Nghiên cứu giải pháp xử lý tro xỉ nhà máy nhiệt điện

Trước thực trạng lượng tro xỉ thải của các nhà máy nhiệt điện chạy than ngày càng tăng và chưa có giải pháp xử lý hiệu quả, các nhà khoa học trong nước đang triển khai nghiên cứu các công nghệ sản xuất vật liệu hữu dụng từ tro xỉ của các nhà máy nhiệt điện. Tuy nhiên, cần sớm có chính sách khuyến khích phát triển các công nghệ xử lý, tái sử dụng tro xỉ nhiệt điện.

PGS, TS Trần Hồng Côn (Trường đại học Khoa học tự nhiên) thí nghiệm sử dụng chất kết dính vô cơ xử lý tro xỉ nhiệt điện.
PGS, TS Trần Hồng Côn (Trường đại học Khoa học tự nhiên) thí nghiệm sử dụng chất kết dính vô cơ xử lý tro xỉ nhiệt điện.

Theo thống kê của Tổng cục Năng lượng (Bộ Công thương), cả nước hiện có 19 nhà máy nhiệt điện chạy than đang hoạt động, với lượng tro xỉ thải ra khoảng 14,4 triệu tấn/năm. Dự kiến, đến năm 2022, sẽ có khoảng 43 nhà máy nhiệt điện chạy than, với lượng tro xỉ thải ra khoảng 29 triệu tấn/năm. Lượng tro xỉ ngày càng tăng đã gây lo ngại về việc không đủ bãi chứa tro xỉ và ô nhiễm môi trường vì hiện nay, lượng tro xỉ mới tiêu thụ được khoảng ba đến bốn triệu tấn/năm, chủ yếu sử dụng làm vật liệu không nung, nền đập thủy điện, đường giao thông... Trong khi đó, ở các nước phát triển, phần lớn tro xỉ nhiệt điện đã được nghiên cứu, tái sử dụng làm
bê-tông và phụ gia xi-măng…

Lượng tiêu thụ tro xỉ của các nhà máy nhiệt điện ở Việt Nam còn ít là do công nghệ đốt để lại lượng than dư trong tro xỉ còn cao; quá trình xử lý lượng than dư phức tạp, chi phí lớn. Tùy theo loại than và công nghệ đốt có thể lượng than dư còn từ 7 đến 27% và bắt buộc phải tách chọn lọc để loại bỏ than dư xuống dưới 5% mới có thể sử dụng tro xỉ làm vật liệu ứng dụng trong sản xuất xi-măng, vật liệu xây không nung, san lấp công trình. Ngoài ra, để làm các vật liệu từ tro xỉ, phải sử dụng thêm một lượng lớn xi-măng làm chất kết dính khiến chi phí sản xuất tăng. Đã có nghiên cứu sử dụng tro xỉ đã được tách chọn lọc than dư làm bê-tông đầm lăn để xây dựng nhà máy thủy điện nhưng do nhu cầu xây dựng thủy điện giảm dần và chi phí tăng do phải sử dụng xi-măng làm chất kết dính khiến khó mở rộng ứng dụng.

Trước thực trạng này, một số nhà khoa học trong nước đang tập trung nghiên cứu công nghệ phù hợp để xử lý lượng tro xỉ thải. Như nhóm nghiên cứu của Trường đại học Khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) đang thực hiện đề tài cấp bộ “Nghiên cứu xử lý tro xỉ nhiệt điện sử dụng chất kết dính vô cơ, không sử dụng xi-măng thành vật liệu ứng dụng trong xây dựng, giao thông hoặc san lấp công trình”. PGS, TS Trần Hồng Côn, chủ nhiệm đề tài cho biết, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn công nghệ mới, phù hợp xử lý tro xỉ của các nhà máy nhiệt điện hiện nay, đó là sử dụng chất kết dính vô cơ để tạo tro xỉ thành khối rắn, gọi là bê-tông geopolymer. Công nghệ này đặc biệt ở chỗ, không sử dụng xi-măng, không loại bỏ than dư dưới 5%, mà chỉ sử dụng các khoáng chất tự nhiên sẵn có tại Việt Nam như sét, cao lanh, bùn phù sa... làm chất kết dính trong quá trình đóng rắn tro xỉ. Việc tìm ra chất kết dính vô cơ nêu trên là yếu tố quan trọng quyết định thành công của đề tài, kỳ vọng mở ra công nghệ đột phá xử lý tro xỉ. Nhóm nghiên cứu đã chế tạo thử nghiệm thành công gạch không nung và lớp lót nền đường giao thông từ bê-tông geopolymer. Kết quả thử nghiệm cho thấy, khả năng chịu nén của bê-tông đạt để làm vật liệu xây dựng không nung, làm đường... Quy trình công nghệ sau khi được nghiệm thu có thể được chuyển giao cho các cơ sở sản xuất vật liệu để áp dụng triển khai.

Viện Khoa học vật liệu (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) cũng đã có báo cáo tổng quan tình hình nghiên cứu và sử dụng vật liệu geopolymer sản xuất từ tro bay của các nhà máy nhiệt điện trên thế giới để định hướng phát triển công nghệ này ở nước ta. Trên cơ sở đó, các kỹ sư của Viện Khoa học vật liệu đang triển khai nghiên cứu công nghệ chế tạo bê-tông geopolymer từ nguồn tro xỉ nhà máy nhiệt điện. Nhóm nghiên cứu đã khảo sát, phân tích đánh giá nguồn tro xỉ của các nhà máy nhiệt điện than ở khu vực tỉnh phía nam làm nguyên liệu chính để sản xuất bê-tông geopolymer chắn sóng, kè đê biển ở đồng bằng sông Cửu Long và khu vực Đông Nam Bộ. Kỹ sư Lê Tuấn Minh, chủ nhiệm đề tài cho biết, mục đích của đề tài là nghiên cứu ứng dụng mới để có thể giải quyết được nguồn phế thải của ngành công nghiệp nhiệt điện than. Phương pháp tuyển nổi được sử dụng để tách than chưa cháy hết lẫn trong tro xỉ để có được tro bay đủ tiêu chuẩn làm nguyên liệu sản xuất bê-tông geopolymer. Dự kiến đề tài kết thúc vào đầu năm 2020, sẽ thiết lập mô hình sản xuất vật liệu geopolymer để sản xuất các cấu kiện bê-tông geopolymer kè đê biển hoặc chắn sóng. Bê-tông geopolymer có nhiều ưu điểm trong kè biển, nhất là chịu được môi trường nước biển, góp phần giảm ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.

Bộ Khoa học và Công nghệ cũng khẳng định, khuyến khích và tạo điều kiện cho giới khoa học trong nước nghiên cứu triển khai công nghệ sản xuất vật liệu hữu ích từ tro xỉ các nhà máy nhiệt điện than, nhằm bảo vệ môi trường và tạo khối lượng lớn vật liệu xây dựng. Tuy nhiên, các nhà khoa học cũng cho rằng cần có chính sách mang tính tổng thể, liên ngành trong đó quy định các tiêu chuẩn cụ thể về tro xỉ nhiệt điện, tiêu chuẩn của các sản phẩm từ tro xỉ nhiệt điện và khuyến khích phát triển các công nghệ xử lý, tái sử dụng phù hợp tro xỉ nhiệt điện.

Có thể bạn quan tâm

[Infographic] Xu hướng vi phạm và các phương thức, thủ đoạn mới trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ

[Infographic] Xu hướng vi phạm và các phương thức, thủ đoạn mới trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, các hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ đang có xu hướng gia tăng với nhiều phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, gây nhiều khó khăn cho công tác phát hiện, xử lý và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng như môi trường cạnh tranh lành mạnh.

Lãnh đạo Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cùng các nhà khoa học Liên bang Nga khảo sát, thu thập dữ liệu nghiên cứu về Biển Đông. (Ảnh: HIẾU LIÊN)

Tạo dữ liệu DNA, thúc đẩy công nghệ sinh học biển

Trong bối cảnh nhiều quốc gia đang đầu tư mạnh mẽ vào các cơ sở dữ liệu sinh học biển và nguồn gene bản địa, việc hình thành cơ sở dữ liệu DNA cho sinh vật biển Việt Nam là bước đi quan trọng nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học cơ bản, đồng thời tạo nền tảng cho hướng nghiên cứu liên ngành.

[Video] Còn khoảng 34 triệu thuê bao chưa xác nhận chính chủ

[Video] Còn khoảng 34 triệu thuê bao chưa xác nhận chính chủ

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, việc triển khai Thông tư 08/2026 hướng dẫn việc xác thực thông tin thuê bao di động mặt đất trong tháng 4 vừa qua đã phát hiện có gần 900.000 thuê bao không chính chủ, 60 triệu thuê bao đã xác nhận sử dụng chính chủ và còn khoảng 34 triệu thuê bao vẫn chưa xác nhận.

Lựa chọn ngành nghề ban đầu với học sinh trung học phổ thông có thể đúng, nhưng không còn đủ để định hình một hành trình nghề nghiệp dài hạn.

Chọn nghề giữa làn sóng AI

Trí tuệ nhân tạo (AI) đã và đang tạo nên những đổi thay mạnh mẽ ở các ngành nghề, trong khi hệ thống giáo dục, đào tạo nghề ở nước ta cũng đang bước vào một giai đoạn cấu trúc lại. Hai “làn sóng” ấy ảnh hưởng không nhỏ đến cách vận hành của thị trường lao động, đặt người học trước nhiều lựa chọn mới và không ngừng biến đổi.

Công tác dự báo và cảnh báo sớm chính là “tuyến phòng thủ” đầu tiên, giữ vai trò quyết định trong bảo vệ tính mạng người dân và tài sản. (Ảnh: TRỌNG TÙNG)

Rút ngắn thời gian phản ứng với thiên tai

Việc cảnh báo thiên tai sẽ chỉ thật sự hiệu quả khi thông tin nguy hiểm đến đúng người, đúng nơi và đúng thời điểm. Các mô hình tháp báo lũ thông minh và mạng quan trắc tự động đang giúp việc đưa dữ liệu về ngập lụt tới cộng đồng nhanh hơn, rút ngắn thời gian phản ứng của người dân khi thiên tai xảy ra.

Tiến sĩ Lê Xuân Huy, Phó Tổng Giám đốc VNSC và ông Yasuo Ishii, Phó Chủ tịch cấp cao JAXA trao thỏa thuận hợp tác. (Ảnh: VNSC)

Trung tâm Vũ trụ Việt Nam ký thỏa thuận hợp tác với Cơ quan Hàng không Vũ trụ Nhật Bản

Ngày 2/5, tại Hà Nội, lãnh đạo Trung tâm Vũ trụ Việt Nam (VNSC) và lãnh đạo Cơ quan Hàng không vũ trụ Nhật Bản (JAXA) đã ký kết, trao đổi “Văn bản Sửa đổi thỏa thuận giữa Trung tâm Vũ trụ Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam với Cơ quan Hàng không vũ trụ Nhật Bản về trao đổi dữ liệu vệ tinh”.

Phối cảnh công trình biểu tượng bông lúa Cà Mau.

Giá trị văn hóa từ "Biểu tượng bông lúa" ở Cà Mau

Sự phát triển của một địa phương trong kỷ nguyên mới không chỉ được đong đếm một cách cơ học bằng những con đường rải nhựa, hay những cây cầu bê-tông nối nhịp đôi bờ. Tầm vóc và sức sống của một vùng đất còn được khắc họa đậm nét qua những biểu tượng văn hóa mang tầm nhìn chiến lược.

Đào tạo an ninh mạng tại CyRadar giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực phòng thủ.

Tăng năng lực phòng vệ của doanh nghiệp

Chuyển đổi số đang mở ra nhiều cơ hội tăng trưởng cho doanh nghiệp Việt Nam nhưng cũng kéo theo những rủi ro an ninh mạng phức tạp. Khi dữ liệu trở thành tài sản chiến lược, khả năng bảo vệ hệ thống và thông tin không còn là vấn đề kỹ thuật mà trở thành năng lực phòng vệ quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp.

Hoạt động nghiên cứu tại Phòng Thí nghiệm trọng điểm Công nghệ Lọc, Hóa dầu (Viện Hóa học công nghiệp Việt Nam).

Đầu tư hạ tầng nghiên cứu cho công nghệ chiến lược

Phát triển hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia là một trong những giải pháp để hiện thực hóa mục tiêu đột phá về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo Nghị quyết 57-NQ/TW. Thực trạng lạc hậu về công nghệ đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tổ chức lại hạ tầng nghiên cứu theo hướng tập trung, đồng bộ và hiệu quả.

Phòng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao Công an thành phố Đà Nẵng đấu tranh tội phạm trên không gian mạng. (Ảnh: Công Vinh)

Nâng cao ý thức làm chủ, bảo vệ không gian mạng

Tại Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm tiếp tục khẳng định chủ trương của Đảng về bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới, khi nhấn mạnh yêu cầu: Tự chủ chiến lược, có năng lực kiểm soát rủi ro, có thể chế vững, có trật tự xã hội ổn định, có sự hội nhập quốc tế sâu rộng...

UAV được thử nghiệm phun thuốc cho cây cà-phê tại xã Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.

Cơ chế sandbox đã sang giai đoạn triển khai thực tế

Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, bên cạnh chuẩn bị cấp phép mô hình thử nghiệm có kiểm soát đầu tiên về phát triển kinh tế tầm thấp, ứng dụng phương tiện bay không người lái (UAV) tại tỉnh Điện Biên, một số địa phương, doanh nghiệp cũng bày tỏ quan tâm đến việc triển khai thử nghiệm mô hình sandbox.