Mở rộng không gian phát triển cho nhà khoa học nữ

Các nhà khoa học nữ thực hành nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu bệnh truyền nhiễm, Trường đại học Quốc tế, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
Các nhà khoa học nữ thực hành nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu bệnh truyền nhiễm, Trường đại học Quốc tế, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong bối cảnh khoa học-công nghệ và chuyển đổi số đang trở thành động lực then chốt của tăng trưởng, việc trao thêm cơ hội để khơi dậy và phát huy tiềm năng của nhà khoa học nữ không chỉ là câu chuyện bình đẳng giới, mà còn là yêu cầu phát triển của quốc gia. Khi một nửa nguồn lực trí tuệ của xã hội được tạo điều kiện phát triển đầy đủ, đất nước sẽ có thêm động lực đổi mới sáng tạo bền vững.

Bài 1: Phát huy vai trò của nhà khoa học nữ

Chiếm 46% nhân lực nghiên cứu và phát triển, đội ngũ nhà khoa học nữ đang đóng góp ngày càng rõ nét cho khoa học và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, từ tham gia đến dẫn dắt vẫn còn một khoảng cách cần được thu hẹp bằng những điều chỉnh chính sách cụ thể và hệ sinh thái hỗ trợ thực chất.

Nhận diện các rào cản

Theo thống kê của Cục Thông tin, Thống kê (Bộ Khoa học và Công nghệ), năm 2024, các nhà khoa học nữ có khoảng 79.078 người (chiếm 46%) trong tổng số nhân lực đội ngũ nghiên cứu và phát triển. Đây là tỷ lệ rất cao tại các quốc gia Đông Nam Á và châu Á. Số liệu cũng cho thấy, mức độ tham gia của các nhà khoa học nữ còn thấp ở lĩnh vực khoa học tự nhiên (39,2%) và khoa học kỹ thuật, công nghệ (35,2%), cao hơn đáng kể các lĩnh vực khoa học y-dược (59,7%), khoa học nông nghiệp (45,2%), khoa học xã hội (48,6%) và khoa học nhân văn (45,7%). Trong nhiều lĩnh vực như y-dược, giáo dục, nông nghiệp, khoa học xã hội, khoa học nhân văn … nữ giới thể hiện sự tỉ mỉ, kiên trì và khả năng kết nối đa ngành vượt trội, đây cũng chính là những yếu tố cốt lõi của đổi mới sáng tạo.

Tuy nhiên, vẫn tồn tại những rào cản khiến nguồn lực tri thức của nhà khoa học nữ chưa được khai thác hiệu quả. Nhiều nhà khoa học đã thẳng thắn chỉ ra rào cản lớn ảnh hưởng tới đội ngũ nhà khoa học nữ là tư tưởng, quan niệm từ gia đình, cộng đồng, xã hội. Nhiều chủ nhiệm đề tài gặp khó khăn khi đi liên hệ triển khai kết quả đề tài vào thực tế ở một số ở một số địa phương vì nhận thức “trọng nam, khinh nữ” vẫn còn rải rác ở nhiều địa phương, thiếu tin tưởng các nhà khoa học nữ.

Tiến sĩ Tô Văn Trường, nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch thủy lợi miền nam cho rằng, phụ nữ làm khoa học thường đối mặt với áp lực cân bằng giữa sự nghiệp và gia đình, đặc biệt trong những giai đoạn quan trọng của hành trình nghiên cứu. Định kiến giới, dù đã giảm, nhưng vẫn tồn tại trong một số lĩnh vực STEM như công nghệ, kỹ thuật hoặc khoa học ảnh hưởng cơ hội thăng tiến và tiếp cận nguồn lực. Việc thiếu mạng lưới cố vấn và hỗ trợ chuyên biệt cũng khiến nhiều nhà khoa học nữ trẻ gặp khó khăn khi xây dựng nhóm nghiên cứu hoặc theo đuổi các đề tài dài hạn.

Đại diện Hội Nữ trí thức Việt Nam nhấn mạnh, việc ngắt quãng hai đến ba năm đối với nhà khoa học nữ để sinh con là một “khoảng lặng” rất khó bù đắp khi công nghệ thay đổi từng ngày. Quan niệm “phụ nữ nên làm hậu phương” hoặc “phụ nữ không giỏi kỹ thuật” vẫn tồn tại ngầm định, khiến họ ít được tin tưởng giao trọng trách chủ trì các nhiệm vụ cấp quốc gia. Thực tế, chỉ có 26% số chủ nhiệm nhiệm vụ khoa học-công nghệ là nữ.

“Tỷ lệ nữ tham gia các hội đồng ngành các cấp, hay các hội đồng thẩm định, đề xuất ý tưởng,… còn rất khiêm tốn. Ở lĩnh vực khoa học-công nghệ, phần lớn các trọng trách này được trao cho các giáo sư nam giới” - một nhà khoa học nữ giấu tên cho biết thêm.

Bên cạnh đó, cơ chế quản lý khoa học hiện chưa tính đến yếu tố giới. Nhiều học bổng, đề tài trọng điểm hoặc các giải thưởng khoa học quy định độ tuổi trần, thí dụ dưới 35 hoặc 40 tuổi, trong khi đây chính là giai đoạn phụ nữ thực hiện thiên chức làm mẹ, khiến họ mất đi cơ hội cạnh tranh công bằng. Ngoài ra, thiếu hụt mạng lưới và hệ sinh thái hỗ trợ. Thực tế, nam giới thường có các mạng lưới kết nối không chính thức rất mạnh. Phụ nữ do bận rộn gia đình nên ít có cơ hội tham gia các hoạt động này, dẫn đến việc thiếu thông tin về các nguồn lực, quỹ đầu tư hoặc các dự án hợp tác quốc tế.

Để phụ nữ thật sự trở thành hạt nhân của sự phát triển trong giai đoạn mới, cần tiếp tục xây dựng những cơ chế, chính sách thông thoáng, tạo hệ sinh thái thuận lợi để họ phát huy hết tiềm năng sáng tạo, nghiên cứu khoa học.

Từ góc nhìn quốc tế, Tiến sĩ Phạm Thu Hiền, Điều phối Câu lạc bộ các nhà khoa học Việt Nam tại Queensland (AVESQ) nhận định, các nhà khoa học nữ của Việt Nam có năng lực chuyên môn tốt, tư duy hệ thống, có khả năng thích ứng cao, đặc biệt có sự bền bỉ và tinh thần trách nhiệm. Tuy nhiên, trong các ngành công nghiệp công nghệ cao như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học hay năng lượng mới, tỷ lệ phụ nữ là chủ nhiệm đề tài chính, trưởng phòng thí nghiệm hay lãnh đạo nhóm nghiên cứu còn hạn chế.

Vấn đề không nằm ở năng lực cá nhân mà là những rào cản mang tính hệ thống khiến cho các nhà khoa học nữ chưa thật sự tham gia “dẫn dắt” trong các lĩnh vực công nghệ cao. Một bất bình đẳng khó nhận diện đó là việc lựa chọn thành viên cho các hội đồng khoa học, tổ chuyên gia hay ban điều hành thường dựa vào các mạng lưới hoặc cơ sở dữ liệu chuyên môn sẵn có, do lịch sử hình thành chủ yếu là các nhà khoa học nam, vì vậy nhiều nhà khoa học nữ dù có đủ năng lực vẫn ít được tham gia.

Luồng gió mới từ Nghị quyết số 57

Nghị quyết số 57-NQ/TW tạo bước ngoặt lớn, theo đó, nhà khoa học nữ không còn là “người hỗ trợ” mà trở thành chủ thể trực tiếp dẫn dắt công cuộc chuyển đổi số và kinh tế tri thức. Quốc hội và Chính phủ cũng đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm thể chế hóa các chủ trương này. Hệ thống chính sách và pháp luật về khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày càng đồng bộ và định hướng rõ hơn, khẳng định vai trò của tiến bộ công nghệ trong phát triển kinh tế-xã hội và nâng cao năng lực quản trị. Yếu tố bình đẳng giới đã bước đầu được lồng ghép vào một số văn bản chính sách ban hành cuối năm 2025, thể hiện chuyển biến tích cực trong nhận thức và là nền tảng để xây dựng các chính sách có tính giới cao hơn.

Nghị định số 265/2025/NĐCP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 đã bổ sung nội dung ưu tiên giới, trong đó “tổ chức xét chọn để tài trợ, đặt hàng thực hiện chương trình, nhiệm vụ khoa học và công nghệ... trong đó có cơ chế ưu tiên nhà khoa học nữ” (Điều 20). Nghị định số 268/2025/NĐ-CP nêu rõ: “Thúc đẩy bình đẳng trong tiếp cận chính sách tài trợ, hỗ trợ, ưu đãi, khuyến khích về đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo; khuyến khích sự tham gia của phụ nữ, người cao tuổi, người dân tộc thiểu số, người yếu thế và nhóm đối tượng đặc thù khác…” (Điều 61). Đây là hai văn bản đầu tiên ghi nhận cụ thể yếu tố giới trong cơ chế tài trợ và khuyến khích đổi mới sáng tạo.

Song song đó, Quy định số 377-QĐ/TW ngày 8/10/2025 của Bộ Chính trị về phân cấp quản lý và quy hoạch cán bộ cũng thể hiện sự quan tâm đến yếu tố giới trong công tác nhân sự, khi đặt ra yêu cầu “… phấn đấu quy hoạch theo cơ cấu ba độ tuổi, tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số…” (Điều 19).

Việc lần đầu tiên yếu tố giới được ghi nhận cụ thể trong cơ chế tài trợ và khuyến khích đổi mới sáng tạo cho thấy sự chuyển biến trong tư duy chính sách, chuyển từ bình đẳng hình thức sang tạo điều kiện thực chất. Tuy nhiên, từ quy định đến thay đổi thực chất vẫn là chặng đường đòi hỏi quyết tâm và thực thi đồng bộ.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Văn Tích, Phó Giám đốc Học viện Chiến lược Khoa học, công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), cùng với Nghị quyết số 57-NQ/TW, Việt Nam đã xác định 11 lĩnh vực khoa học-công nghệ chiến lược, trong đó các công nghệ như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học, năng lượng mới hay chuyển đổi xanh sẽ là những ưu tiên hàng đầu, quyết định năng lực cạnh tranh dài hạn của cả nước.

Để phụ nữ thật sự trở thành hạt nhân của sự phát triển trong giai đoạn mới, cần tiếp tục xây dựng những cơ chế, chính sách thông thoáng, tạo hệ sinh thái thuận lợi để họ phát huy hết tiềm năng sáng tạo, nghiên cứu khoa học.

(Còn nữa)

Có thể bạn quan tâm

Thử nghiệm robot tại lò Hạt nhân Đà Lạt. (Ảnh TIẾN HIẾU)

Ứng dụng robot thông minh trong bức xạ và hạt nhân

Các nhà khoa học Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam phát triển thành công robot tự hành tích hợp tay máy, có khả năng quan trắc phóng xạ và hỗ trợ thao tác trong môi trường hạt nhân.

Phân loại thủy hải sản ở cảng cá Phan Thiết, tỉnh Lâm Đồng. (Ảnh THANH HẢI)

Tháo điểm nghẽn để giữ thị trường

“Xanh hóa” với thủy sản Việt Nam đang trở thành yêu cầu bắt buộc khi EU, Mỹ, Nhật Bản siết tiêu chuẩn về phát thải, truy xuất và bao bì tái chế. Thị trường không chỉ đòi hỏi chất lượng và giá, mà còn đòi hỏi dấu chân carbon.

Hệ thống “siêu máy” xạ trị Proton MEVION S250-FIT đầu tiên tại châu Á vừa được Bệnh viện Tâm Anh đặt mua thành công, kỳ vọng giúp người bệnh ung thư được điều trị hiệu quả cao, an toàn, chi phí hợp lý.

Đưa kinh tế nhà nước trở thành điểm tựa về dẫn dắt đổi mới sáng tạo và công nghệ lõi

Chuyển động mạnh mẽ từ khu vực kinh tế tư nhân đặt ra yêu cầu đối với doanh nghiệp nhà nước phải chuyển mình thực chất để khẳng định vai trò điểm tựa của nền kinh tế. Vai trò ấy không chỉ dựa vào quy mô vốn và tài sản, mà cần được xác lập bằng năng lực dẫn dắt về công nghệ lõi, đổi mới sáng tạo và chuẩn mực quản trị hiện đại.

Các cá thể bò tót lai F1 thích nghi với môi trường chăn thả bán hoang dã, được cung cấp thức ăn bổ sung, kiểm tra sức khỏe và phòng bệnh định kỳ, cho nên sinh trưởng, phát triển ổn định. (Ảnh: NGUYỄN TRUNG)

Nghiệm thu đề tài “Bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn gene bò tót lai F1 giữa bò cái nhà và bò tót đực” tại Khánh Hòa

Ngày 5/3, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Khánh Hòa tổ chức họp Hội đồng Khoa học và Công nghệ cấp tỉnh nghiệm thu đề tài “Bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn gene bò tót lai F1 giữa bò cái nhà và bò tót đực, giai đoạn 2021-2025”. Đề tài do Ban Quản lý Vườn Quốc gia Núi Chúa-Phước Bình, xã Bác Ái Tây chủ trì thực hiện.

Sơ đồ tác hại của ô nhiễm dầu đối với con người.

Xử lý ô nhiễm dầu bằng màng vi sinh vật

Xử lý ô nhiễm dầu luôn là vấn đề khó đối với nhiều quốc gia, nhất là các quốc gia biển bởi chi phí lớn, thời gian kéo dài và ảnh hưởng đến môi trường. Do vậy, giải pháp sử dụng vi sinh vật tạo màng sinh học để xử lý sự cố ô nhiễm dầu trong môi trường tự nhiên có vai trò quan trọng.

Ảnh minh họa.

Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của toàn xã hội trong thực thi quy định về trí tuệ nhân tạo

Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng vừa ký Quyết định số 367/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Trí Tuệ nhân tạo. Luật số 134/2025/QH15 được Quốc hội khóa XV thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực từ 1/3/2026, tạo hành lang pháp lý quan trọng cho phát triển, ứng dụng và quản lý trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam.

Mặt trăng sẽ có một màn “biến hình” cực kỳ ấn tượng: Thay vì sắc vàng thông thường, vệ tinh này sẽ nhuộm một màu đỏ đồng. Trong ảnh là hiện tượng nguyệt thực toàn phần, thường được gọi là “trăng máu” xuất hiện trên bầu trời Hà Nội rạng sáng 8/9/2025. Ảnh: THÀNH ĐẠT.

Chờ đợi xem "trăng máu" hiếm có trong nguyệt thực toàn phần đêm Nguyên tiêu

Tối 3/3, tức rằm tháng Giêng Bính Ngọ, còn gọi là Tết Nguyên tiêu, những người yêu thiên văn trên cả nước sẽ được chiêm ngưỡng hiện tượng Selenelion. Được biết hiện tượng "không tưởng" này xảy ra khi Mặt trời và Mặt trăng đang ở nguyệt thực toàn phần cùng xuất hiện ở trên đường chân trời và đối diện với nhau.

Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó người lao động vừa làm việc, vừa học tập và nghiên cứu. (Ảnh: USTH)

Phát triển nền kinh tế tri thức trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, phát triển kinh tế tri thức đã trở thành xu thế tất yếu. Tri thức, công nghệ số và đổi mới sáng tạo ngày càng giữ vai trò động lực chủ yếu của tăng trưởng, tạo giá trị gia tăng cao và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Kỹ thuật viên Viettel lắp đặt trạm phát sóng 5G.

Tạo động lực phát triển kinh tế số

5G đang từng bước đi vào đời sống, tạo ra những thay đổi cụ thể trong quản trị đô thị, tổ chức sản xuất và cuộc sống của người dân. Triển khai thành công 5G cũng chính là thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả một hạ tầng số chiến lược.