Những điểm mới nổi bật của Nghị định 374/2025/NĐ-CP về thực hiện bảo hiểm thất nghiệp

Nghị định mới ban hành giữ nguyên mức đóng bảo hiểm thất nghiệp 1% tiền lương tháng với người lao động và 1% quỹ tiền lương tháng với người sử dụng lao động, nhưng phân định rõ nguồn đóng theo từng loại hình đơn vị. Đồng thời giảm tiền đóng vào Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp với đơn vị sử dụng lao động khi sử dụng lao động khuyết tật.

Lao động tìm hiểu thông tin về bảo hiểm thất nghiệp tại Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội. (Ảnh: THỦY NGUYÊN)
Lao động tìm hiểu thông tin về bảo hiểm thất nghiệp tại Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội. (Ảnh: THỦY NGUYÊN)

Ngày 31/12/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 374/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp (sau đây gọi tắt là Nghị định 374/2025/NĐ-CP), có hiệu lực từ ngày 1/1/2026.

Theo Bảo hiểm xã hội Việt Nam, văn bản này đánh dấu bước hoàn thiện quan trọng chính sách bảo hiểm thất nghiệp, kế thừa những nội dung đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 61/2020/NĐ-CP nhưng đồng thời tạo ra nhiều điểm mới có tính đột phá, cả về cơ chế đóng - hưởng và bảo đảm an toàn Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp.

Trước hết, Nghị định 374/2025/NĐ-CP tiếp tục kế thừa việc xác định người lao động đang đóng bảo hiểm thất nghiệp nhưng làm rõ và đầy đủ hơn các trường hợp được tính là đang tham gia bảo hiểm, trên cơ sở quy định trước đây của Nghị định 61/2020/NĐ-CP.

Ngoài các trường hợp đã đóng bảo hiểm thất nghiệp ở tháng chấm dứt hợp đồng hoặc tháng liền kề trước đó, nghỉ ốm đau, thai sản, nghỉ không lương hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng từ 14 ngày trở lên trong tháng, Nghị định 374/2025/NĐ-CP bổ sung, nhấn mạnh trường hợp người lao động nghỉ việc tại đơn vị sử dụng lao động không còn khả năng đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Nghị định 158/2025/NĐ-CP về bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Quy định này giúp khép kín “khoảng trống pháp lý” trong bối cảnh một số doanh nghiệp đột ngột ngừng hoạt động, phá sản hoặc mất khả năng thanh toán, song người lao động vẫn được bảo vệ quyền lợi khi đề nghị giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Mức đóng bảo hiểm thất nghiệp bằng 1% tiền lương tháng

Một điểm mới nổi bật khác là cách thức thiết kế lại cơ chế đóng bảo hiểm thất nghiệp, vẫn giữ mức đóng 1% tiền lương tháng đối với người lao động và 1% quỹ tiền lương tháng đối với người sử dụng lao động, nhưng phân định rất rõ nguồn đóng theo từng loại hình đơn vị.

Nghị định 374/2025/NĐ-CP xác định trường hợp cơ quan, đơn vị được ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động thường xuyên thì phần đóng bảo hiểm thất nghiệp tương ứng do ngân sách nhà nước bảo đảm, được bố trí trong dự toán chi thường xuyên hằng năm.

Nghị định số 374 vẫn giữ mức đóng 1% tiền lương tháng đối với người lao động và 1% quỹ tiền lương tháng đối với người sử dụng lao động, nhưng phân định rất rõ nguồn đóng theo từng loại hình đơn vị.

Đối với doanh nghiệp, đơn vị sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khoản đóng bảo hiểm thất nghiệp được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ; các cơ quan, tổ chức khác sử dụng nguồn kinh phí hoạt động để đóng.

Nếu như Nghị định 61/2020/NĐ-CP chủ yếu tập trung vào sửa đổi thủ tục, kỹ thuật thực hiện trên nền Nghị định 28/2015/NĐ-CP, thì Nghị định 374/2025/NĐ-CP đã tiến thêm một bước, làm rõ “ai đóng - đóng từ đâu”, tạo cơ sở cho việc lập dự toán, quyết toán và kiểm soát nguồn đóng minh bạch hơn.

Đáng chú ý, Nghị định 374/2025/NĐ-CP lần đầu tiên thiết lập một cơ chế hỗ trợ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp từ ngân sách nhà nước với nguyên tắc rất cụ thể. Theo đó, ngân sách trung ương có thể hỗ trợ tối đa 1% quỹ tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động đang tham gia, nhằm bảo đảm duy trì số dư Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp hằng năm bằng hai lần tổng các khoản chi chế độ và chi phí tổ chức thực hiện của năm trước liền kề.

Đồng thời, Nghị định quy định rõ phương thức chuyển kinh phí hỗ trợ, thời điểm xác định dự toán, thẩm định của Bộ Tài chính, cơ chế hoàn trả phần chênh lệch nếu số cấp cao hơn số phải hỗ trợ hoặc bổ sung nếu số cấp thấp hơn nhu cầu. Đây là điểm mới mà Nghị định 61/2020/NĐ-CP chưa đề cập, đưa Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp từ chỗ chỉ dựa vào nguồn đóng của người lao động và người sử dụng lao động sang mô hình có “vùng đệm” tài khóa, tăng sức chống chịu trước biến động kinh tế-xã hội.

Giảm tiền đóng vào Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp khi sử dụng lao động khuyết tật

Một điểm mới rất đáng chú ý, thể hiện rõ tính nhân văn của chính sách, là quy định giảm tiền đóng vào Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp đối với người sử dụng lao động khi sử dụng người lao động là người khuyết tật.

Theo Nghị định 374/2025/NĐ-CP, người sử dụng lao động khi tuyển dụng mới và sử dụng người lao động là người khuyết tật được giảm mức đóng từ 1% xuống 0% phần trách nhiệm đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động này, trong thời gian người lao động làm việc nhưng không quá 12 tháng đầu kể từ khi tuyển mới.

Để được giảm đóng, đơn vị phải đăng ký tham gia bảo hiểm thất nghiệp và gửi bản sao giấy xác nhận khuyết tật của từng người lao động. Đây là quy định hoàn toàn mới so với Nghị định 61/2020/NĐ-CP, qua đó khuyến khích doanh nghiệp tạo thêm việc làm cho người khuyết tật, mở rộng cơ hội hòa nhập thị trường lao động cho nhóm đối tượng yếu thế.

Giữ nguyên quy định về mức hưởng trợ cấp thất nghiệp

Về chế độ hưởng, Nghị định 374/2025/NĐ-CP tiếp tục kế thừa nguyên tắc cơ bản là mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương của 6 tháng liền kề có đóng bảo hiểm thất nghiệp trước khi thất nghiệp, nhưng cụ thể hóa và siết chặt hơn một số nội dung quan trọng.

Nghị định làm rõ cách xác định 6 tháng liền kề trong trường hợp có thời gian gián đoạn đóng; khẳng định mức hưởng tối đa không vượt quá 5 lần mức lương tối thiểu vùng tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động; và quy định chi tiết cách tính tháng hưởng theo tháng dương lịch, từ ngày bắt đầu hưởng đến ngày tương ứng của tháng sau trừ 1 ngày (hoặc đến ngày cuối tháng nếu tháng sau không có ngày tương ứng).

Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương của 6 tháng liền kề có đóng bảo hiểm thất nghiệp trước khi thất nghiệp.

Đặc biệt, Nghị định quy định cơ quan bảo hiểm xã hội phải chi trả trợ cấp thất nghiệp cho người lao động trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ khi hết thời hạn nhận quyết định hưởng trợ cấp hoặc hết thời hạn thông báo tìm kiếm việc làm. So với Nghị định 61/2020/NĐ-CP chủ yếu tập trung vào thủ tục, phiếu hẹn, trình tự ban hành và hủy quyết định hưởng, thì Nghị định 374/2025/NĐ-CP nhấn mạnh rõ trách nhiệm về thời hạn chi trả, góp phần nâng cao tính kịp thời, minh bạch trong thực hiện chế độ.

Có thể nói, nếu Nghị định 61/2020/NĐ-CP chủ yếu đóng vai trò “tinh chỉnh” các quy trình, thủ tục, làm rõ một số khái niệm và tình huống phát sinh trong quá trình giải quyết bảo hiểm thất nghiệp theo Luật Việc làm 2013, thì Nghị định 374/2025/NĐ-CP là bước nâng cấp toàn diện, vừa kế thừa, vừa bổ sung những cơ chế mới về tài chính, ưu đãi, bảo đảm quỹ và bảo vệ tốt hơn quyền lợi người lao động.

Nghị định 374/2025/NĐ-CP không chỉ làm rõ người nào được coi là đang đóng, mức đóng, mức hưởng, mà còn đặt Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp vào một khuôn khổ quản lý tài chính an toàn hơn, đồng thời khuyến khích cộng đồng doanh nghiệp đồng hành cùng Nhà nước trong việc hỗ trợ nhóm lao động yếu thế.

Với những điểm mới nổi bật đó, Nghị định số 374/2025/NĐ-CP được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho việc tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp trong giai đoạn tới, phù hợp với bối cảnh phát triển của thị trường lao động và yêu cầu bảo đảm an sinh xã hội trong tình hình mới.

Theo Bảo hiểm xã hội Việt Nam, trong năm 2025, độ bao phủ bảo hiểm thất nghiệp tiếp tục được mở rộng và hoàn thành các chỉ tiêu được Chính phủ giao. Đến hết năm 2025, trên cả nước, độ bao phủ bảo hiểm thất nghiệp đạt 35,07% lực lượng lao động trong độ tuổi.

Trong năm ngoái, ước tính, toàn hệ thống bảo hiểm xã hội đã tiếp nhận gần 760 nghìn quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp và hơn 14 nghìn quyết định hưởng hỗ trợ học nghề được chi trả.

Có thể bạn quan tâm

Các đại biểu dự lễ ra quân “Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội-Bưu điện Việt Nam, Chung tay lan tỏa an sinh-Vì mục tiêu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế toàn dân”. (Ảnh BTC)

Chung tay lan tỏa an sinh - Vì mục tiêu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế toàn dân

Lễ ra quân “Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội-Bưu điện Việt Nam, Chung tay lan tỏa an sinh-Vì mục tiêu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế toàn dân” đã được phát động nhằm đẩy mạnh phát triển người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế tự đóng trên địa bàn Thủ đô trong những tháng cuối năm 2026.

Quang cảnh hội nghị. (Ảnh VSS)

Nâng cao chất lượng nghiệp vụ lưu trữ của hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Hội nghị tập huấn nghiệp vụ lưu trữ trong hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam hướng tới nâng cao chất lượng quản lý tài liệu, đẩy nhanh tiến trình số hóa, xây dựng nền tảng lưu trữ điện tử an toàn, tin cậy. Từ đó, góp phần phục vụ hiệu quả công tác quản lý, điều hành và thực hiện nhiệm vụ của hệ thống trong giai đoạn mới.

Từ ngày 1/9, số định danh cá nhân/căn cước công dân thay mã số bảo hiểm xã hội. (Ảnh: nhandan.vn)

Chuyển đổi thành công cho hơn 101 triệu người từ mã số bảo hiểm xã hội sang số định danh cá nhân, căn cước công dân

Theo thống kê, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã thực hiện chuyển đổi thành công mã số bảo hiểm xã hội sang số định danh cá nhân/căn cước công dân cho hơn 101,49 triệu người trên phần mềm Thu và quản lý sổ, thẻ, đạt 99,17% tổng số người thuộc phạm vi chuyển đổi...

Quang cảnh buổi làm việc giữa Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội và Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, tháng 8/2026. (Ảnh HSS)

Thu hồi hơn 396 tỷ đồng tiền chậm đóng, trốn đóng các chế độ bảo hiểm

Đến hết tháng 9/2026, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã ban hành quyết định kiểm tra tại 7.553 đơn vị, yêu cầu truy thu gần 180 tỷ đồng cho 60.710 lao động chưa tham gia hoặc đóng thiếu các chế độ bảo hiểm. Số tiền chậm đóng, trốn đóng thu hồi được trong thời gian kiểm tra là hơn 396 tỷ đồng trên tổng số gần 649 tỷ đồng, đạt hơn 61%.

Sản xuất thiết bị điện công nghệ cao tại Công ty cổ phần Kỹ thuật công nghiệp Á Châu tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc. (Ảnh: nhandan.vn)

Người tham gia nhận sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế điện tử như thế nào?

Từ ngày 6/10/2026, Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội cấp sổ bảo hiểm xã hội điện tử cho người tham gia để giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định. Sau đây là hướng dẫn cụ thể cách nhận và sử dụng sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế điện tử.

Tra cứu thông tin thẻ bảo hiểm y tế bằng căn cước công dân gắn chip được triển khai tại 100% cơ sở khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế ở thành phố Hải Phòng. (Ảnh: THANH NGA)

Đề xuất kéo dài thời gian hỗ trợ 70% mức đóng bảo hiểm y tế lên 72 tháng

Từ những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn và yêu cầu đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, Bộ Y tế đang đề xuất sửa đổi, bổ sung 21 khoản thuộc 15 điều của Nghị định số 188/2025/NĐ-CP. Đáng chú ý, Bộ Y tế đề xuất kéo dài thời gian hỗ trợ tối thiểu 70% mức đóng bảo hiểm y tế từ 36 tháng lên 72 tháng với một số đối tượng.

Bảo hiểm xã hội cơ sở Gia Lâm (Hà Nội) truyền thông chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tại Phiên giao dịch việc làm cụm xã Gia Lâm-Phù Đổng-Thuận An-Bát Tràng năm 2026. (Ảnh: HSS)

Hà Nội xây dựng đơn vị học tập và điểm hỗ trợ kỹ năng số tại bảo hiểm xã hội cơ sở

Một trong những nội dung trọng tâm trong Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời năm 2026 của Bảo hiểm xã hội Hà Nội là xây dựng mô hình “Đơn vị học tập” và “Điểm hỗ trợ kỹ năng số” tại bảo hiểm xã hội cơ sở. Theo đó, viên chức, người lao động trực tiếp hỗ trợ người dân thực hiện các giao dịch bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế điện tử.

Trạm Y tế xã Hoàng Hoa Thám, tỉnh Hưng Yên khám sức khỏe định kỳ cho học sinh trong xã. (Ảnh: PHẠM HÀ)

Tháo gỡ nhiều vướng mắc về khám sức khỏe miễn phí toàn dân

Bộ Y tế hướng dẫn bác sĩ xem xét nếu tại thời điểm khám sức khỏe định kỳ, các kết quả xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh còn giá trị tham khảo cho chẩn đoán thì không chỉ định thực hiện lại nhằm tránh lãng phí... Đồng thời, cho phép khám tại nhà đối với người cao tuổi, người khuyết tật nặng, người bệnh nặng, người nằm một chỗ.