Khơi dậy sức mạnh văn hóa:

Một niềm tự hào của người Việt

Ngày 29, 30/9, tại Thái Bình diễn ra hội thảo khoa học quốc tế “Lê Quý Đôn, cuộc đời và sự nghiệp”. Hội thảo do UBND tỉnh và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp tổ chức. Chúng ta có thể cảm nhận lại một số đánh giá trân trọng, đề cao của người đương thời ở Trung Hoa và Triều Tiên đối với người được xem là nhà bác học lớn nhất của Việt Nam thời phong kiến.
Tượng danh nhân Lê Quý Đôn tại Trường THPT Lê Quý Đôn, Quận 3, TP Hồ Chí Minh. Ảnh: tư liệu
Tượng danh nhân Lê Quý Đôn tại Trường THPT Lê Quý Đôn, Quận 3, TP Hồ Chí Minh. Ảnh: tư liệu

1/Các công trình của học giả Lê Quý Đôn (1762-1784) đến nay còn lưu giữ được rất đồ sộ nghiên cứu về rất nhiều lĩnh vực như lịch sử,văn hóa, nghệ thuật, âm nhạc cho đến tập quán, phong tục các xứ, các vùng, nghiên cứu về triết học, về tư tưởng, về các thiết định pháp chế... với một tư tưởng và hành động xuyên suốt là gần gũi với thực tế, gần gũi với nhân dân, gắn bó với những mong muốn của nhân dân.

Đã có nhiều nhất trí khẳng định Lê Quý Đôn là một người đọc và viết nhiều nhất trong suốt cả nghìn năm của chế độ phong kiến, khẳng định Lê Quý Đôn là người muốn có nhiều những cải cách trong xã hội Việt Nam, khẳng định Lê Quý Đôn là nhà chính trị quan tâm đến nhân dân, gần dân và là nhà trí thức có tư tưởng tự tôn, tự hào dân tộc. Cuộc đời của Lê Quý Đôn có hai hoài bão lớn là thi hành những cải cách, thiết định những pháp chế nhằm xây dựng một xã hội thái bình thịnh trị và đọc sách, viết sách để vừa hiểu biết vừa có thể giới thiệu, quảng bá và giữ gìn những giá trị tinh hoa của văn hóa văn hiến Việt.

2/Xin không thống kê những sách của Lê Quý Đôn hiện còn và những sách được xem là của ông do Phan Huy Chú thống kê trong “Lịch triều hiến chương loại chí” có đến vài ba mươi cuốn, chỉ xin góp một thông tin vừa lạ vừa hay để chứng minh yếu tố bác học của Lê Quý Đôn. Ta biết ông Galile (Galileo Galilei 1564-1642) người Italia có học thuyết Nhật tâm khẳng định Trái đất quay quanh mặt trời đã bị Tòa án dị giáo Vatican bỏ tù, nhưng ra tù ông lại vẫn khẳng định như cũ. Phải đến năm 1758 thì Viện Hàn lâm giáo hoàng mới công nhận và gỡ bỏ việc kết tội sai trái đó. Thế mà chỉ sau đó ba năm, năm 1761 Lê Quý Đôn, qua tìm hiểu của mình đã nhận ra rằng Trái đất là một quả cầu quay quanh mặt trời (trang 2 “Phủ biên tạp lục”, NXB Văn hóa thông tin, 2007). Nếu không phải là người chịu đọc sách, không phải là người chịu tìm hiểu, học hỏi thì một người thuần Nho như Lê Quý Đôn làm sao có thể chắc chắn về một thông tin và một nhận thức về thiên văn học, về một ngành khoa học thực hành mang tính thời sự như thế trong điều kiện thông tin vô cùng hạn chế của thời đại?

Có thể nói, so với những người cùng thời và so với nhiều nhà nho nước ta thời phong kiến Lê Quý Đôn là một học giả được khá nhiều người nước ngoài cùng thời biết tiếng. Người ta biết đến Lê Quý Đôn trước hết là biết về khả năng thuyết phục bằng lý lẽ khi ông tranh luận với đại diện triều đình Mãn Thanh. Lê Quý Đôn đã mạnh mẽ phản đối những từ mà nhà Thanh đã áp đặt khi gọi sứ thần Việt Nam là “di quan”, “di mục” bởi chữ “di” nhằm hạ thấp tư cách, nhân cách của người Đại Việt. Nhà Thanh phải chấp nhận gọi đoàn sứ thần của ta là “An Nam cống sứ”. Việc này xảy ra năm 1762. Chúng ta chưa thật rõ cuộc thương thuyết, tranh đấu này cụ thể như thế nào? Chắc chắn không thể suôn sẻ, nhanh chóng? Nhưng cuối cùng, ta đã đạt được mục đích, như thế, phải thấy năng lực của Lê Quý Đôn là rất tuyệt vời, rất đáng trân trọng. Ông xứng đáng là một trí thức Việt Nam có lòng tự hào, tự tôn dân tộc, giữ được danh dự cho đất nước.

3/Lê Quý Đôn là một trong những nhà bác học Việt Nam thời phong kiến có tác phẩm dày dặn nhất, một công trình nghiên cứu các vấn đề triết học và tư tưởng của Trung Hoa. Lê Quý Đôn tiếp thu các giá trị này bằng cách xây dựng cho mình một thu hoạch bằng cách khảo rất nhiều sách vở, tài liệu và suy xét bình nghị theo quan niệm của bản thân mình. Đó là cuốn “Quần thư khảo biện”. Đã có nhiều học giả đương thời người Trung Hoa và Triều Tiên đọc sách này và hầu hết đều có những lời nhận xét xác đáng. Chẳng hạn ông Chu Bội Liên là Đề đốc học chính tỉnh Quảng Tây đánh giá: “Ông Lê Quế Đường ở Nhật Nam hiểu biết sâu rộng về các sách sử... Ông xem xét sự thay đổi của các triều đại từ Hạ, Thương, Chu cho đến Lương Tống sau này thật là sâu kỹ... Ông dùng cả “lý” lẫn “thế “để bàn về lịch sử, dùng hiểu biết về người để bàn về thời đại” và “Tài sánh ngang hào kiệt, học đáng bậc thánh hiền, có lẽ đều đã được tỏ rõ ở bộ sách này rồi” (Lời tựa”Quần thư khảo biện”, trang 49 NXB Khoa học Xã hội, 1995).

Ở một văn bản khác, cũng viết tựa cho “Quần thư khảo biện”, ông Trần Triều Vũ là tiến sĩ thời Càn Long triều Thanh từng là người đón tiếp sứ đoàn Lê Quý Đôn lại có nhận xét: “Ông Quế Đường sinh trưởng ở một nước xa xôi mà bỏ nhiều công sức vào việc nghiên cứu sử học như thế cũng đã hơn hẳn người một bậc rồi... Nếu ông ấy nghiên cứu việc đời xưa mà ứng dụng được vào việc ngày nay... thì những điều mà ông ấy học được ở sử đưa ra dùng sẽ không bao giờ hết” (trang 55 Sđd).

Còn một trí thức triều Thanh nữa, ông Tần Triều Hãn năm 1762 cũng phải than rằng, văn tài như Lê Quý Đôn thì ở chính Trung Quốc cũng ít có. Ông cũng đề cao Lê Quý Đôn là người không chỉ cầm bút đã làm luôn được mười bài phú mà còn là người rất trân trọng văn Nôm (Lê Quý Đôn viết “Bắc sử thông lục”bằng văn xuôi chữ Nôm đầu tiên, sau đó 28 năm, Vua Quang Trung mới thảo chiếu bằng văn Nôm (Theo Văn Tân “Con người và sự nghiệp Lê Quý Đôn”, sách “Phủ biên tạp lục”, NXB Văn hóa thông tin, 2007, trang 23).

4/Những học giả tham gia luận bàn, đánh giá tác phẩm này còn có nhiều sứ thần nước Triều Tiên. Đó là một vị Chánh sứ tên là Hồng Khải Hy, trạng nguyên nước Triều đã không tiếc lời ca ngợi: “Ông là người có tâm trí sáng suốt, phân định rạch ròi, biết đưa ra những cái sâu xa từ đời xưa, chẳng trách ông tìm thấy những cái lý đích thực, dùng lời không sai. Không cần tinh mà tự nhiên tinh. Hơn thế nữa, về lễ, không chỗ nào là chỗ ông không đầy đủ, về lý không chỗ nào là chỗ ông không đi đến tận cùng. Đó mới thật sự gọi là phát huy được cái rất linh của mình thì cái văn rất tinh đã sẵn có ở trong đó” (Lời tựa “Quần thư khảo biện”, Hồng Khải Hy soạn, Sđd, trang 58). Chưa hết... “học thuyết của ông thuần chính, lời văn của ông nhẹ nhàng thuận lẽ như gió lướt trên mặt nước, không chút sâu cay gò bó gì cả. Thực chỉ nếm một miếng cũng đủ thấy vị ngon của cả nồi” (Sđd, trang 57).

Một vị sứ khác cũng người Triều Tiên, ông Lý Huy Trung lại viết một bức thư ngắn gửi Lê Quý Đôn sau khi đọc sách của ông: “Đúng là toàn lời hay ý thuận được viết ra từ những suy nghĩ và nhìn nhận sáng suốt, làm gương soi, làm mực thước cho đại thế. Thật không kém gì lời bàn của các danh nho đất Mân, đất Lạc (chỉ các vị Chu Hy, Trình Hạo, Trình Di). Nếu nói nước Nam không có bậc quân tử thì sao có người tài giỏi đến thế. Đáng khâm phục thay (Sđd, trang 60).

Xin được nhớ thêm rằng các danh sĩ nước ngoài này khẳng định, ngợi ca, đánh giá cao Lê Quý Đôn hoàn toàn không phải là lối nói ngoại giao, giữ lễ mà là một sự khâm phục thành thật. Chứng cớ là họ không chỉ trao đổi, bút đàm, họ còn viết thư, viết tựa, hơn thế còn có nhiều người tham gia trực tiếp chỉnh sửa với Lê Quý Đôn. Cũng cần nói thêm rằng, trong “Quần thư khảo biện” dù bàn bạc rất nhiều nội dung văn sử triết gắn với phương Bắc, Lê Quý Đôn cũng không bỏ lỡ dịp để nói rõ rằng nhà Tống đã phải học phép tổ chức quân đội của nước Đại Việt, còn “Vân đài loại ngữ”, một tác phẩm khác của ông lại cho ta thấy Lê Quý Đôn nhiều lần tỏ ra tự hào về lịch sử dân tộc. Ông đã viết rằng, Vua Thành Tổ nhà Minh phải cho người học phép chế tạo súng thần công của Hồ Quý Ly và Hồ Nguyên Trừng.

Lê Quý Đôn là một danh nhân văn hóa Việt, một niềm tự hào của người Việt.

Sơ bộ thống kê trong sách “Quần thư khảo biện” này, chúng tôi thấy có 223 nội dung bàn bạc thì có đến 48 nội dung có sự tham vấn, góp ý của các vị như Chu Bội Liên, Hồ Trai, Đông Giang, Ngô Dương Đình... Đây là những vị có kiến văn quảng bác, có học vấn học vị cao. Họ có bổ sung, góp ý vào 48 nội dung, còn lại hơn 170 nội dung khác thì hoàn toàn nhất trí, đủ biết Lê Quý Đôn có khả năng thuyết phục đến độ nào.

Có thể bạn quan tâm

Nhiều kinh nghiệm trong và ngoài Việt Nam đã được gợi mở cho các nhà giáo dục, doanh nghiệp và quản lý.

Bắt tay "ba nhà" nâng cấp nhân lực văn hóa

“Nghi vấn” địa chỉ đào tạo có thể tham gia những gì, như thế nào vào thị trường văn hóa? Người học có khả năng sáng tạo, đóng góp gì về sản phẩm, hàng hóa văn hóa song song với quá trình học tập, nghiên cứu? Doanh nghiệp làm sao không “bỏ qua” một nguồn nhân lực tiềm năng và sớm có khả năng tạo ra lợi ích từ văn hóa? Cơ quan quản lý thúc đẩy gì cho sự cộng hưởng của các nguồn lực này? Những vấn đề thú vị lẽ ra cần bàn từ lâu đang được quan tâm, trở thành gợi ý chung cho cả ngành đào tạo trong lĩnh vực văn hóa.

Hoạt động sáng tác và trưng bày tác phẩm tại bản Sìn Suối Hồ (Lai Châu) của nhóm VAS.

Say mê với nghệ thuật, trắc ẩn trước cộng đồng

Triển lãm “Vietnam Art Space - Kết nối Nghệ thuật 2026” diễn ra đến hết đến 1/11/2026 tại Bảo tàng Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh, số 97 Phó Đức Chính, phường Bến Thành. Đây là không gian đối thoại trực tiếp giữa các họa sĩ từ nhiều vùng miền khác nhau, trong đó có các sĩ thành danh đến những gương mặt trẻ đang định hình ngôn ngữ nghệ thuật.

Múa cung đình Huế.

Thước đo cao nhất là sức sống di sản và chất lượng sống của người giữ di sản

Ở nhiều địa phương, người dân ngày càng chủ động hơn trong việc phục hồi không gian thực hành, tổ chức truyền dạy, xây dựng câu lạc bộ, đưa di sản vào trường học và giới thiệu di sản trên các nền tảng số. Nhiều người trẻ không còn coi di sản là điều gì đó xa xôi, cũ kỹ, mà bắt đầu nhìn thấy trong di sản bản sắc, niềm tự hào, khả năng sáng tạo và cả những cơ hội nghề nghiệp mới... Đó là nhận định của TS Phạm Cao Quý (Cục Di sản văn hóa) trong cuộc trò chuyện với Thời Nay, hướng tới Ngày Di sản văn hóa Việt Nam 23/11 và Ngày Văn hóa Việt Nam 24/11.

Mã gen văn chương và niềm tha thiết làm nghề

Mã gen văn chương và niềm tha thiết làm nghề

Đọc “Đánh thức mã gen văn học từ góc nhìn thể loại”, tiểu luận phê bình của Hà Vinh Tâm, NXB Hội nhà văn, 2026, nếu cần phải chỉ ra từ chìa khóa (key words) cho cuốn sách này, đó chắc chắn phải là cụm từ “mã gen văn học” và “thể loại”. Toàn bộ 27 bài viết được chia làm hai phần trong cuốn sách tập trung khám phá, giải mã, cắt nghĩa và trao đổi về một số vấn đề, tác giả, tác phẩm và hoạt động giảng dạy văn học xoay quanh hai trục ý tưởng đó.

Họa sĩ Thành Chương khi vẽ bộ tranh “Hà Nội có cầu Long Biên”. Ảnh: NVCC

Vẽ cầu Long Biên vừa quen vừa lạ

Ở tuổi gần 80, mới đây họa sĩ Thành Chương được trao giải ở hạng mục Tác phẩm tại Giải thưởng Bùi Xuân Phái - Vì tình yêu Hà Nội lần thứ 19 với bộ tranh sơn mài “Hà Nội có cầu Long Biên”. Cây cầu trong tranh ông vừa là ký ức tuổi thơ, vừa là hình ảnh hiện hữu mỗi ngày, khi từ nhà bước ra, ông đã có thể nhìn thấy cây cầu thân thuộc.

Lấy ý kiến về đặt tên đường, công trình công cộng

Dự thảo Nghị định “Ban hành Quy chế đặt tên, đổi tên đường phố, công trình công cộng” vừa được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đăng tải trên cổng thông tin https://bvhttdl.gov.vn. Dự thảo có nhiều nét mới và khi được ban hành, sẽ thay thế Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005 của Chính phủ về việc ban hành “Quy chế đặt tên, đổi tên đường phố, công trình công cộng”.

Tránh lệ thuộc AI trong học tập

Tránh lệ thuộc AI trong học tập

Hội thảo khoa học quốc tế “Ngôn ngữ học và Việt Nam học trong kỷ nguyên mới: Thách thức và cơ hội” vừa diễn ra, do Khoa Ngôn ngữ học và Việt Nam học, Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội tổ chức.

Lan tỏa giao lưu

Lan tỏa giao lưu

Chiều thứ năm (22/10) vừa qua, Tuần lễ Sách - Công nghệ và Ngày hội Văn hóa đọc Đà Nẵng vừa được khai mạc tại Thư viện thành phố Đà Nẵng với chủ đề “Lan tỏa tri thức - Kết nối công nghệ”. Không gian điểm nhấn của ngày hội mang tên “Thư viện số - Công nghệ đọc thông minh”, giới thiệu nhiều sách điện tử, sách nói, sách tương tác thực tế ảo và thực tế tăng cường (VR/AR). Ngoài ra, còn nhiều hoạt động trải nghiệm công nghệ và giao lưu thơ-nhạc, văn nghệ, và đố vui có thưởng được tổ chức.

Người ở lại trong đêm

Tôi biết đến câu chuyện ấy trong một đêm ở Bệnh viện E, khi bản thân cũng đang cần đến sự chăm sóc của các y, bác sĩ. Giữa những lo lắng của riêng mình, tôi chú ý đến một người đàn ông trung niên. Bác không phải người nhà bệnh nhân, cũng chẳng quen biết gì với cháu sinh viên vừa gặp tai nạn giao thông được mình đưa vào cấp cứu.

“Tử chiến trên không” nhận giải Phim hay nhất tại Liên hoan phim Châu Á Đà Nẵng 2026.

“Lịch sử tạo bản sắc cho nền điện ảnh của chúng ta”

Năm 2025, đạo diễn Trần Quang Hàm (Hàm Trần) ghi dấu bộ phim ăn khách “Tử chiến trên không”, kể về một sự kiện lịch sử có thật làm chấn động ngành hàng không Việt Nam. Chia sẻ với Thời Nay, trong vai trò là đạo diễn, biên kịch, dựng phim, anh nói về những “bí quyết” để làm nên một tác phẩm điện ảnh lịch sử hấp dẫn.

Mượn con đường đô thị dẫn vào con đường người trẻ

Mượn con đường đô thị dẫn vào con đường người trẻ

Từ cuộc gặp chẳng ai mong muốn nơi ngã tư đường, “Người khách mới trên chuyến xe 461” (NXB Kim Đồng) mở ra câu chuyện đẹp về tình thân, tình người giữa nhịp sống đô thị hối hả. Chọn cách kể ký ức đan xen hiện tại, nhà báo-nhà văn Nguyễn Khắc Cường khéo léo xâu chuỗi các tình tiết để từng câu chuyện tưởng chừng giản đơn ấy dẫn người đọc đến nhiều tầng cảm xúc khác nhau.

Tinh thần jazz sinh viên tươi trẻ.

Cảm nhận một Việt Nam rất mới qua jazz

Một đêm nhạc jazz được lên ý tưởng, dàn dựng và chuẩn bị từ thiết kế sân khấu, truyền thông đến hậu cần và biểu diễn… đều do sinh viên. Điều đặc biệt thú vị, chương trình đã chọn hướng giới thiệu jazz trong sự hòa quyện với mạch nguồn truyền thống âm nhạc Việt Nam và truyền thống tri ân người đi trước, những thế hệ nghệ sĩ-giảng viên đặt nền móng cho sự ra đời, trưởng thành của Khoa Nhạc Jazz, Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam.

Ảnh: ANH QUÂN

Vươn cánh rộng, hướng tới lan tỏa

Tại khu vực trung tâm của biên giới phía bắc, nếu ai dành được thời gian thu mát mẻ để du ngoạn, hẳn đã dự được buổi xòe Thái đặc sắc “đại hoành tráng vung cánh” vừa diễn ra tối thứ sáu (16/10) vừa qua với sự tham gia của 2.026 người mang tên “Xòe Thái - Trọn một vòng yêu” tại sân vận động phường Nghĩa Lộ, tỉnh Lào Cai.

Học sinh Trường Phổ thông DTNT THPT tỉnh Quảng Ngãi gói bánh truyền thống trong ngày Tết cổ truyền.

Gieo bản sắc ở trường dân tộc nội trú

Hệ thống Trường phổ thông Dân tộc nội trú (PTDTNT) không chỉ gánh vác sứ mệnh tạo dựng sự bình đẳng trong cơ hội tiếp cận giáo dục cho vùng khó khăn, mà còn là không gian văn hóa đặc biệt. Đây chính là nơi hội tụ, bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống quý báu của các dân tộc thiểu số giữa dòng chảy hội nhập và chuyển đổi số mạnh mẽ hiện nay.

Khách nước ngoài “đi chợ” Việt. Ảnh: NGUYỆT ANH

Người chạy chợ

Thành, bốn mươi mốt tuổi, kiếm sống bằng nghề dẫn khách nước ngoài đi chụp ảnh chợ Hà Nội. Khách tìm thấy tour trên Airbnb (nền tảng phục vụ du lịch), đăng ký rồi đeo máy ảnh theo cậu luồn giữa những hàng rau, hàng cá. Cậu vẫn đùa mình cũng là người chạy chợ.

“Ảo quan” nhận giải tại Hàn Quốc

Theo Nhà hát kịch Sân khấu nhỏ TP Hồ Chí Minh, vở nhạc kịch đương đại “Ảo quan” (Tác giả-đạo diễn: Chinh Ba) vừa được trao giải “Tác phẩm đặc biệt” tại Liên hoan Nghệ thuật sân khấu Chữa lành Quốc tế Daegu (Hàn Quốc) lần thứ 23.

Một góc Phố Hiến sau quá trình tu bổ.

Nhiều điều cần tránh trong việc phục hồi Phố Hiến

Quyết định phê duyệt đồ án quy hoạch tái hiện thương cảng Phố Hiến của tỉnh Hưng Yên vừa qua mở ra cơ hội hồi sinh thương cảng sầm uất trong lịch sử Đàng Ngoài. Tuy nhiên, khơi thông một mạch nguồn di sản đã ngưng trệ hàng thế kỷ không đơn thuần là câu chuyện kiến tạo các công trình kiến trúc hoành tráng.

Một cảnh trong phim “Đông Dương” (1992) được quay tại Vụng Oản, Quảng Ninh. Nguồn: LAODONG.COM

Bài toán khó: Phim trường trong lòng di sản

Thông qua điện ảnh, di sản đi vào đời sống đương đại, trở thành chất liệu cho sáng tác. Tuy vậy, trước nguy cơ đe dọa tính toàn vẹn của di sản, đã có nhiều câu hỏi sao cho vừa giữ được di sản, vừa tạo điều kiện cho điện ảnh trở thành cầu nối quá khứ với hôm nay?