Phát triển nền kinh tế tri thức trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, phát triển kinh tế tri thức đã trở thành xu thế tất yếu. Tri thức, công nghệ số và đổi mới sáng tạo ngày càng giữ vai trò động lực chủ yếu của tăng trưởng, tạo giá trị gia tăng cao và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó người lao động vừa làm việc, vừa học tập và nghiên cứu. (Ảnh: USTH)
Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó người lao động vừa làm việc, vừa học tập và nghiên cứu. (Ảnh: USTH)

Đối với Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng nhanh, bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nắm bắt và phát triển kinh tế tri thức là nhiệm vụ cấp thiết trong kỷ nguyên số hiện nay.

Trí thức đại diện cho trí tuệ dân tộc

Ngay từ những năm cuối của thế kỷ XX, thế giới đã có sự chuyển biến sâu sắc từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức, với đặc điểm nổi bật là: Khai thác, phát huy triệt để tiềm năng về trí tuệ của con người, nhất là tri thức về khoa học và công nghệ, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước. Trong nền kinh tế tri thức, nguồn lực con người, nhất là đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển của mỗi quốc gia.

Trong lịch sử của dân tộc ta, trí thức luôn là lực lượng sáng tạo quan trọng, có những đóng góp to lớn vào sự phát triển của đất nước, của dân tộc. Nhân dân ta luôn có truyền thống trân trọng, tôn vinh và tự hào về đội ngũ trí thức, khẳng định trí thức là những người tiêu biểu cho trí tuệ dân tộc, “hiền tài là nguyên khí của quốc gia”. Nối tiếp truyền thống đó, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định vị trí quan trọng và vai trò ngày càng to lớn của đội ngũ trí thức trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong từng giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn có những chủ trương, quyết sách phù hợp, kịp thời để tập hợp, đoàn kết, xây dựng đội ngũ trí thức, phát huy mạnh mẽ vai trò của trí thức, tạo động lực thúc đẩy sự cống hiến, sáng tạo của trí thức. Đặc biệt, từ khi phát động và từng bước làm sâu sắc thêm công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách cụ thể, tạo điều kiện cho sự phát triển và phát huy vai trò của trí thức trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Các nghị quyết, chủ trương, chính sách về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ…đã tạo động lực thúc đẩy lao động sáng tạo và sự cống hiến của đội ngũ trí thức nước ta.

z7580442306598-e35f78cad44271cf896948636ed53cf9.jpg
Xây dựng kinh tế tri thức phải gắn liền với nghiên cứu khoa học trong giai đoạn hiện nay. (Ảnh: VHL)

Theo Giáo sư, Viện sĩ Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, nguyên Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, khát vọng đưa đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới là sự kết tinh trí tuệ, ý chí và niềm tin của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Khát vọng ấy được cụ thể hóa bằng những “trụ cột” chính sách rõ ràng, đồng bộ và mang tính đột phá. Trước hết phải kể đến hệ thống các nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị, thể hiện tư duy cải cách mạnh mẽ và tầm nhìn dài hạn.

Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân đã khẳng định vai trò động lực quan trọng của khu vực này trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đặt nền tảng hoàn thiện thể chế, bảo đảm môi trường pháp lý minh bạch, ổn định cho phát triển. Đặc biệt, Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đánh dấu bước chuyển căn bản về tư duy lãnh đạo coi khoa học, công nghệ là lĩnh vực hỗ trợ sang xác định đây là động lực trung tâm của tăng trưởng nhanh và bền vững, khẳng định quyết tâm chính trị cao nhất của Đảng, Nhà nước trong hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược. Đó là thông điệp rõ ràng về sự thống nhất giữa tầm nhìn và hành động, giữa hoạch định chủ trương và tổ chức thực thi.

Tinh thần khẩn trương ấy nhanh chóng được cụ thể hóa ở cấp lập pháp. Ngay sau khi Nghị quyết 57 được ban hành, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết 193/2025/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết này mở ra hành lang pháp lý quan trọng nhằm khơi thông nguồn lực, tháo gỡ các điểm nghẽn về tài chính, đầu tư, cơ chế sử dụng và đãi ngộ nhân lực; đồng thời tạo điều kiện để các mô hình mới được thử nghiệm trong môi trường thể chế linh hoạt hơn.

Tuy nhiên, chính sách dù đúng và trúng đến đâu cũng chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được triển khai bởi đội ngũ đủ năng lực và tâm huyết. Trong tiến trình đó, đội ngũ trí thức, nhà khoa học, chuyên gia công nghệ và doanh nhân đổi mới sáng tạo chính là lực lượng nòng cốt, vừa là chủ thể sáng tạo tri thức mới, vừa là cầu nối đưa tri thức vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh và quản trị quốc gia.

z7580442420230-639b838b06269e9778e6d3dbbf16ec55.jpg
Phát triển kinh tế tri thức gắn với việc vừa học tập, vừa làm việc và đổi mới sáng tạo.

Vì vậy, cùng với hoàn thiện thể chế, yêu cầu đặt ra là phải xây dựng cơ chế trọng dụng nhân tài, tạo môi trường nghiên cứu thuận lợi, bảo đảm quyền tự chủ, khuyến khích dấn thân và chấp nhận rủi ro trong đổi mới sáng tạo. Từ khát vọng đến hành động, từ nghị quyết đến cơ chế cụ thể, một hệ sinh thái phát triển dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo đang từng bước hình thành. Đó chính là nền tảng để Việt Nam bứt phá, nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và từng bước khẳng định vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Có thể khẳng định, trải qua thời gian, đội ngũ trí thức Việt Nam đã phát triển nhanh về số lượng, nâng cao về chất lượng. Từ con số vài trăm kỹ sư, bác sĩ sau khi đất nước giành được độc lập, đến nay, nước ta có thêm hàng triệu người có trình độ đại học và trên đại học, trong đó có gần 7.000 giáo sư và phó giáo sư đang công tác tại các cơ sở giáo dục đại học…

Tuy nhiên, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước ta còn chậm, chưa phát triển theo chiều sâu, mặt bằng công nghệ và trình độ phát triển kinh tế của đất nước còn thấp. Tỉ trọng đóng góp cho khoa học và công nghệ vào sự tăng trưởng của nền kinh tế còn thấp, khiến chất lượng tăng trưởng chưa cao và thiếu bền vững. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là cần phải chủ động chuẩn bị về nguồn nhân lực, tăng cường kết cấu hạ tầng thông tin, viễn thông, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cơ sở pháp lý nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội.

Thực hiện đồng bộ, hiệu quả nhiều giải pháp

Theo Giáo sư, Viện sĩ Châu Văn Minh, Đảng và Nhà nước ta xác định chặng đường phía trước đòi hỏi tốc độ nhanh hơn, chất lượng cao hơn và quyết tâm chính trị mạnh mẽ hơn so với giai đoạn đã qua, với mục tiêu đến năm 2045 đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh - hiện thực hóa khát vọng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong ước.

Từ ngưỡng thu nhập trung bình vươn lên thu nhập cao là hành trình đầy thách thức. Thực tiễn phát triển thế giới cho thấy không ít quốc gia đã rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” và chậm bứt phá. Đối với Việt Nam, con đường tất yếu là phải dựa vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số như những động lực trung tâm của tăng trưởng.

Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác lập rõ: Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, giữ vai trò động lực chính thúc đẩy phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, nâng cao năng lực tự cường, tự chủ của đất nước.

Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh mỗi bước tiến của dân tộc đều gắn liền với sự phát triển của khoa học, công nghệ và vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức. Trong kỷ nguyên mới, truyền thống ấy càng cần được phát huy mạnh mẽ hơn nữa, để đội ngũ trí thức thực sự trở thành nguồn lực quyết định, đưa đất nước bứt phá vươn lên.

z7580442362157-a266a6dec5ca272cea427bf13c7b3e84.jpg
Ảnh minh hoạ. (Nguồn: USTH)

Bởi vậy, để phát triển nền kinh tế tri thức cần phải có đội ngũ trí thức nhiều về số lượng và cao về chất lượng, đồng thời phải có cơ chế thích hợp để đội ngũ trí thức phát huy vai trò của mình, đóng góp cho sự phát triển của đất nước. Muốn vậy, một mặt cần khuyến khích, động viên và tạo điều kiện để đội ngũ trí thức phát huy truyền thống yêu nước, phụng sự hết mình cho đất nước và nhân dân, đem trí tuệ, tài năng, sức lực cùng nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đưa đất nước phát triển, sánh vai với các cường quốc năm châu. Mặt khác, chúng ta cũng cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp gồm:

Tập trung đổi mới cơ chế, chính sách phát triển khoa học và công nghệ, hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội; khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, tăng cường sức cạnh tranh, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng; tăng cường hỗ trợ đổi mới và nghiên cứu phát triển doanh nghiệp, xây dựng đồng bộ các cơ chế, chính sách, tạo sự năng động và hiệu quả trong hoạt động khoa học và công nghệ của mọi tổ chức và cá nhân; tạo sự gắn kết giữa nghiên cứu, đào tạo với sản xuất kinh doanh, đồng thời xây dựng cơ chế hiệu quả nhằm hỗ trợ các sản phẩm nghiên cứu và phát triển công nghệ trở thành sản phẩm hàng hóa, đáp ứng được nhu cầu của các lĩnh vực kinh tế-xã hội.

Nhà nước tăng cường đầu tư cho nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và triển khai ứng dụng công nghệ mới hiện đại để phấn đấu đến năm 2030, Việt Nam cơ bản trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Mục tiêu tổng quát là nâng cao đời sống nhân dân, thuộc nhóm 30 nền kinh tế hàng đầu thế giới với GDP bình quân đầu người khoảng 8.500 USD, phát triển kinh tế số, và vững chắc bảo vệ Tổ quốc.

Nâng cao chất lượng nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, chú trọng các nghiên cứu cơ bản có trọng điểm, tập trung đầu tư để đạt trình độ và chuẩn mực quốc tế, coi nghiên cứu cơ bản là nền tảng để phát triển năng lực nghiên cứu và phát triển khoa học và công nghệ của đất nước, là hạ tầng cơ sở của nền khoa học và công nghệ nước nhà; đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, khai thác hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên; tăng cường hợp tác quốc tế trong hoạt động khoa học và công nghệ.

Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý và cơ chế tài chính trong khoa học và công nghệ tạo động lực cho đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ phát huy sáng tạo; Nhà nước tập trung xây dựng các quỹ phát triển, các chương trình khoa học và công nghệ lớn, xác định và đặt hàng thực hiện những nhiệm vụ khoa học và công nghệ trọng điểm quốc gia, tập trung lực lượng giải quyết các nhiệm vụ khoa học và công nghệ then chốt.

Phát triển và hiện đại hóa nền giáo dục ở tất cả các bậc học, nhằm mục tiêu lâu dài là đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao, góp phần quan trọng vào sự nghiệp nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài và xây dựng nhân cách con người Việt Nam. Đầu tư đủ mạnh cho giáo dục và đào tạo để cùng với khoa học và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu của đất nước.

Có chính sách đãi ngộ, trọng dụng, tôn vinh thích hợp đối với đội ngũ trí thức nói chung và chính sách đặc biệt để thu hút nhân tài, hạn chế hiện tượng chảy máu chất xám.

Xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh là “quốc sách hàng đầu”, đồng thời là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội nhằm tạo dựng nền tảng vững chắc cho đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

Đại hội XIV của Đảng xác định đội ngũ trí thức là nguồn lực đặc biệt quan trọng, giữ vai trò quyết định đối với sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng. Quan điểm xuyên suốt là xây dựng đội ngũ trí thức vững vàng về bản lĩnh chính trị, sâu sắc về trí tuệ, giàu tinh thần phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân; thực sự trở thành lực lượng tiên phong trong đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế tri thức, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao vị thế quốc gia.

z7580442306519-f0cb2fd95029b9ec89501e5b8980ccef.jpg
Nghiên cứu khoa học là một trong những thành tố góp phần định vị nền kinh tế tri thức. (Ảnh: VHL)

Dưới sự chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đặc biệt là của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, các chủ trương, cơ chế, chính sách nhằm phát hiện, thu hút, trọng dụng và đãi ngộ nhân tài từng bước được hoàn thiện. Điều đó mở ra một không gian phát triển rộng lớn hơn, một hành lang pháp lý thông thoáng hơn để trí thức yên tâm nghiên cứu, sáng tạo và cống hiến. Cùng với việc khơi thông nguồn lực, yêu cầu đặt ra là phải tạo dựng môi trường học thuật lành mạnh, đề cao tự do sáng tạo gắn với trách nhiệm xã hội, tôn vinh những đóng góp thực chất, lấy hiệu quả và giá trị cống hiến làm thước đo.

Đã đến lúc đội ngũ trí thức Việt Nam tiếp tục khẳng định bản lĩnh, khát vọng và tầm vóc, đưa trí tuệ Việt Nam vươn ra khu vực và thế giới, góp phần hiện thực hóa những mục tiêu chiến lược mà Đại hội XIV của Đảng đề ra. Chúng ta tin tưởng rằng, trong kỷ nguyên mới, khi tri thức, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng, đội ngũ trí thức sẽ là lực lượng nòng cốt giúp đất nước bứt phá, phát triển nhanh và bền vững, từng bước hiện thực hóa khát vọng xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia phát triển hùng cường.

Có thể bạn quan tâm

Dự án "Tất gel thảo dược An Túc" của sinh viên Trường đại học Y-Dược Huế đạt giải Nhất Cuộc thi Ý tưởng Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo lần thứ IX, năm 2026. (Ảnh: PH.THẢO)

Hành trình ươm tạo khởi nghiệp của sinh viên Đại học Huế

Từ nguồn dược liệu bản địa đến những giải pháp công nghệ, giáo dục và nông nghiệp, 8 dự án vào chung kết Cuộc thi Ý tưởng Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Đại học Huế năm 2026 cho thấy sức sáng tạo của người học; trong đó, “Tất gel thảo dược An Túc” nổi bật với hướng tiếp cận kết hợp tri thức truyền thống và nhu cầu hiện đại.

Đại biểu Bùi Văn Dũng (Đoàn Thanh Hóa) phát biểu tại hội trường. (Ảnh: THỦY NGUYÊN)

Bảo đảm quyền kiểm chứng kết quả đo lường

Đại biểu Quốc hội đề nghị quy định rõ trách nhiệm chủ động rà soát các giao dịch bị ảnh hưởng khi phát hiện sai số đo lường, đồng thời bảo đảm người tiêu dùng được tiếp cận dữ liệu và hoàn trả tiền thu thừa trong thời hạn cụ thể.

Quốc hội làm việc tại hội trường, nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra dự án Luật Định danh và xác thực điện tử. (Ảnh: THỦY NGUYÊN)

Thiết lập 3 mô hình xác thực điện tử, tăng an toàn giao dịch số

Dự thảo Luật Định danh và xác thực điện tử mở rộng đối tượng định danh, thiết lập các mô hình xác thực và thúc đẩy xã hội hóa dịch vụ, tạo nền tảng nhận diện số tin cậy, phòng, chống tội phạm mạng, lừa đảo trực tuyến và thúc đẩy phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số.

Toàn cảnh tọa đàm. (Ảnh: MẠNH XUÂN)

Giải pháp thích ứng với giáo dục STEM trong nhà trường

Chiều 25/10, tại Hà Nội, Hiệp hội Thiết bị giáo dục Việt Nam phối hợp Tập đoàn Geleximco tổ chức Tọa đàm: Giải pháp thích ứng với giáo dục STEM trong nhà trường. Đông đảo các chuyên gia, nhà quản lý, cán bộ các trường học, đơn vị hoạt động giáo dục tham dự tọa đàm.

Khánh thành Khu thử nghiệm thiết bị bay không người lái VNU - HTI tại Hòa Lạc

Khánh thành Khu thử nghiệm thiết bị bay không người lái VNU - HTI tại Hòa Lạc

Ngày 25/10, trong khuôn khổ chương trình “Hòa Lạc ngày mới 2026” do Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức, Khu thử nghiệm thiết bị bay không người lái VNU - HTI đã chính thức được khánh thành tại Hòa Lạc. Công trình do HTI Group đầu tư xây dựng, tạo thêm hạ tầng phục vụ nghiên cứu, thử nghiệm và phát triển công nghệ UAV tại Việt Nam.

Quang cảnh khai mạc chương trình tập huấn. (Ảnh: CTV)

Lâm Đồng: Trang bị kiến thức bảo vệ thanh thiếu niên trên môi trường mạng

Ngày 25/10, Công an tỉnh Lâm Đồng phối hợp Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Khoa học và Công nghệ, Câu lạc bộ Niềm tin số Lâm Đồng, tổ chức tập huấn chuyên gia an toàn số học đường, nhằm xây dựng lực lượng nòng cốt trong tuyên truyền, hướng dẫn kỹ năng và bảo vệ trẻ em, thanh thiếu niên trên không gian mạng.

Quạt nước gạt đập liên hồi tạo nên những luồng bọt bồng bềnh trắng xóa trên mặt ao là đặc trưng tại các vùng nuôi tôm trọng điểm tỉnh Cà Mau. (Ảnh HỮU TÙNG)

Chàng trai Cà Mau số hóa sổ cân tôm

Từ những trăn trở bên ao tôm quê nhà, chàng trai trẻ Đỗ Vương Nhi đã miệt mài sáng tạo nên ứng dụng FarmBook (sổ cân tôm), giúp nhà nông vùng sông nước Cà Mau bước vào hành trình chuyển đổi số một cách nhẹ nhàng, minh bạch nhưng đong đầy niềm tin.

Bài 3: Hiện thực hóa các mục tiêu bằng hành động và kết quả thực tiễn

Bài 3: Hiện thực hóa các mục tiêu bằng hành động và kết quả thực tiễn

Nghị quyết số 19-NQ/TW xác định cụ thể các mục tiêu, yêu cầu đổi mới mô hình phát triển lâu dài, bền vững. Để hiện thực hóa các mục tiêu, yêu cầu đó các cấp, ngành, địa phương và doanh nghiệp cần quyết liệt triển khai và có những kết quả cụ thể, từng bước đưa tri thức trở thành năng lực sản xuất và lợi thế cạnh tranh quốc gia.

Phiên họp Hội đồng cấp Nhà nước xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ đợt 7. (Ảnh: Bộ Khoa học và Công nghệ)

Danh sách công trình/cụm công trình được đề nghị xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ đợt 7

Ngày 12 và 13/10/2026, tại Hà Nội, Hội đồng cấp Nhà nước xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ đợt 7 họp xem xét, đánh giá các công trình/cụm công trình và tác giả, đồng tác giả đề nghị tặng giải thưởng.

[Video] Nâng giá trị cây rau má từ vùng nguyên liệu địa phương

[Video] Nâng giá trị cây rau má từ vùng nguyên liệu địa phương

Rau má từ lâu được biết đến không chỉ là loại rau quen thuộc trong bữa ăn, mà còn là cây dược liệu dân gian có nhiều giá trị đối với sức khỏe. Tuy nhiên, tại Quảng Trị, các nghiên cứu và mô hình chế biến sâu đối với rau má vẫn chưa nhiều, khiến giá trị kinh tế của cây rau má chưa được khai thác tương xứng với tiềm năng.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Đức Minh trình bày tham luận tại Phiên toàn thể quốc tế. (Ảnh: Viện Hàn lâm)

Đoàn công tác của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tham dự Hội nghị Khoa học-Thực tiễn quốc tế lần thứ III tại Nga

Hội nghị Khoa học-Thực tiễn quốc tế lần thứ III do Học viện Kinh tế quốc dân và Hành chính công trực thuộc Tổng thống Liên bang Nga (Học viện Tổng thống-RANEPA) tổ chức tại Thủ đô Moskva, Liên bang Nga trong hai ngày 22 và 23/10 với chủ đề “Khoa học cho quản trị nhà nước tại Nga”.

Đề xuất bãi bỏ điều kiện kinh doanh dịch vụ giám định sở hữu trí tuệ

Đề xuất bãi bỏ điều kiện kinh doanh dịch vụ giám định sở hữu trí tuệ

Chính phủ đề xuất bỏ điều kiện kinh doanh dịch vụ giám định sở hữu trí tuệ đối với tổ chức và cá nhân, chỉ quy định nghĩa vụ thông báo của tổ chức, cá nhân giám định khi hoạt động cung cấp dịch vụ và dự kiến quy định tại văn bản dưới luật quyền và nghĩa vụ trong việc thực hiện hoạt động này.

Quốc hội làm việc tại hội trường nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường. (Ảnh: THỦY NGUYÊN)

Sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường: Tăng cường hậu kiểm, thúc đẩy chuyển đổi xanh

Dự án Luật hướng tới cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính, chuyển từ tiền kiểm sang tăng cường hậu kiểm, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền. Đồng thời, đổi mới quản trị môi trường dựa trên dữ liệu, thúc đẩy chuyển đổi xanh, tháo gỡ các điểm nghẽn, huy động nguồn lực cho bảo vệ môi trường.