủ tục rút gọn; lập đánh giá tác động khi xây dựng quy chuẩn kỹ thuật nhằm bảo đảm tính khả thi, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời không gây cản trở hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Dự án luật cũng bổ sung quy định cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; đổi mới hoạt động xuất bản, phát hành tiêu chuẩn Việt Nam theo hướng tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận thông tin, áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hiệu quả.

Hoàn thiện quy định về hoạt động đánh giá sự phù hợp nhằm nội luật hoá các cam kết tại các FTA thế hệ mới, đồng thời bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả trong quản lý trong nước, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển bền vững…

Rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định cụ thể hơn để bảo đảm tính khả thi

Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Lê Quang Huy. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)

Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Lê Quang Huy. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)

Nêu quan điểm thẩm tra dự án luật, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Lê Quang Huy bày tỏ tán thành với sự cần thiết ban hành luật và cho rằng, việc sửa đổi lần này sẽ đáp ứng yêu cầu hội nhập, phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam, tạo lập môi trường sản xuất, kinh doanh minh bạch, thúc đẩy phát triển thị trường thương mại, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển hạ tầng chất lượng quốc gia.

Ủy ban đề nghị cần tiếp tục rà soát, thể chế hóa đầy đủ các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, nhất là một số nội dung trong Chỉ thị số 38-CT/TW ngày 30/7/2024 của Ban Bí thư; tiếp tục nghiên cứu, rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định cụ thể hơn, tránh quy định chung chung, bảo đảm tính khả thi.

Ngoài ra, cần cụ thể hoá các chính sách của nhà nước về phát triển hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật thành các điều khoản cụ thể, thể hiện rõ hơn quan điểm, chính sách của nhà nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Về Chiến lược tiêu chuẩn hóa quốc gia, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường cơ bản nhất trí với việc bổ sung quy định về chiến lược như trong dự thảo luật. Tuy nhiên, đề nghị nghiên cứu quy định rõ giai đoạn, thời kỳ, quan điểm, mục tiêu, tầm nhìn; bổ sung quy định nội dung định hướng, đánh giá thực trạng, hoàn thiện hạ tầng chất lượng quốc gia; quy định rõ cơ quan tiêu chuẩn hóa quốc gia bảo đảm phù hợp thông lệ quốc tế; cân nhắc việc ban hành Kế hoạch xây dựng tiêu chuẩn quốc gia hằng năm và định kỳ 5 năm bảo đảm đồng bộ với chiến lược.

Về minh bạch hóa và hoạt động thông báo, hỏi đáp về hàng rào kỹ thuật trong thương mại, thủ tục đánh giá sự phù hợp, công bố hợp chuẩn, công bố hợp quy, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường cơ bản tán thành và đề nghị rà soát, nghiên cứu, cụ thể hoá hơn nội dung minh bạch hóa và hoạt động thông báo, hỏi đáp và các văn bản hướng dẫn thực hiện luật và quy định chi tiết về trách nhiệm của các chủ thể có liên quan, hoạt động phải thực hiện và điều kiện để bảo đảm minh bạch hóa; bổ sung quy định về việc công bố hợp chuẩn, hợp quy trên môi trường điện tử để thuận tiện, cắt giảm thủ tục hành chính, chi phí, thời gian cho tổ chức, doanh nghiệp…

Có thể bạn quan tâm

Hoạt động tại phòng thí nghiệm Trường đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội. (Ảnh: Diệp Ngọc)

Chiến lược công nghệ lượng tử nhằm bảo vệ chủ quyền công nghệ, tích hợp không gian số toàn cầu

Sau 18 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, công nghệ lượng tử được đặt ở vị trí trung tâm, cụ thể hóa trong Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược theo Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.

Nhiều hành vi thường xuất hiện trong các vụ lừa đảo công nghệ cao tăng mạnh mức xử phạt.

Tăng mức xử phạt hàng loạt thủ đoạn lừa đảo công nghệ cao

Từ 1/7/2026, Nghị định 174/2026/NĐ-CP có hiệu lực, thay thế nhiều quy định của Nghị định 15/2020/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử. Đáng chú ý, nhiều hành vi thường xuất hiện trong các vụ lừa đảo công nghệ cao... đã tăng mạnh mức xử phạt.

Một hội nghị của Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) trao đổi về công tác thanh tra xử lý vi phạm bản quyền về sở hữu công nghiệp.

Bước chuyển trong tư duy chính sách về sở hữu trí tuệ

Kết luận 51-KL/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh công tác sở hữu trí tuệ phục vụ phát triển kinh tế-xã hội trong tình hình mới đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy chính sách, đưa sở hữu trí tuệ từ công cụ bảo hộ quyền thành nguồn lực phát triển quốc gia, gắn với yêu cầu hoàn thiện thể chế và tổ chức thực thi đồng bộ.

Diễn đàn châu Âu-châu Phi nhằm tăng cường hợp tác trong kỷ nguyên số. (Ảnh: ACCORD)

Đối phó thách thức tin giả

Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra nhiều cơ hội thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, song cũng tạo ra những thách thức lớn. Nguy cơ lan truyền thông tin sai lệch gia tăng không chỉ ở những khu vực công nghệ chưa phát triển đồng đều như châu Phi mà ở cả những nơi đã phát triển mạnh mẽ như châu Âu. 

Tiến sĩ Hoàng Lương trao đổi với nhóm nghiên cứu về kết quả xử lý nước thải bằng công nghệ EBB (Ảnh: LƯƠNG HIẾU)

Ứng dụng “gạch sinh học” xử lý nước thải

Việc xử lý nước thải tại các khu dân cư, làng nghề, trang trại chăn nuôi ở Việt Nam gặp nhiều khó khăn như chi phí đầu tư cao, công nghệ xử lý phức tạp do nhiều loại nước thải đan xen và khó vận hành ở quy mô nhỏ…

Hoạt động nghiên cứu, thực hành tại Trường đại học Phenikaa. (Ảnh: VŨ THƠM)

Mô hình hợp tác “3 nhà” trong phát triển khoa học, công nghệ

Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là sự nghiệp của toàn dân, toàn hệ thống chính trị; trong đó, người dân và doanh nghiệp là trung tâm, chủ thể; nhà khoa học là nhân tố then chốt; Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt và thúc đẩy.

Xã Phụng Hiệp, thành phố Cần Thơ lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.

Chuyển đổi số - “chìa khóa” vận hành hiệu quả chính quyền cơ sở

Thực hiện chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị theo yêu cầu đặt ra tại Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đã từng bước góp phần tạo đột phá trong xây dựng và vận hành chính quyền nhân dân.

Nông dân tham gia dự án hỗ trợ kinh doanh nông hộ tại Cao Bằng (Ảnh: VIỆT HÀ)

Chuyển giao công nghệ, đổi mới tư duy sản xuất

Chuyển giao khoa học và công nghệ đang góp phần đổi mới tư duy sản xuất, hình thành nhiều mô hình kinh tế và nâng cao năng lực công nghệ tại địa phương. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả cao hơn, hoạt động này cần được đổi mới theo hướng gắn chặt với thị trường, doanh nghiệp và mục tiêu tăng trưởng.

Quang cảnh sự kiện Shopee Brands And Creators Summit 2026.

AI trở thành động lực tăng trưởng mới của thương mại điện tử

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của thương mại điện tử, không chỉ góp phần nâng cao trải nghiệm mua sắm, mà còn hỗ trợ doanh nghiệp tối ưu vận hành, mở rộng tiếp cận khách hàng và nâng cao năng lực cạnh tranh trong môi trường số.

Nghiên cứu khoa học tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Triển khai Nghị quyết 57: Tạo đột phá trong phát triển và trọng dụng nhân tài khoa học

Sau 18 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, nhiều kết quả quan trọng đã tạo nền tảng cho phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, để tạo đột phá tăng trưởng, yêu cầu cấp bách hiện nay là xây dựng đội ngũ nhân lực chất lượng cao đủ năng lực làm chủ các công nghệ chiến lược.

Hội thảo “Kết nối 3 nhà - Huy động nguồn lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ phát triển kinh tế-xã hội thành phố Huế” diễn ra chiều 2/7 tại Huế.

Huế kích hoạt nền tảng số kết nối “3 nhà”: Biến bài toán thực tiễn thành động lực đổi mới sáng tạo

Từ quản lý đô thị thông minh, bảo tồn di sản đến phát triển kinh tế số, thành phố Huế đang đứng trước nhiều bài toán lớn cần lời giải. Nền tảng số kết nối “3 nhà” vừa được Huế ra mắt kỳ vọng sẽ tạo cơ chế liên kết thực chất giữa Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp để thúc đẩy phát triển.

Hoạt động nghiên cứu tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. (Ảnh: MẠNH XUÂN)

Chú trọng công tác nghiên cứu khoa học cơ bản

Trong đột phá phát triển khoa học, công nghệ, nghiên cứu khoa học cơ bản được xác định là nền móng tri thức, vấn đề chiến lược, liên quan trực tiếp đến mô hình phát triển, năng lực tự chủ và vị thế quốc gia.