Tuy nhiên, trước diễn biến ngày càng phức tạp của dịch bệnh, ngành sắn đang đứng trước những thách thức lớn, đòi hỏi có giải pháp căn cơ bảo đảm phát triển bền vững.
Các nông dân trồng sắn đang phải “gồng mình” trước sự tấn công của nhiều loại dịch bệnh như: Khảm lá, thối củ, lở cổ rễ, chổi rồng, xì mủ thân... khiến việc canh tác trở nên rủi ro cao.
Ghi nhận tại xã Tân Châu, một trong những vùng trồng sắn trọng điểm của tỉnh, trên nhiều cánh đồng, những luống sắn xanh tốt xen lẫn các cây dị dạng, còi cọc.
Ông Nguyễn Hồng Cẩm, hiện đang canh tác 20 ha sắn chia sẻ: Trước đây trồng sắn chỉ lo bệnh khảm lá, giờ thì nhiều loại bệnh. Nhìn cây phía trên vẫn xanh, nhưng không biết dưới đất củ có phát triển hay không, phải chờ đến ngày thu hoạch mới biết lời hay lỗ.
Theo đánh giá của ngành chuyên môn, tỷ lệ nhiễm bệnh trên cây sắn hiện dao động từ 10-40%, tùy điều kiện đất đai và thời tiết.
Đặc biệt, tại các khu vực trũng thấp, mưa kéo dài, bệnh thối củ có thể bùng phát nhanh, gây thiệt hại nghiêm trọng, thậm chí mất trắng chỉ trong thời gian ngắn.
Điều đáng lo ngại là hiện tượng “đa dịch bệnh”, do sự cộng hưởng của nhiều tác nhân gây hại cùng lúc, khiến cây sắn suy kiệt toàn diện, làm gia tăng nguy cơ đứt gãy vùng nguyên liệu nếu không có giải pháp quản lý tổng hợp.
Thống kê của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tây Ninh cho thấy, đến cuối tháng 4/2026, diện tích sắn nhiễm bệnh trên địa bàn tỉnh chiếm khoảng 33,4%, tương đương hơn 12.500 ha. Đây là con số đáng báo động, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng nguyên liệu.
Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Đình Xuân cho biết:
Bệnh khảm lá có thể làm giảm năng suất từ 20-30%; các bệnh thối củ, chổi rồng có thể gây thiệt hại tới 50%, thậm chí mất trắng nếu không xử lý kịp thời. Cái khó hiện nay là nhiều loại bệnh diễn tiến âm thầm, khó phát hiện sớm, khi nhận ra thì đã quá muộn, chi phí đầu tư gần như không thể thu hồi.
Trước tình hình đó, tỉnh Tây Ninh đã ban hành kế hoạch phát triển ngành sắn đến năm 2030, tầm nhìn 2050, với nhiều mục tiêu cụ thể như: 75-90% diện tích sử dụng giống đã được công bố lưu hành; hơn 70% diện tích áp dụng quy trình canh tác bền vững; 80% diện tích ứng dụng cơ giới hóa và công nghệ cao; đẩy mạnh chế biến sâu, chiếm 92% sản lượng...
Bài toán về giống vẫn đang là “nút thắt” cần được tháo gỡ. Dù tỉnh đã đưa vào sản xuất 7 giống sắn kháng bệnh khảm lá gồm: HN1, HN3, HN5, HN36, HN80, HN97 và HLRS-15, nhưng thực tế cho thấy một số giống bộc lộ hạn chế về năng suất, hàm lượng tinh bột; khả năng chống chịu với các loại bệnh chưa đáp ứng yêu cầu.
Một nghịch lý đang đặt ra, giống kháng được bệnh này lại dễ “tổn thương” trước bệnh khác.
Chẳng hạn, giống HN1 kháng tốt bệnh khảm lá nhưng lại nhạy cảm với bệnh thối cổ rễ; trong khi HN3, HN5 có biểu hiện chổi rồng và xì mủ thân tại một số vùng. Điều này cho thấy chưa có giống nào thật sự toàn diện, buộc người sản xuất phải cân nhắc kỹ lưỡng trong lựa chọn.
Tiến sĩ Trương Vĩnh Hải, đại diện Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam cho biết: Giống cây trồng đóng góp trực tiếp vào năng suất khoảng 15-20%. Trong bối cảnh hiện nay, vai trò của giống còn lớn hơn, quyết định khả năng thích nghi và chống chịu trước dịch bệnh cũng như biến đổi khí hậu.
Theo ông Hải, tình trạng thoái hóa giống đang diễn ra trên diện rộng do thâm canh kéo dài, sử dụng vật tư nông nghiệp thiếu kiểm soát và tác động của khí hậu. Đây là nguyên nhân khiến sức chống chịu của cây sắn suy giảm, tạo điều kiện cho dịch bệnh bùng phát.
Hệ lụy của quá trình này là hình thành “vòng xoáy” bất lợi như: Giống suy thoái, dịch bệnh gia tăng, năng suất giảm, chi phí tăng, hiệu quả kinh tế suy giảm. Nếu không được kiểm soát, vòng xoáy này sẽ đe dọa vị thế của ngành sắn - ngành hàng có giá trị xuất khẩu hàng tỷ USD mỗi năm.
Trước thực tiễn dịch bệnh trên cây sắn, ngành nông nghiệp Tây Ninh đang đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển giống đa kháng, thích ứng linh hoạt với điều kiện sinh thái.
Bên cạnh đó, nhiều giải pháp kỹ thuật được triển khai như: Lên luống cao để chống ngập úng, áp dụng hệ thống tưới tiết kiệm, tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp để cải tạo đất và đẩy mạnh quản lý dịch hại tổng hợp (IPM)...
Tiến sĩ Trương Vĩnh Hải nhấn mạnh: Vai trò của liên kết “4 nhà” (nhà nông, nhà khoa học, doanh nghiệp và nhà quản lý) trong tái cơ cấu ngành hàng là then chốt. Việc chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, đào tạo nông dân và tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị được xem là nền tảng để nâng cao hiệu quả và tính bền vững.
Bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng khắc nghiệt đặt ra những thách thức không nhỏ đối với ngành sắn, đòi hỏi các giải pháp để cây sắn vừa bảo đảm năng suất, chất lượng, vừa phát triển ổn định, thân thiện môi trường. Đây là thách thức nhưng cũng là cơ hội để ngành sắn tái cấu trúc theo hướng hiện đại hơn.
Việc kiểm soát dịch bệnh trên cây sắn là quá trình dài, cần sự vào cuộc đồng bộ của các cấp, các ngành và người dân.
Khi làm chủ được nguồn giống bền vững và áp dụng hiệu quả các tiến bộ khoa học, kỹ thuật, ngành sắn Tây Ninh sẽ có “lá chắn” vững chắc trước dịch hại, tiếp tục giữ vững vai trò là cây trồng chiến lược, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế-xã hội của địa phương và cả nước.