Tài trợ 22,4 triệu AUD cho Đại học Monash phát triển thuốc phục hồi chức năng hệ bạch huyết

Cơ quan Các dự án nghiên cứu tiên tiến về Y tế (ARPA-H) đã cam kết tài trợ tối đa 22,4 triệu AUD (khoảng 420 tỷ đồng) cho nhóm nghiên cứu của Đại học Monash (Australia) phối hợp Đại học Missouri và Đại học Pennsylvania (Mỹ) phát triển các loại thuốc mới giúp phục hồi chức năng co bóp và vận chuyển của mạch bạch huyết.

ARPA-H tài trợ tối đa 22,4 triệu AUD (khoảng 420 tỷ đồng) cho Đại học Monash (Australia) phát triển các loại thuốc mới giúp phục hồi chức năng co bóp và vận chuyển của mạch bạch huyết.
ARPA-H tài trợ tối đa 22,4 triệu AUD (khoảng 420 tỷ đồng) cho Đại học Monash (Australia) phát triển các loại thuốc mới giúp phục hồi chức năng co bóp và vận chuyển của mạch bạch huyết.

Chương trình nghiên cứu của Đại học Monash hướng tới phát triển thuốc uống thế hệ mới giúp khôi phục chức năng bơm và vận chuyển tự nhiên của hệ bạch huyết, dựa trên cơ chế phân tử có độ chọn lọc cao và có thể điều chỉnh linh hoạt.

Phương pháp này được tiên phong bởi nhóm nghiên cứu tại Viện Khoa học dược phẩm Monash (MIPS), cho phép phát triển các loại thuốc an toàn hơn, chọn lọc hơn và hiệu quả hơn, hoạt động đúng nơi, đúng thời điểm và đúng loại mô, đồng thời hạn chế tác dụng phụ ở các phần khác của cơ thể.

Nhóm nghiên cứu áp dụng mô hình thiết kế thuốc mới, tập trung vào các phân tử nhắm tới vị trí gắn dị lập thể (allosteric) trên thụ thể acetylcholine muscarinic (mAChRs) – một nhóm protein đặc hiệu trên mạch bạch huyết. Các vị trí gắn thuốc dị lập thể này tác động lên protein mục tiêu giống như một van điều chỉnh chính xác mức độ tăng giảm, thay vì cơ chế “bật-tắt” đơn giản như các loại thuốc truyền thống vốn chỉ kích hoạt hoặc chặn protein.

Cơ chế này cho phép thuốc điều chỉnh hoạt động của hệ bạch huyết về trạng thái bình thường, đồng thời hạn chế tác động lên các protein tương tự ở những phần khác của cơ thể. Chương trình nghiên cứu kéo dài 5 năm, do các nhà khoa học của MIPS dẫn dắt, bao gồm Giáo sư Christopoulos, Phó Giáo sư Celine Valant và Giáo sư Natalie Trevaskis.

tu-trai-sang-phai-giao-su-christopoulos-pho-giao-su-celine-valant-va-giao-su-natalie-trevaskis-8142.png
Từ trái sang phải: Giáo sư Christopoulos, Phó Giáo sư Celine Valant và Giáo sư Natalie Trevaskis.

Nhóm nghiên cứu tham gia chương trình GLIDE của ARPA-H nhằm tìm kiếm hướng điều trị mới cho các bệnh liên quan hệ bạch huyết, từ bệnh bẩm sinh hiếm gặp đến các bệnh mạn tính phổ biến. Chương trình tập trung phát triển các liệu pháp giúp giảm triệu chứng, đồng thời phục hồi hoặc tái tạo hệ mạch bạch huyết bị rối loạn chức năng.

Rối loạn chức năng hệ bạch huyết khá phổ biến: phù bạch huyết thứ phát ảnh hưởng khoảng 1/30 người trưởng thành, trong khi phù bạch huyết bẩm sinh gặp ở khoảng 1/100.000 người. Bên cạnh đó, viêm khớp dạng thấp ảnh hưởng khoảng 1/50 người trưởng thành, còn viêm khớp tự phát ở trẻ em gặp ở khoảng 1/1.000 trẻ em. Nghiên cứu phù hợp với mục tiêu của chương trình GLIDE thuộc ARPA-H, hướng tới phát triển các liệu pháp vật lý, dược lý, gen và tế bào nhằm điều trị các bệnh bạch huyết hiếm gặp cũng như các bệnh mạn tính có biến chứng liên quan rối loạn hệ bạch huyết. Chương trình do Kimberley Steele quản lý.

Theo đánh giá của Giáo sư Christopoulos, Trưởng khoa Dược và Khoa học dược phẩm, “nghiên cứu này đại diện cho một biên giới mới của y học”. Ông giải thích, mạch bạch huyết hoạt động giống như một chuỗi các “máy bơm mini”, giúp dẫn lưu dịch, chất thải và các tế bào gây viêm ra khỏi mô. Khi các “máy bơm” này hoạt động kém, dịch sẽ tích tụ trong mô, gây sưng và viêm, dẫn đến phù bạch huyết và các bệnh mạn tính như viêm khớp. Trong nhiều thập kỷ qua, các phương pháp điều trị tiêu chuẩn cho phù bạch huyết và bệnh liên quan vẫn còn hạn chế, chủ yếu tập trung kiểm soát triệu chứng thông qua thay đổi lối sống, sử dụng đồ ép nén hoặc phẫu thuật.

vien-khoa-hoc-duoc-pham-monash-phat-trien-huong-dieu-tri-moi-cho-cac-benh-bach-huyet-8374.jpg
Viện Khoa học Dược phẩm Monash phát triển hướng điều trị mới cho các bệnh bạch huyết.

Giáo sư Christopoulos cho biết: “Việc kiểm soát chính xác quá trình đưa các liệu pháp thuốc dị lập thể qua hệ bạch huyết cho phép chúng tôi trực tiếp tác động vào các cơ chế nền tảng gây rối loạn chức năng bơm và vận chuyển, điều trước đây được xem là không thể”.

Phó Giáo sư Valant chia sẻ: “Khoản tài trợ từ chương trình ARPA-H GLIDE là sự ghi nhận quan trọng đối với định hướng nghiên cứu của chúng tôi. Chúng tôi trân trọng cơ hội hợp tác với ARPA-H để phát triển các giải pháp điều trị phù bạch huyết, hướng tới cải thiện kết quả sức khỏe cho bệnh nhân trên toàn thế giới”.

Còn Giáo sư Trevaskis cho biết thêm: “Trong nhiều năm qua, điều trị rối loạn bạch huyết chủ yếu dừng ở kiểm soát triệu chứng, chưa giải quyết được nguyên nhân gốc rễ. Chúng tôi đang nỗ lực thay đổi điều này thông qua việc phát triển các loại thuốc có khả năng trực tiếp phục hồi chức năng bạch huyết”.

Nghiên cứu có tiềm năng mở rộng ứng dụng trong điều trị nhiều bệnh lý phổ biến và hiếm gặp, bao gồm: viêm khớp dạng thấp, viêm khớp tự phát ở trẻ em, phù bạch huyết thứ phát (thường xảy ra sau phẫu thuật, ung thư hoặc chấn thương) và phù bạch huyết bẩm sinh.

Có thể bạn quan tâm

An toàn vệ sinh thực phẩm cần được quản lý hiệu quả hơn ngay từ nguyên liệu đầu vào. (Ảnh minh họa)

Thời tiết nắng nóng, kiểm soát chặt nguy cơ ô nhiễm chéo, hư hỏng thực phẩm

Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế) đề nghị các địa phương tăng cường kiểm soát an toàn thực phẩm, thực phẩm giả, thực phẩm kém chất lượng, thực phẩm không rõ nguồn gốc; truyền thông để người dân biết bảo quản và sử dụng thực phẩm an toàn; đặc biệt trong điều kiện thời tiết nắng nóng, nguy cơ ô nhiễm chéo, hư hỏng thực phẩm.

Hình ảnh catheter triệt đốt trong buồng tim, phát xung điện cô lập tĩnh mạch phổi.

Đột phá điều trị rung nhĩ, giảm tối đa nguy cơ tổn thương tim và cơ quan lân cận

Rung nhĩ là nguyên nhân hàng đầu gây đột quỵ não, làm tăng nguy cơ đột quỵ gấp 5 lần so với người bình thường. Công nghệ triệt đốt bằng năng lượng từ xung (PFA) vừa được Bệnh viện Bạch Mai triển khai mở ra lựa chọn điều trị mới với khả năng tác động chọn lọc lên mô cơ tim, hạn chế tối đa biến chứng.

Các đại biểu tham dự hội thảo.

Hướng tới các chuẩn mực quốc gia và quốc tế trong khám, chữa bệnh

Chiều 8/6, tại Hà Nội, Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế) tổ chức Hội thảo Góp ý hoàn thiện dự thảo Tiêu chuẩn chất lượng nâng cao đối với bệnh viện khu vực phía bắc theo hình thức trực tiếp và trực tuyến, với sự tham gia của lãnh đạo Sở Y tế các tỉnh, thành phố; đại diện y tế bộ, ngành, khối bệnh viện, hội nghề nghiệp.

Đồng chí Phạm Giang Nam, Giám đốc Sở Y tế Điện Biên thăm, động viên trẻ em trước khi được bác sĩ phẫu thuật. Ảnh: BÍCH DUYÊN

Phẫu thuật miễn phí cho trẻ em khuyết tật tại Điện Biên

Sáng 8/6, tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên, Sở Y tế Điện Biên phối hợp Trung tâm II Trực tiếp hỗ trợ trẻ em tàn tật - Hội Cứu trợ trẻ em tàn tật Việt Nam, tổ chức khai mạc Chương trình “Hành trình gieo mầm xanh hy vọng” phẫu thuật miễn phí cho trẻ em khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh.

Ảnh minh họa.

Mùa hè đến, chuyên gia cảnh báo bệnh viêm não Nhật Bản ở trẻ em

Khởi phát bằng những triệu chứng quen thuộc như sốt cao, đau đầu, nôn ói, viêm não Nhật Bản có thể nhanh chóng tấn công não bộ, gây hôn mê, để lại di chứng suốt đời hoặc cướp đi sinh mạng người bệnh. Ca tử vong của bé gái ở Thanh Hóa là lời cảnh báo về căn bệnh nguy hiểm nhưng vẫn có thể phòng ngừa bằng tiêm chủng đầy đủ.

Ban Tổ chức trao tặng quà cho các gia đình có hoàn cảnh khó khăn.

Gần 1000 người dân Thanh Hóa được khám, tư vấn sức khỏe

Ngày 7/6, Trung ương Hội Thầy thuốc trẻ Việt Nam phối hợp với Sở Y tế, Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa và nhà tài trợ tổ chức chương trình khám sức khỏe toàn dân “Vì một Việt Nam khỏe mạnh" - CAREME, sàng lọc các bệnh tim mạch, thận và chuyển hóa cho người dân trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.

Tiến sĩ Timothy Robert Fricke,Giám đốc Nghiên cứu và Giáo dục tại Viện Nghiên cứu Thị giác Quốc gia, Trường Cao đẳng Khúc xạ Nhãn khoa Úc, đồng thời là Giáo sư danh dự Đại học Y Hà Nội khám cho em nhỏ.

Tật khúc xạ ở trẻ em gia tăng đáng báo động, cần thay đổi nhận thức để bảo vệ thị lực

Tỷ lệ trẻ em mắc tật khúc xạ đang gia tăng nhanh chóng, đặc biệt tại các đô thị lớn. Theo các nghiên cứu được các chuyên gia nhãn khoa chia sẻ, tỷ lệ tật khúc xạ ở trẻ em tại Việt Nam hiện dao động từ 34-35%, trong khi tại khu vực thành thị có thể lên tới 43-50%, trở thành một vấn đề sức khỏe cộng đồng đáng quan tâm.

Chiến dịch truyền thông quy tụ các cơ quan quản lý nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, cộng đồng địa phương và sinh viên.

Ngày An toàn Thực phẩm thế giới 2026: Thúc đẩy hành động vì thực phẩm an toàn cho mọi người

Các tổ chức quốc tế và đối tác Việt Nam đang triển khai chiến dịch truyền thông quy mô lớn hưởng ứng Ngày An toàn thực phẩm thế giới 2026, kêu gọi sự tham gia của cơ quan quản lý, doanh nghiệp, nhà khoa học, cộng đồng và giới trẻ nhằm giảm thiểu nguy cơ mất an toàn thực phẩm, bảo vệ sức khỏe người dân.

Bác sĩ Bệnh viện Y dược cổ truyền-phục hồi chức năng tỉnh Điện Biên khám sức khỏe cho nhân dân phường Mường Thanh.

Điện Biên: Tăng cường phối hợp triển khai khám, tư vấn sức khỏe miễn phí cho nhân dân

Dù đã chủ động nhân lực, thiết bị về cơ sở thực hiện khám, tư vấn sức khỏe miễn phí cho nhân dân nhưng qua nắm bắt thực tế tại các điểm khám, lãnh đạo Sở Y tế Điện Biên đánh giá, số người dân đến khám không tương xứng với tỷ lệ dân số; còn nhiều người chưa nắm được thông tin được khám, tư vấn miễn phí tại địa bàn.

Người dân bị bệnh về hô hấp điều trị tại y tế cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Giảm gánh nặng bệnh hen nặng bằng liệu pháp sinh học thế hệ mới

Tại Việt Nam có khoảng 4 triệu người đang sống chung với bệnh hen, chiếm gần 4% dân số với hàng nghìn ca tử vong mỗi năm. Trong đó, nhóm hen nặng chỉ chiếm từ 7-11% nhưng lại tiêu tốn gần 60% tổng chi phí điều trị. Con số này cho thấy gánh nặng không nằm ở số lượng mà ở mức độ phức tạp và khó kiểm soát của bệnh.

Ảnh minh họa.

Ebola có thể bị nhầm với sốt xuất huyết, cúm: Chuyên gia cảnh báo dấu hiệu cần lưu ý

Sốt cao, đau đầu, mệt mỏi, tiêu chảy hay đau cơ là những triệu chứng ban đầu của Ebola nhưng cũng dễ gặp ở cúm, sốt xuất huyết và nhiều bệnh truyền nhiễm khác. Việc nhận diện sớm yếu tố dịch tễ, đặc biệt là lịch sử đi lại từ vùng có dịch trong vòng 21 ngày, là chìa khóa quan trọng để phát hiện nguy cơ và ngăn chặn bệnh lây lan.