Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu và xu hướng du lịch mới

Trình độ, kỹ năng, nghiệp vụ nguồn nhân lực luôn là yếu tố quyết định sự phát triển của du lịch trong bất cứ bối cảnh nào. Vì thế, đứng trước những nhu cầu, xu hướng du lịch mới hình thành, nhất là từ sau những tác động của đại dịch Covid-19, du lịch Việt muốn phát triển càng cần chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Sinh viên ngành du lịch thực tập tại cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú. (Ảnh Trường đại học Mở Hà Nội)
Sinh viên ngành du lịch thực tập tại cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú. (Ảnh Trường đại học Mở Hà Nội)

Theo thống kê của Tổ chức Du lịch thế giới thuộc Liên hợp quốc (UNWTO), du khách toàn cầu hiện đang có xu hướng lựa chọn những hình thức du lịch như: du lịch tại chỗ (staycation), khám phá những địa danh ở địa phương mình mà trước đây ít chú ý đến; du lịch không chạm và tự động hóa; tìm đến những vùng đất hoang sơ, tận hưởng không gian ngoài trời; khám phá những điểm đến ít người bằng phương tiện vận tải cá nhân; quan tâm hơn đến du lịch xanh, du lịch có trách nhiệm...

Trong khi đó, theo nghiên cứu của Hội đồng Tư vấn du lịch (TAB), du khách Việt Nam đang ưa chuộng những xu hướng du lịch nổi trội như: chú trọng nhiều hơn đến thị trường nội địa; ưu tiên tính an toàn, du lịch biển và du lịch thiên nhiên; thích đi ngắn ngày hơn và đi theo nhóm nhỏ; tự đặt dịch vụ trực tuyến... Sự thay đổi về nhu cầu, xu hướng du lịch của du khách sau đại dịch không chỉ đòi hỏi cần hình thành những sản phẩm mới, mà còn đặt ra những yêu cầu khắt khe hơn trong việc hoàn thiện kỹ năng, nghiệp vụ của đội ngũ nhân lực du lịch.

Tuy nhiên, hậu Covid-19, bên cạnh "khoảng trống" về số lượng lao động, ngành du lịch Việt Nam còn đứng trước nhiều thách thức liên quan chất lượng nguồn nhân lực. Theo Cục Du lịch quốc gia Việt Nam, với tốc độ tăng trưởng như hiện nay, mỗi năm ngành du lịch cần 40.000 nhân viên mới và 25.000 nhân viên cần được đào tạo lại. Nhưng mỗi năm, các trường chỉ đào tạo được trung bình khoảng 20.000 sinh viên, trong đó tỷ lệ lao động du lịch được đào tạo chuyên nghiệp chỉ chiếm 43%, gần một nửa không biết ngoại ngữ. Nhiều khách sạn 4 sao, 5 sao tại Việt Nam hiện đang sử dụng một bộ phận lao động nước ngoài, đặc biệt ở các vị trí cấp cao, cho thấy nguy cơ cạnh tranh về việc làm của nhân lực du lịch Việt Nam ngay trên sân nhà.

Ðó là chưa kể, cơ cấu nhân lực du lịch nước ta chưa đồng bộ, năng lực thực tiễn chưa tương xứng với bằng cấp. Nhân lực có trình độ, tay nghề cao chưa nhiều và ngày càng thiếu những cán bộ đầu đàn làm nòng cốt đào tạo nhân lực trẻ. Ðặc biệt, kiến thức về hội nhập, tin học, ngoại ngữ còn hạn chế... Thực trạng này đòi hỏi Việt Nam cần nhanh chóng có chiến lược nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch để tăng cường năng lực cạnh tranh trong bối cảnh mới, đặc biệt là trước những xu hướng du lịch mới định hình.

Nghị quyết 82/NQ-CP của Chính phủ ngày 18/5/2023 về nhiệm vụ, giải pháp đẩy nhanh phục hồi, tăng tốc phát triển du lịch hiệu quả, bền vững đã nhấn mạnh nhiệm vụ cần phải nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, đồng thời định hướng các giải pháp cụ thể cần thực hiện đối với các bộ, ngành liên quan như: Phát triển nguồn nhân lực du lịch hướng tới mục tiêu đủ số lượng, cân đối cơ cấu ngành nghề, bảo đảm chất lượng, đáp ứng nhu cầu thị trường và phù hợp với các định hướng phát triển sản phẩm, tổ chức không gian; xây dựng tiêu chuẩn và thực hiện chuẩn hóa nhân lực du lịch, đa dạng các hình thức đào tạo; tăng cường nâng cao kỹ năng nghề và bổ sung hình thành các kỹ năng chuyển đổi, các kỹ năng mới...

Theo nhóm thực hiện nhiệm vụ "Nghiên cứu những xu hướng du lịch mới sau đại dịch Covid-19" của Viện Nghiên cứu phát triển du lịch, để phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam đáp ứng các xu hướng du lịch mới, bên cạnh việc tập trung phục hồi nguồn nhân lực sau đại dịch thông qua áp dụng các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, cơ sở đào tạo và tập trung bồi dưỡng nguồn nhân lực chuyên biệt cho các thị trường quốc tế chiến lược (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, châu Âu, ASEAN, Mỹ...), còn cần xây dựng chương trình đào tạo đa dạng và linh hoạt, giúp nguồn nhân lực có khả năng thích nghi nhanh chóng với các xu hướng mới như du lịch ẩm thực, du lịch sinh thái, thể thao mạo hiểm, du lịch sức khỏe... Chẳng hạn, cơ sở đào tạo du lịch có thể thiết kế chương trình đào tạo đặc biệt về ẩm thực địa phương, giúp hướng dẫn viên sau khi hoàn thành khóa học có khả năng chia sẻ kiến thức về ẩm thực với du khách quốc tế, bảo đảm du khách có những trải nghiệm ẩm thực độc đáo hơn.

Bên cạnh đó, ngành du lịch cần liên kết với các ngành khác như ẩm thực, y tế, thể thao, văn hóa... để phát triển các gói sản phẩm du lịch đa dạng. Sự hợp tác này giúp cung cấp cơ hội đào tạo và việc làm cho nguồn nhân lực trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Thí dụ, chương trình hợp tác với ngành y tế giúp đào tạo các hướng dẫn viên sức khỏe và du lịch y tế, qua đó nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch chăm sóc sức khỏe. Ðặc biệt, trước sự lên ngôi của du lịch trực tuyến, phát triển kỹ năng số càng trở thành đòi hỏi quan trọng đối với nguồn nhân lực du lịch, nhất là ở các nội dung quản lý dữ liệu, tiếp thị trực tuyến và sử dụng công nghệ thông tin để tối ưu hóa trải nghiệm du lịch của du khách.

Chuyên gia về du lịch, Tiến sĩ Nguyễn Văn Lưu nhận định: Ðể phát triển nguồn nhân lực du lịch, Việt Nam nhất thiết phải theo tư duy toàn cầu và hành động địa phương. Bởi chỉ có tư duy toàn cầu mới thấy được bối cảnh luôn vận động, thấy được các yếu tố quốc tế tác động, từ đó xác định đúng, rõ mục tiêu, phương thức, công nghệ, quy mô, chất lượng và cơ cấu phát triển nguồn nhân lực du lịch; phát triển nguồn nhân lực du lịch có năng lực được thừa nhận trong khu vực, tạo cơ sở để người lao động chủ động tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, bảo đảm có vị trí xứng đáng trong chuỗi cung cấp dịch vụ du lịch. Ở khía cạnh khác, cạnh tranh và phát triển du lịch chủ yếu dựa trên tính sáng tạo của sản phẩm, dịch vụ, giá trị độc đáo của bản sắc văn hóa, nên phát triển nguồn nhân lực du lịch cần hành động địa phương, tức phải có giải pháp riêng phù hợp điều kiện, trình độ phát triển của đất nước và con người bản địa.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Lưu, trước hết, cần tiến hành kiểm kê, đánh giá lại nguồn nhân lực du lịch trên cả nước để có kế hoạch đào tạo đúng, trúng và phù hợp. Thời gian qua, ngành du lịch và các địa phương đã tiến hành công việc này nhưng chưa thật kỹ và đầy đủ, vì thế cần được thực hiện bài bản hơn với phương châm không để sót bất cứ lực lượng làm du lịch nào. Cùng với đó, cần tạo môi trường thuận lợi cho đào tạo, dạy nghề và bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch, trong đó chú trọng tuyên truyền nâng cao nhận thức về du lịch, nâng cao hình ảnh nghề nghiệp du lịch và tăng cường liên kết để phát triển nguồn nhân lực du lịch. Ðặc biệt, cần thực hiện tiêu chuẩn hóa một bước nhân lực du lịch ở các lĩnh vực, ngành nghề theo yêu cầu thực tế, phù hợp với các hệ thống tiêu chuẩn quốc gia và vươn lên đạt tiêu chuẩn quốc tế. Ðẩy mạnh xã hội hóa công tác phát triển nhân lực du lịch, nhất là ở các khâu đào tạo, bồi dưỡng để tăng cường huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực giúp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch.

Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Ðính, nguyên Phó Chủ tịch Hiệp hội Ðào tạo du lịch Việt Nam lưu ý, ngoài bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho lực lượng lao động trực tiếp, cơ quan quản lý du lịch cần phối hợp các cơ sở đào tạo, doanh nghiệp để đào tạo cho cộng đồng thông qua các lớp phổ biến kiến thức, tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ làm du lịch, kỹ năng giao tiếp trong phục vụ khách, kiến thức quản lý các điểm du lịch cộng đồng... Ðây được coi là giải pháp quan trọng để phát triển du lịch bền vững, có trách nhiệm, nhất là ở những địa bàn vùng sâu, vùng xa có tiềm năng du lịch lớn; đồng thời là cơ sở để tạo nguồn nhân lực du lịch Việt Nam.

Có thể bạn quan tâm

Cụm di tích liên quan thủy tổ dòng họ Thiều dưới chân núi Đào thuộc phường Đông Tiến, tỉnh Thanh Hóa. (Ảnh: Mai Luận)

Dòng họ Thiều trong cộng đồng trân quý di sản

Ở phường Đông Tiến, tỉnh Thanh Hóa, con cháu dòng họ Thiều và người dân địa phương đã chung tay đóng góp nguồn lực, công sức để trùng tu, tôn tạo quần thể di tích liên quan thủy tổ dòng họ Thiều, bảo tồn thiết chế văn hóa cổ truyền, tiếp tục kế thừa, phát huy những giá trị truyền thống.

Giữa bối cảnh, nền du lịch toàn cầu đối mặt với nhiều sức ép, Việt Nam vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực. (Ảnh: THẾ ĐẠI)

Ngành du lịch tăng tốc, hoàn thành mục tiêu năm 2026

Duy trì đà tăng trưởng ấn tượng về lượng khách, Việt Nam đứng trước cơ hội bứt phá trên bản đồ du lịch thế giới. Hướng tới mục tiêu trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, toàn ngành nỗ lực tháo gỡ các điểm nghẽn, đẩy mạnh chuyển đổi số, thực hiện đồng bộ Nghị quyết số 26-NQ/TW để tạo nền tảng vững chắc cho giai đoạn phát triển mới.

Du khách Việt Nam check-in tại Moskva. (Ảnh: Ủy ban Du lịch thành phố Moskva)

Còn nhiều dư địa trong hợp tác du lịch Việt Nam và Nga

Với nền tảng quan hệ hữu nghị truyền thống, sự tương đồng về nhu cầu giao lưu, khám phá văn hóa và tiềm năng phát triển thị trường, hợp tác du lịch Việt Nam-Nga được kỳ vọng tiếp tục mở rộng, góp phần thúc đẩy trao đổi khách hai chiều và tăng cường giao lưu nhân dân giữa hai quốc gia.

Du khách trải nghiệm nghỉ dưỡng tại Minera Hot Springs Bình Châu. (Ảnh: HOÀNG TUYẾT)

Khơi thông “mỏ vàng” du lịch y tế

Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều lợi thế để phát triển du lịch y tế. Đây thật sự là “mỏ vàng” trong việc đóng góp vào sự tăng trưởng hai con số của thành phố nếu ngành du lịch có những giải pháp khơi thông, phát huy lợi thế đặc biệt này một cách hiệu quả.

Khách quốc tế thích thú trải nghiệm trò chơi dân gian khi ghé Hội An. (Ảnh: THẾ ĐẠI)

Việt Nam được đánh giá cao nhờ giá cả cạnh tranh và môi trường an toàn, an ninh

Việc Việt Nam tăng 7 bậc trên bảng xếp hạng Chỉ số năng lực phát triển du lịch năm 2026 cho thấy năng lực phát triển thương hiệu du lịch Việt đang có bước tiến tích cực, với nhiều yếu tố nền tảng được cải thiện rõ rệt, từ hạ tầng, tài nguyên du lịch đến môi trường, sự an toàn và khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường.

Lần thứ 8 Việt Nam được vinh danh ở hạng mục Điểm đến hàng đầu châu Á Và lần thứ 4 nhận danh hiệu Điểm đến di sản hàng đầu châu Á của Giải thưởng Du lịch thế giới. (Ảnh: THÀNH ĐẠT)

Nhìn lại dấu ấn của Việt Nam tại Giải thưởng Du lịch thế giới 2026

Theo Trung tâm Thông tin du lịch, Việt Nam vừa được vinh danh tại Giải thưởng Du lịch thế giới với hai danh hiệu quan trọng là Điểm đến hàng đầu châu Á và Điểm đến di sản hàng đầu châu Á. Kết quả này cho thấy sức hấp dẫn của thương hiệu Việt tại một trong những giải thưởng quốc tế về du lịch có uy tín hàng đầu.

Gian hàng của Campuchia tại Hội chợ Du lịch Quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh năm 2026. (Ảnh: Ban tổ chức).

Thành phố Hồ Chí Minh được vinh danh tại 3 hạng mục giải thưởng hàng đầu châu Á về du lịch

Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, trong khuôn khổ Lễ trao Giải thưởng Du lịch Thế giới (World Travel Awards-WTA) khu vực châu Á, châu Đại Dương và Ấn Độ Dương năm 2026, diễn ra tối 27/9 tại Maldives, Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục được vinh danh tại 3 hạng mục giải thưởng hàng đầu châu Á.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Đức Thắng, Tổng Thư ký Liên chi hội Đào tạo du lịch Việt Nam, Phó Hiệu trưởng, Trưởng khoa Du lịch, Trường đại học Công nghệ Đông Á. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)

Phát huy vai trò tiên phong của doanh nghiệp trong kiến tạo giá trị du lịch

Cùng với xác định doanh nghiệp là lực lượng tiên phong, Nghị quyết 26-NQ/TW đặt mục tiêu hình thành các tập đoàn, tổng công ty du lịch có thương hiệu mạnh, sức cạnh tranh quốc tế; phát triển các cực tăng trưởng, trung tâm du lịch trọng điểm, gắn với định hướng phát triển du lịch theo hệ sinh thái kinh tế tổng hợp.

Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam quảng bá điểm đến tại Triển lãm Du lịch Trung Quốc-ASEAN 2026. (Ảnh: Ban Tổ chức)

Đổi mới công tác xúc tiến: Chiến lược định vị thương hiệu du lịch Việt

Hướng tới mục tiêu đóng góp 10-12% GDP vào năm 2030, công tác xúc tiến được xem là mũi nhọn tiên phong, khai mở đột phá cho ngành du lịch. Không dừng lại ở việc tổ chức sự kiện hay quảng bá đơn thuần, hoạt động xúc tiến dần đổi mới, hợp lực và bứt phá, trở thành đòn bẩy đưa thương hiệu Việt vươn tầm trên bản đồ du lịch thế giới.

Du lịch tâm linh, điểm đến 4 mùa ở Thanh Hóa.

Đổi mới phương thức quản trị du lịch theo hướng gia tăng sức cạnh tranh

Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới xác định mục tiêu phát triển du lịch Việt Nam chất lượng cao, thông minh, xanh, sáng tạo, giàu bản sắc văn hóa, có giá trị gia tăng cao; có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế, có sức lan tỏa mạnh.

Du khách Nga đến Phú Quốc. (Ảnh: CTV)

Phú Quốc đón chuyến bay đầu tiên mùa 2026-2027 từ Nga

Sáng 27/9, đảo Phú Quốc, tỉnh An Giang chính thức bước vào mùa cao điểm du lịch mùa đông 2026-2027 khi chào đón chuyến bay thẳng đầu tiên mang số hiệu VJ2867. Chuyến bay đưa hơn 370 du khách quốc tế di chuyển từ thành phố Krasnoyarsk, Liên bang Nga đến Đảo Ngọc an toàn vào lúc 7 giờ 30 phút sáng cùng ngày.

Đoàn khách MICE từ khoảng 30 quốc gia và vùng lãnh thổ đến tham gia hội thảo, kết hợp tham quan Quảng Ninh. (Ảnh: TTXVN)

MICE mở ra không gian hợp tác, động lực tăng trưởng mới cho du lịch Việt

Không chỉ là phân khúc du lịch có giá trị cao, giờ đây, MICE đang trở thành một không gian hợp tác, một động lực tăng trưởng và một lĩnh vực cạnh tranh mới của du lịch toàn cầu. Du lịch MICE được kỳ vọng sẽ mở ra cơ hội để nâng cao giá trị gia tăng, chất lượng và sức cạnh tranh của ngành du lịch Việt trên thế giới.

Hoàng hôn trên đảo Bé, Lý Sơn. (Ảnh: TRẦN THÀNH)

Gìn giữ, lan tỏa không gian xanh biển, đảo

Đặc khu Lý Sơn (Quảng Ngãi) có nhiều lớp giá trị được bồi đắp từ thiên nhiên và đời sống cư dân qua thời gian. Dấu tích của núi lửa, nét đặc trưng của những cánh đồng tỏi, không gian biển và hệ sinh thái quanh đảo tạo nên diện mạo riêng, đồng thời cũng mở ra những khả năng phát triển du lịch.

Đến Bắc Hoa, Bắc Ninh, du khách như bước vào không gian văn hóa lưu giữ vẹn nguyên bản sắc của đồng bào dân tộc Nùng. (Ảnh: TTXVN)

Bộ tiêu chí "Điểm đến du lịch nông thôn bền vững": Nâng tầm giá trị điểm đến

Việc xây dựng Bộ tiêu chí "Điểm đến du lịch nông thôn bền vững" được xem là công cụ đo lường cấp thiết, giúp các địa phương xác định đúng thực trạng của từng điểm đến, chuẩn hóa chất lượng quản trị và mở ra lộ trình cụ thể cho phát triển xanh. Qua đó, góp phần tạo sinh kế, nâng cao thu nhập cho người dân bản địa.