Tái cấu trúc chuỗi giá trị nông nghiệp trong kỷ nguyên dữ liệu

Tái cấu trúc chuỗi giá trị nông nghiệp trong kỷ nguyên dữ liệu

tit-1-sua.png

Năm 2025, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam đạt 70,09 tỷ USD, với 10 mặt hàng vượt mốc 1 tỷ USD, trong đó có 3 nhóm hàng đạt trên 8 tỷ USD (sản phẩm gỗ đạt 17,3 tỷ USD, tăng 6,4%; cà-phê đạt 8,5 tỷ USD, tăng 52,5%; trái cây và rau quả đạt 8,6 tỷ USD, tăng 19,8%). Những con số này cho thấy nông nghiệp Việt Nam đã đi được một chặng đường dài về quy mô, từ chỗ thiếu ăn trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu lớn trên thế giới.

Tuy nhiên, khi quy mô đã đạt đến một ngưỡng nhất định, thách thức không còn là sản xuất bao nhiêu, mà là tạo ra giá trị, uy tín và khả năng kiểm soát chuỗi. Mục tiêu đạt 100 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu và mục tiêu đóng góp tăng trưởng 2 con số đặt ra yêu cầu phải chuyển từ mở rộng sản lượng sang nâng cao chất lượng và chuẩn mực. Khi đó, việc “làm ra nhiều hơn” không còn là câu trả lời duy nhất cho tăng trưởng.

bai-64-nongnghiep-1-nong-dan-thanh-pho-ho-chi-minh-thu-hoach-dua-luoi-trong-theo-mo-hinh-nong-nghiep-cong-nghe-cao-617-9459.jpg
Nông dân Thành phố Hồ Chí Minh thu hoạch dưa lưới trồng theo mô hình nông nghiệp công nghệ cao.

Trong bối cảnh thị trường ngày càng đòi hỏi cao về tiêu chuẩn và truy xuất, lợi thế không còn nằm ở sản lượng mà ở cách tổ chức chuỗi. Sản xuất vẫn có thể tăng, nhưng nếu khâu kiểm soát, kết nối và minh bạch không theo kịp, giá trị mang lại sẽ bị giới hạn, thậm chí phát sinh rủi ro ngay trong chính những thị trường đang tăng trưởng tốt. Nói cách khác, vấn đề không còn là làm ra bao nhiêu, mà là làm ra trong điều kiện nào, theo tiêu chuẩn nào và có thể kiểm chứng ra sao. Khi những yêu cầu này trở thành “luật chơi” chung, sản lượng nếu đứng riêng lẻ sẽ khó tạo lợi thế dài hạn, thậm chí có thể trở thành áp lực nếu chuỗi không được tổ chức tương ứng.

tit-2.png

Hiện nay, Việt Nam đã hình thành hệ thống mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu với quy mô hàng nghìn đơn vị (trên 9.000 mã số vùng trồng và gần 2.000 cơ sở đóng gói), cho thấy nền tảng sản xuất không phải là hạn chế chính. Tuy nhiên, việc tổ chức các mắt xích này thành một chuỗi vận hành thống nhất vẫn còn nhiều khó khăn. Trên thực tế, phần lớn chuỗi nông sản vẫn vận hành rời rạc, phụ thuộc vào các liên kết ngắn hạn, thiếu sự điều phối và kỷ luật chung.

Vấn đề không còn là làm ra bao nhiêu, mà là làm ra trong điều kiện nào, theo tiêu chuẩn nào và có thể kiểm chứng ra sao.

Tiến sĩ Nguyễn Quang Tin

Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường

Khu vực doanh nghiệp đã có bước phát triển về số lượng, với hàng trăm nghìn doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế, trong đó khoảng trên 12.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Tuy nhiên, chỉ một tỷ lệ nhỏ doanh nghiệp tham gia theo mô hình liên kết chuỗi hoặc đầu tư khép kín từ sản xuất đến chế biến và thị trường. Một số mô hình tiêu biểu đã hình thành, như các doanh nghiệp đầu tư vào chăn nuôi, cây ăn quả và chế biến nông sản gắn với vùng nguyên liệu, cho thấy khả năng tổ chức chuỗi khi có sự tham gia dẫn dắt của doanh nghiệp.

Thực tiễn này cho thấy, khi doanh nghiệp đầu tư bài bản và tham gia sâu vào toàn bộ quá trình từ tổ chức sản xuất, thiết lập tiêu chuẩn đến kiểm soát chất lượng và thị trường, chuỗi giá trị có thể vận hành ổn định và nâng cao giá trị sản phẩm. Tuy nhiên, xét trên toàn ngành, số lượng doanh nghiệp đủ năng lực đảm nhận vai trò này vẫn còn hạn chế, chưa tạo được chuyển biến mang tính hệ thống.

image.jpg
Nông dân kiểm tra quá trình sinh trưởng của cây lúa. (Ảnh: VĂN ÚT-TÙNG ANH)

Vì vậy, vấn đề không chỉ là gia tăng số lượng doanh nghiệp, mà là nâng cao vai trò của doanh nghiệp trong chuỗi. Doanh nghiệp cần chuyển từ vị trí thu mua, xuất khẩu sang vai trò tổ chức sản xuất, dẫn dắt liên kết và thiết lập kỷ luật vận hành. Khi doanh nghiệp thực sự đứng ở trung tâm, các mắt xích mới có thể kết nối hiệu quả, chuỗi mới vận hành ổn định và tạo ra giá trị cao hơn. Ngược lại, nếu thiếu lực lượng doanh nghiệp đủ mạnh để dẫn dắt, các liên kết sẽ tiếp tục rời rạc, chuỗi nông sản khó hình thành một cấu trúc thống nhất, và mọi nỗ lực tổ chức lại chuỗi cũng khó đi vào thực chất.

tit-3.png

Những mô hình số hóa trong thời gian gần đây cho thấy sự khác biệt rõ rệt: Thời gian thông quan có thể giảm 20-30%, rủi ro chất lượng được kiểm soát ngay từ đầu vào. Nhưng điều quan trọng hơn nằm ở chỗ khác: Dữ liệu đang dần trở thành công cụ quyết định cách chuỗi nông sản được tổ chức và vận hành.

Thực tế, nhiều doanh nghiệp đã đầu tư lớn vào nông nghiệp và thu được kết quả rõ rệt. Từ các trang trại bò sữa quy mô công nghiệp, vùng nguyên liệu cây ăn quả tập trung, đến các nhà máy chế biến hiện đại, khu vực doanh nghiệp đã đóng góp ngày càng lớn vào giá trị xuất khẩu nông sản của cả nước. Những mô hình này cho thấy khi sản xuất được tổ chức bài bản, giá trị gia tăng có thể cải thiện đáng kể, thậm chí tạo ra những ngành hàng có vị thế vững trên thị trường quốc tế.

Tuy nhiên, điểm chung của phần lớn các mô hình hiện nay là vẫn tập trung vào đầu tư “hữu hình” như đất đai, giống, công nghệ chế biến, trong khi phần “vô hình” là dữ liệu chưa được đầu tư tương xứng. Dữ liệu sản xuất, vận chuyển, kiểm dịch hay thị trường vẫn phân tán, thiếu liên thông và chưa trở thành nền tảng vận hành chung của chuỗi. Điều này khiến ngay cả những doanh nghiệp đi trước cũng khó mở rộng quy mô hoặc kết nối hiệu quả với các tác nhân khác trong chuỗi.

Vì vậy, dữ liệu không còn là công cụ hỗ trợ, mà là công cụ quyền lực trong tổ chức chuỗi. Ai nắm được dữ liệu đầy đủ, chuẩn hóa và có khả năng kết nối, người đó có thể kiểm soát dòng chảy của sản phẩm, thiết lập tiêu chuẩn và chi phối thị trường. Với doanh nghiệp, điều này đồng nghĩa với một bước chuyển quan trọng: Từ thu mua sang quản trị chuỗi, từ bị động sang chủ động, và xa hơn là từ tham gia thị trường sang định hình thị trường.

tit-4.png

Hiện hệ thống truy xuất vẫn phân tán và thiếu liên thông, doanh nghiệp phải vận hành trên nhiều nền tảng khác nhau, vừa tốn chi phí, vừa không tạo được giá trị cộng hưởng. Vấn đề không nằm ở thiếu dữ liệu, mà ở thiếu một hệ thống dữ liệu thống nhất. Khi dữ liệu không “nói chuyện” được với nhau, chuỗi cũng không thể vận hành trơn tru.

Dữ liệu không còn là công cụ hỗ trợ, mà là công cụ quyền lực trong tổ chức chuỗi. Ai nắm được dữ liệu đầy đủ, chuẩn hóa và có khả năng kết nối, người đó có thể kiểm soát dòng chảy của sản phẩm, thiết lập tiêu chuẩn và chi phối thị trường.

Hệ quả thấy rõ là mỗi doanh nghiệp gần như phải tự xây dựng một “hệ sinh thái dữ liệu riêng”, nhưng lại không thể kết nối hiệu quả với các đối tác khác trong chuỗi. Dữ liệu vì thế bị “cục bộ hóa”, chỉ phục vụ nội bộ thay vì trở thành tài sản chung để tối ưu toàn hệ thống. Ngay cả những doanh nghiệp đầu tư bài bản cũng khó mở rộng quy mô liên kết, bởi càng mở rộng thì chi phí tích hợp và kiểm soát dữ liệu càng lớn.

Ở góc độ thị trường, sự thiếu liên thông này làm suy giảm khả năng chứng minh chất lượng. Khi cần truy xuất, thông tin không đầy đủ hoặc không đồng nhất giữa các khâu, khiến doanh nghiệp mất lợi thế cạnh tranh, thậm chí đối mặt với rủi ro bị gián đoạn xuất khẩu. Điều này đặc biệt rõ trong các thị trường yêu cầu cao, nơi dữ liệu không chỉ là minh chứng mà còn là điều kiện bắt buộc.

Vì vậy, điểm nghẽn không còn nằm ở công nghệ riêng lẻ, mà ở cách tổ chức hệ thống dữ liệu ở quy mô toàn ngành. Khi chưa có một chuẩn chung đủ mạnh để kết nối các nền tảng khác nhau, mọi nỗ lực số hóa của doanh nghiệp sẽ khó tạo ra hiệu quả lan tỏa. Và khi hệ thống chưa hình thành, chuỗi giá trị cũng khó có thể vận hành theo một logic thống nhất và bền vững.

tit-5.png

Các thị trường lớn đã chuyển từ khuyến khích sang bắt buộc truy xuất nguồn gốc, coi dữ liệu là điều kiện để tiếp cận thị trường. Điều đó đặt doanh nghiệp Việt Nam trước một lựa chọn rõ ràng: Hoặc chuyển đổi để đáp ứng chuẩn mực, hoặc bị loại khỏi chuỗi cung ứng. Trong bối cảnh niềm tin thị trường được đo bằng khả năng kiểm chứng, lợi thế về sản lượng sẽ không còn ý nghĩa nếu không đi kèm dữ liệu minh bạch.

Thực tế cho thấy, nhiều lô hàng bị cảnh báo, ách tắc hoặc trả về không hẳn do chất lượng sản phẩm, mà do không chứng minh được quy trình sản xuất và kiểm soát. Khi dữ liệu thiếu đầy đủ hoặc không nhất quán, rủi ro không còn nằm ở từng khâu, mà lan ra toàn bộ chuỗi. Thiệt hại vì thế không chỉ là chi phí, mà còn là uy tín - yếu tố quyết định khả năng duy trì thị trường.

shlyle.png
Tem xác thực điện tử được gắn trên các thùng hàng, container giúp chống hàng giả, hàng nhái, mang lại sự tin tưởng cho người tiêu dùng và quản lý sản phẩm hiệu quả cho doanh nghiệp.

Áp lực này buộc doanh nghiệp phải thay đổi cách tiếp cận. Truy xuất không thể là khâu bổ sung ở cuối chuỗi, mà phải được hình thành ngay từ đầu vào, gắn với từng công đoạn sản xuất, chế biến và lưu thông. Khi dữ liệu được tích hợp trong toàn bộ quá trình, truy xuất mới trở thành công cụ vận hành, thay vì chỉ là thủ tục đáp ứng kiểm tra.

Cạnh tranh trên thị trường quốc tế vì thế cũng đang dịch chuyển. Doanh nghiệp không chỉ cạnh tranh về giá hay sản lượng, mà cạnh tranh về mức độ minh bạch, khả năng đáp ứng tiêu chuẩn và tốc độ cung cấp thông tin. Doanh nghiệp nào kiểm soát được dữ liệu tốt hơn sẽ có lợi thế tiếp cận thị trường; ngược lại, nếu không theo kịp, nguy cơ bị thu hẹp hoặc mất thị trường là khó tránh khỏi.

tit-6.png

Muốn tháo gỡ điểm nghẽn, chính sách không thể dừng ở khuyến khích, mà phải chuyển sang kiến tạo và điều phối hệ thống. Vấn đề không chỉ là thúc đẩy ứng dụng công nghệ, mà là thiết lập một hạ tầng dữ liệu thống nhất, đủ khả năng kết nối và kiểm soát toàn bộ chuỗi.

Trong cấu trúc đó, vai trò cần được phân định rõ. Nhà nước không làm thay doanh nghiệp, mà chuyển từ “quản lý từng khâu” sang “thiết lập luật chơi”: Ban hành chuẩn dữ liệu, quy định bắt buộc về truy xuất, xây dựng hạ tầng dùng chung và giám sát tuân thủ. Doanh nghiệp không chỉ là đối tượng thực hiện, mà trở thành chủ thể vận hành chuỗi: Tổ chức sản xuất, thu thập và cập nhật dữ liệu, kiểm soát chất lượng và chịu trách nhiệm về sản phẩm. Khi chuẩn chung được xác lập, dữ liệu mới có thể liên thông và tạo thành “ngôn ngữ chung” của toàn chuỗi.

Tuy nhiên, chỉ khuyến khích sẽ không đủ. Chính sách cần kết hợp giữa hỗ trợ và ràng buộc: Hỗ trợ chi phí số hóa, đào tạo, hạ tầng; đồng thời từng bước áp dụng yêu cầu bắt buộc đối với các nhóm sản phẩm và thị trường có rủi ro cao. Khi “luật chơi” được xác lập rõ ràng, việc tham gia hệ thống không còn là lựa chọn, mà trở thành điều kiện để tồn tại trên thị trường.

Khi đó, dữ liệu không còn là tài sản riêng lẻ của từng doanh nghiệp, mà trở thành hạ tầng chung của chuỗi, nơi Nhà nước thiết lập chuẩn và bảo đảm vận hành, còn doanh nghiệp khai thác và tạo ra giá trị. Đây chính là nền tảng để nông nghiệp chuyển từ phát triển theo sản lượng sang phát triển theo chuẩn mực, nơi minh bạch, kỷ luật và khả năng kiểm chứng quyết định năng lực cạnh tranh.

Có thể bạn quan tâm

Các đại biểu tại buổi làm việc. (Ảnh: TRẦN HẢO)

Triển khai dự án phát triển hạ tầng du lịch sử dụng vốn vay ADB

Ngày 3/11, đoàn công tác Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) do ông Manoj Sharma, Giám đốc lĩnh vực nước và phát triển đô thị khu vực Đông Nam Á làm Trưởng đoàn, đã làm việc với Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ về tình hình chuẩn bị dự án phát triển hạ tầng du lịch tỉnh Hòa Bình (cũ) sử dụng vốn vay ODA của ADB.

Toàn cảnh diễn đàn. (Ảnh: TM)

Chuyển đổi số ngân hàng gắn với quản trị rủi ro

Công nghệ tài chính giúp giảm chi phí, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ, đồng thời làm gia tăng sự phụ thuộc vào dữ liệu, hạ tầng số và các nhà cung cấp công nghệ. Tại Diễn đàn Kinh tế Việt-Anh 2026, các diễn giả đề cập yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ quản lý và nâng khả năng duy trì dịch vụ khi xảy ra sự cố.

(Ảnh: THÀNH ĐẠT)

Giá vàng ngày 3/11: Vàng miếng SJC tăng mạnh

Giá vàng thế giới hôm nay (3/11) bật tăng nhờ căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông có dấu hiệu hạ nhiệt, kéo giá dầu thô đi xuống, giao dịch ở mức 3.935,6 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn SJC tăng theo đà đi lên của thế giới, niêm yết lần lượt ở mức 141,2 triệu đồng/lượng và 136,8 triệu đồng/lượng.

Trang sức bạc. (Ảnh: THU LAN)

Sáng 3/11: Giá bạc thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

Sáng 3/11, giá bạc thế giới giao dịch trên ngưỡng 50 USD/ounce sau khi tăng hơn 3% trong phiên trước đó. Ở mốc này, giá kim loại trắng đã phục hồi từ vùng đáy gần mức thấp nhất trong một năm qua khi giá dầu giảm trước những dấu hiệu tiến triển ngoại giao giữa Mỹ và Iran, qua đó làm dịu mối lo lạm phát.

Arabica Mường Chanh đã mang đến những thay đổi ở từng hộ dân và những mô hình liên kết đang cho thấy hiệu quả rõ hơn ở quy mô cộng đồng.

Tạo sinh kế bền vững từ đặc sản bản địa

Từ những sườn đồi cà-phê của tỉnh Sơn La đến những căn bếp vùng cao Điện Biên, Arabica và thịt trâu gác bếp đã trở thành những sản vật mang theo câu chuyện về đất, người và sinh kế địa phương đến gần hơn với người dân trong và ngoài nước. 

Dây chuyền sản xuất giày thể thao của Công ty Giầy Vĩnh Yên, Phú Thọ. (Ảnh: TRẦN HẢI)

Đổi mới khuyến công, thúc đẩy công nghiệp nông thôn

Mặc dù không gắn với chỉ tiêu sản xuất công nghiệp riêng, tuy nhiên hoạt động khuyến công vẫn đóng góp quan trọng vào tăng trưởng công nghiệp thông qua nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và huy động nguồn lực xã hội. 

Xã Nam Thành chú trọng phát triển giao thông để thúc đẩy kinh tế. (Ảnh: TUỆ THƯ)

Lâm Đồng: Vùng núi Nam Thành bứt phá xây dựng nông thôn mới

Sau khi sáp nhập địa giới hành chính, xã vùng núi Nam Thành (tỉnh Lâm Đồng) chú trọng xây dựng nông thôn mới. Với tư duy đột phá, hạ tầng giao thông kết nối đồng bộ cùng định hướng phát triển nông nghiệp công nghệ cao, Nam Thành từng bước thay đổi diện mạo nông thôn, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân.

Quang cảnh buổi làm việc. (Ảnh: VĂN ÚT)

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu Cần Thơ, Vĩnh Long, Đồng Tháp quyết liệt thúc đẩy tăng trưởng

Chiều 2/11, tại thành phố Cần Thơ, đồng chí Hồ Quốc Dũng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ làm việc với lãnh đạo Cần Thơ, Vĩnh Long và Đồng Tháp về mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026. Tại buổi làm việc các địa phương báo cáo kết quả 9 tháng, khó khăn và giải pháp trọng tâm quý IV.

Một góc thành phố Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Hà Nội triển khai hướng dẫn xác định dự án xanh, dự án đáp ứng tiêu chí tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị

Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội giao Sở Tài chính chủ trì cập nhật, kết nối liên thông dữ liệu các dự án vào hệ thống quản lý đầu tư; đồng thời xem xét khả năng cân đối ngân sách và các nguồn lực tài chính để triển khai các dự án xanh, dự án đáp ứng tiêu chí tuần hoàn.

Công tác điều hành ngân sách nhà nước tiếp tục được triển khai linh hoạt, góp phần hỗ trợ tăng trưởng và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. (Ảnh: M.P)

Thu ngân sách gần đạt dự toán, tập trung thực hiện nhiệm vụ chi cuối năm

Thu ngân sách nhà nước 10 tháng năm 2026 ước đạt 96,8% dự toán trong bối cảnh tiếp tục miễn, giảm, gia hạn thuế, phí và tiền thuê đất. Trong khi đó, chi ngân sách đạt 66,8% dự toán, đặt ra yêu cầu tập trung thực hiện các nhiệm vụ chi những tháng cuối năm, gắn với bảo đảm cân đối và sử dụng hiệu quả nguồn lực.