Nền tảng kỹ thuật cho nền kinh tế sáng tạo

Sáng 14/6, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật năm 2025. Luật là bước hoàn thiện khung pháp lý quan trọng, giúp Việt Nam nâng cao chất lượng quốc gia, đáp ứng yêu cầu hội nhập sâu rộng và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Các đại biểu Quốc hội bấm nút biểu quyết Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật năm 2025.
Các đại biểu Quốc hội bấm nút biểu quyết Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật năm 2025.

Nâng tầm tiêu chuẩn quốc gia

Một trong những thay đổi căn bản của Luật là hệ thống hóa và làm rõ khái niệm, phạm vi, nguyên tắc áp dụng, cũng như cách thức công bố tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.

Điều 3 được sửa đổi, mở rộng, quy định rõ 23 khái niệm cơ bản như “tiêu chuẩn”, “quy chuẩn kỹ thuật”, các hoạt động thử nghiệm, giám định, đánh giá sự phù hợp, công bố hợp chuẩn-hợp quy và tổ chức đánh giá sự phù hợp.

Đáng chú ý, Luật xác định rõ tiêu chuẩn mang tính tự nguyện, còn quy chuẩn kỹ thuật là bắt buộc và chỉ có một quy chuẩn kỹ thuật quốc gia áp dụng thống nhất cho một sản phẩm, trừ khi có quy định đặc thù khác. Điều này chấm dứt tình trạng mỗi ngành, mỗi địa phương áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn riêng biệt gây mâu thuẫn, chồng chéo, khó khăn cho doanh nghiệp.

Luật cũng lần đầu tiên luật hóa khái niệm “hàng rào kỹ thuật trong thương mại”, góp phần làm rõ giới hạn và nguyên tắc xây dựng, áp dụng tiêu chuẩn không trở thành rào cản bất hợp lý trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu rộng với các FTA.

Xã hội hóa công tác tiêu chuẩn hóa

Với mục tiêu xây dựng hạ tầng chất lượng đồng bộ và hiện đại, Luật 2025 mở rộng khung chính sách và nguyên tắc quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật. Điều 6 nêu rõ: Nhà nước định hướng-thị trường chủ đạo-doanh nghiệp trung tâm-xã hội tham gia, thể hiện tư duy cải cách thể chế mạnh mẽ, chú trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Điều 7 và 7a thiết lập hệ thống chính sách cụ thể nhằm tăng cường đầu tư ngân sách, hỗ trợ nghiên cứu, phát triển tổ chức đánh giá sự phù hợp, đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng văn hóa tiêu chuẩn trong cộng đồng và tôn vinh đóng góp của tổ chức, cá nhân. Bộ Khoa học và Công nghệ được giao là đầu mối quản lý thống nhất, xây dựng Chiến lược tiêu chuẩn quốc gia và điều phối cam kết quốc tế về hàng rào kỹ thuật.

Đáng chú ý, Luật cho phép mở rộng hình thức hợp tác công-tư trong phát triển dịch vụ tiêu chuẩn, khuyến khích hiệp hội, doanh nghiệp và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia xây dựng tiêu chuẩn quốc gia.

Quy định về chiến lược tiêu chuẩn quốc gia

Một điểm mới nổi bật trong Luật là quy định về xây dựng Chiến lược tiêu chuẩn quốc gia tại Điều 8a. Đây là công cụ mang tính dài hạn nhằm định hướng tổng thể, đồng bộ hóa hạ tầng tiêu chuẩn kỹ thuật, tích hợp từ trung ương đến địa phương, gắn với các mục tiêu phát triển bền vững, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Chiến lược nhấn mạnh đến các tiêu chuẩn phục vụ công nghệ chiến lược, xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao, xây dựng tiêu chuẩn hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế, từ đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Trong xu thế chuyển đổi số toàn diện, Luật bổ sung Điều 8c quy định về Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng - một nền tảng số thống nhất, hiện đại, kết nối với các hệ thống dữ liệu khác của Chính phủ. Đây sẽ là công cụ hỗ trợ quan trọng cho quản lý nhà nước, cho phép truy cập công khai dữ liệu tiêu chuẩn, tổ chức đánh giá sự phù hợp, công bố hợp chuẩn-hợp quy, và quản lý phương tiện đo. Điều này không chỉ giúp tiết kiệm chi phí, giảm thiểu thủ tục hành chính mà còn góp phần nâng cao hiệu quả giám sát và quản lý nhà nước, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thông tin kỹ thuật một cách minh bạch, kịp thời.

Luật mới đã khắc phục tình trạng chậm cập nhật của hệ thống tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật bằng việc quy định rõ kế hoạch xây dựng, rà soát, sửa đổi tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật (Điều 14, Điều 19, Điều 29, Điều 35). Tất cả được gắn với các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế.

Đặc biệt, trong trường hợp khẩn cấp như thiên tai, dịch bệnh hoặc yêu cầu bảo vệ an ninh, quốc phòng, quy trình xây dựng tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật có thể được áp dụng theo thủ tục rút gọn (Điều 17, Điều 32), giúp phản ứng nhanh với tình huống thực tế.

Luật bổ sung 2 điều khoản hoàn toàn mới: Điều 11a và 27a, quy định quyền và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật. Đây là bước tiến quan trọng trong dân chủ hóa quá trình xây dựng văn bản kỹ thuật, đồng thời tạo cơ hội để doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề, chuyên gia kỹ thuật và người tiêu dùng trực tiếp đóng góp ý kiến và sáng kiến. Các cá nhân, tổ chức có thành tích xuất sắc trong công tác này còn được ưu tiên xét tặng giải thưởng khoa học công nghệ và các ưu đãi khác, thể hiện chính sách khuyến khích rõ ràng từ Nhà nước.

Luật đã sửa đổi toàn diện Chương IV, trong đó quy định lại toàn bộ nội dung về đánh giá sự phù hợp, chứng nhận hợp chuẩn, công bố hợp quy… Các quy định mới (Điều 40 đến 45, 48, 50-52) nhấn mạnh yêu cầu minh bạch, công bằng, không phân biệt đối xử giữa sản phẩm nội địa và nhập khẩu; bảo mật thông tin và kết quả đánh giá; tôn trọng quyền lựa chọn của doanh nghiệp về tổ chức chứng nhận. Đặc biệt, Luật cho phép đánh giá sự phù hợp có thể thực hiện bởi tổ chức trong nước, quốc tế hoặc tự thực hiện, tạo ra cơ chế linh hoạt, giảm chi phí cho doanh nghiệp nhưng vẫn bảo đảm tính nghiêm ngặt về kỹ thuật.

Điều 57 về thừa nhận lẫn nhau kết quả đánh giá sự phù hợp cũng là một nội dung rất đáng chú ý. Việt Nam sẽ tiếp tục mở rộng các thỏa thuận công nhận lẫn nhau (MRA) và cho phép thừa nhận đơn phương kết quả đánh giá của các tổ chức uy tín quốc tế. Điều này giúp giảm rào cản kỹ thuật, tiết kiệm thời gian và chi phí kiểm nghiệm lại khi xuất-nhập khẩu sản phẩm, đồng thời củng cố niềm tin của thị trường quốc tế đối với hàng hóa Việt Nam.

Luật đã bãi bỏ 12 điều và một chương (Chương VI), đồng thời thay thế hoặc điều chỉnh hàng loạt thuật ngữ và điều khoản không còn phù hợp, như bỏ cụm từ “hiệu chuẩn”, thay thế “chứng nhận” bằng “đánh giá”… Điều này thể hiện quyết tâm tinh giản bộ máy pháp lý, đồng thời làm rõ vai trò, chức năng của từng chủ thể liên quan, bảo đảm luật dễ hiểu, dễ thực thi.

Có thể bạn quan tâm

Chương trình phát thanh với tên gọi "Radio Nhân Dân" của Báo Nhân Dân góp phần làm đa dạng hóa nội dung và sản phẩm báo chí-truyền thông, mở rộng cách thức tiếp cận người sử dụng, nhất là độc giả-khán thính giả trẻ tuổi, ưa thích các nền tảng công nghệ số.

Phát thanh trong thời đại số: Liệu radio có sớm được số hóa?

Liên hoan Phát thanh toàn quốc lần thứ XVII sẽ diễn ra từ 11 đến 13/4/2026 tại Quảng Ninh với chủ đề “Phát thanh vì Việt Nam hùng cường, thịnh vượng”. Nhân dịp này, Báo Nhân Dân xin giới thiệu bài viết của nhà báo Mai Quang Huy về chủ đề số hóa phát thanh trong thời đại truyền thông đa phương tiện hiện nay.

Các diễn giả trao đổi tại tọa đàm. (Ảnh: HNV)

Việt Nam đẩy mạnh phát triển nhà máy thông minh và công nghiệp phụ trợ

Chiều 9/4, tại Hà Nội, tọa đàm chuyên đề “Định hướng ngành nhà máy thông minh và công nghiệp phụ trợ tại Việt Nam” đã quy tụ các nhà quản lý, chuyên gia đầu ngành và đại diện doanh nghiệp tiêu biểu để thảo luận về lộ trình phát triển, thách thức cũng như cơ hội bứt phá của ngành công nghiệp Việt Nam trong kỷ nguyên số.

Hội thảo do Học viện Chính sách và Phát triển cùng Viện Nghiên cứu công nghệ vì cộng đồng (Tech for Good Institute-TFGI, Singapore) đồng tổ chức. (Ảnh: ANH NGUYỄN)

Chuyển dịch từ tư duy xây dựng khung pháp lý sang thực thi hiệu quả trong quản trị công nghệ

Trong bối cảnh các công nghệ đột phá như trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (big data) đang định hình lại nền kinh tế, yêu cầu cấp thiết là phải tăng cường sự phối hợp liên ngành và gắn kết chặt chẽ "ba nhà", bảo đảm chính sách công nghệ vừa mang tính kiến tạo, vừa có tính khả thi cao, phù hợp với đặc thù phát triển Việt Nam.

Ảnh minh họa: Trung tâm Chính trị-Hành chính thành phố Hải Phòng.

Hải Phòng công bố 3 “bài toán lớn” đột phá khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

Thành phố Hải Phòng vừa chính thức công bố danh mục 3 “bài toán lớn” về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2026, nhằm khơi thông mọi nguồn lực, khai thác lợi thế cạnh tranh cốt lõi để đưa thành phố Cảng bước vào một kỷ nguyên phát triển mới dựa trên tri thức và công nghệ thông minh.

Sở hữu trí tuệ Việt Nam: Tiến nhanh nhưng chưa hết khoảng cách trong kỷ nguyên số

Sở hữu trí tuệ Việt Nam: Tiến nhanh nhưng chưa hết khoảng cách trong kỷ nguyên số

Hệ thống sở hữu trí tuệ tại Việt Nam đang ghi nhận nhiều bước tiến quan trọng. Tuy nhiên, trước sức ép hội nhập và làn sóng vi phạm ngày càng tinh vi, đặc biệt trên môi trường số, bài toán bảo vệ và khai thác hiệu quả tài sản trí tuệ vẫn đặt ra không ít thách thức đối với doanh nghiệp và cơ quan quản lý.

Việt Nam xây dựng Trung tâm dữ liệu quốc gia đạt tiêu chuẩn quốc tế. (Ảnh: CTV)

Việt Nam: Thị trường trung tâm dữ liệu mới nổi của châu Á-Thái Bình Dương

Việt Nam đang thu hút sự quan tâm như một thị trường hạ tầng số mới nổi, được hỗ trợ bởi chi phí xây dựng cạnh tranh và tiềm năng tăng trưởng dài hạn. Cùng đó, các trung tâm dữ liệu sẵn sàng cho AI đang tái định hình yêu cầu về điện năng, làm mát và kết cấu công trình, qua đó làm gia tăng chi phí phát triển trên toàn khu vực.

Toàn cảnh chương trình ABAII Unitour “Tổng quan về blockchain, tài sản mã hóa và cơ hội phát triển nghề nghiệp”. (Ảnh: PV)

Nhận diện rủi ro và bẫy nghề nghiệp trong ngành blockchain

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ blockchain đang mở ra những cơ hội việc làm hấp dẫn chưa từng có. Tuy nhiên, song hành với đó cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro với các lao động trẻ, khiến ranh giới giữa cơ hội tiềm ẩn và bẫy nghề nghiệp chỉ cách nhau một quyết định nếu chọn sai doanh nghiệp, sai mô hình hoặc sai thời điểm.

Quang cảnh chương trình. (Ảnh: BẢO LONG)

Trang bị tư duy quản trị AI cho lãnh đạo báo chí trong kỷ nguyên số

Chiều 7/4, tại trụ sở 71 Hàng Trống, Báo Nhân Dân phối hợp Trung tâm Bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí (Hội Nhà báo Việt Nam) tổ chức Chương trình đào tạo trí tuệ nhân tạo (AI) cấp cao dành cho lãnh đạo các cơ quan báo chí, nhằm cập nhật xu thế công nghệ mới, thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao năng suất hoạt động tòa soạn.

Quang cảnh buổi gặp mặt và trao đổi học thuật giữa các chuyên gia Việt Nam và Mỹ về chủ đề xã hội trí tuệ nhân tạo trong kỷ nguyên số ở Việt Nam (6/1/2026). (Ảnh: LÊ HỒNG)

Trí thức Liên hiệp Hội Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số và AI

Một nhiệm vụ quan trọng của Liên hiệp Các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) là tổ chức tập hợp đông đảo đội ngũ trí thức khoa học cả nước. Trong bối cảnh chuyển đổi số và AI, các trí thức Liên hiệp Hội Việt Nam cần đổi mới để trở thành lực lượng tư vấn chiến lược và phản biện chính sách hiệu quả hơn.

Công nghệ ánh sáng tạo ra hình ảnh độc đáo trong Triển lãm thư pháp diễn ra tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám.

Ứng dụng khoa học-công nghệ trong phát triển văn hóa

Trong kỷ nguyên số, thay đổi nhận thức, tăng cường đầu tư vào hạ tầng công nghệ, cũng như đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao là vấn đề then chốt cần được chú trọng đặc biệt, để văn hóa thật sự trở thành nguồn sức mạnh nội sinh, không chỉ làm giàu đời sống tinh thần nhân dân, mà còn là nguồn lực phát triển kinh tế đất nước.

Giáo sư, Tiến sĩ Chu Hoàng Hà, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. (Ảnh: VÂN NGA)

Xây dựng đội ngũ cán bộ công nghệ sinh học đủ mạnh, xứng “tâm” và xứng “tầm” trong kỷ nguyên mới

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định phát triển các công nghệ chiến lược là một trong những ưu tiên hàng đầu, trong đó có công nghệ sinh học. Cụ thể hóa định hướng này, Quyết định số 1131/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ tiếp tục khẳng định công nghệ sinh học là một trong 11 nhóm công nghệ chiến lược của quốc gia.

Hội thảo khoa học quốc tế về giác mạc sinh học.

Công nghệ giác mạc sinh học giúp phục hồi thị lực

Việt Nam có tới hơn 500.000 người bị mù do bệnh lý giác mạc và có nhu cầu cần ghép giác mạc. Giác mạc sinh học được xem là bước tiến quan trọng trong điều trị mù lòa tại Việt Nam, góp phần từng bước chủ động thay thế giác mạc truyền thống, giúp cho hàng nghìn người bệnh bị mù do các bệnh lý giác mạc có thể phục hồi được thị lực.