Đây là đề xuất của Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội tại Hội nghị toàn quốc sơ kết thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Theo ông, để cơ chế này thực sự phát huy hiệu quả, cần đồng thời cải cách thủ tục hành chính, đổi mới cơ chế tài chính, trao quyền tự chủ nhiều hơn cho các tổ chức nghiên cứu và chấp nhận mức độ rủi ro phù hợp trong hoạt động khoa học.
Trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân, Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Tuấn phân tích những rào cản đang làm chậm quá trình nghiên cứu, chuyển giao và thương mại hóa kết quả khoa học; đồng thời đề xuất thí điểm các cơ chế Block Funding, Sandbox và hoàn thiện hành lang pháp lý về định giá tài sản trí tuệ nhằm khơi thông nguồn lực đổi mới sáng tạo.
Muốn có "luồng xanh" phải chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu
Phóng viên: Thưa Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, khoa học, công nghệ Việt Nam đang cần một "luồng xanh" để rút ngắn hành trình từ ý tưởng nghiên cứu đến sản phẩm và từ phòng thí nghiệm đến thị trường. Đây cũng là một trong những đề xuất mà ông chia sẻ tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW về cải cách hành chính và cơ chế tài chính. "Luồng xanh" trong khoa học, công nghệ nên được hiểu như thế nào và vì sao đây lại là yêu cầu cấp thiết ở thời điểm hiện nay?
Giáo sư Lê Anh Tuấn: Hiện nay, từ đề xuất đến phê duyệt một nhiệm vụ khoa học, công nghệ vẫn phải qua nhiều thủ tục và mất nhiều thời gian; đến khi được duyệt, tính thời sự của nhiều đề tài đã giảm, không còn đồng bộ với nhu cầu công nghệ và thị trường.
Mục tiêu của "luồng xanh" là rút ngắn tối đa thời gian từ khi nhà khoa học có ý tưởng, được giao nhiệm vụ, ký hợp đồng cho đến khi ra sản phẩm. “Luồng xanh” không phải là một cơ chế ưu đãi đặc biệt mà là cơ chế tuân thủ đúng các quy định của pháp luật nhưng quy trình phối hợp, triển khai thực hiện đáp ứng được tính thời sự của sản phẩm nghiên cứu, giảm tối đa các khâu trung gian.
Cơ chế quản lý này cần được tạo dựng trên nền tảng số, trên niềm tin vào nhà khoa học và sự chấp nhận rủi ro; thủ tục hành chính khi đó tập trung hỗ trợ thay vì thiên về kiểm tra. Nhờ vậy, nhà khoa học tập trung cho nghiên cứu thay vì mất quá nhiều thời gian cho hồ sơ, thủ tục và giải ngân.
Vì vậy, cần tiếp tục rút ngắn quy trình hành chính theo hướng một cửa hoặc "luồng xanh", chuyển mạnh sang cơ chế giao nhiệm vụ, đặt hàng và kiểm soát đầu ra. Khi được trao quyền chủ động đi kèm trách nhiệm rõ ràng, các tổ chức nghiên cứu sẽ cho kết quả bám sát thực tiễn và triển khai nhanh hơn.
Chúng tôi cũng đề xuất phân bổ ngân sách trực tiếp cho các đại học nghiên cứu trọng điểm thay vì qua nhiều tầng trung gian, và thí điểm Block Funding, Sandbox để đơn vị được giao nhiệm vụ phát huy tính chủ động trong huy động nguồn lực, triển khai các nhiệm vụ hướng đến sản phẩm nghiên cứu và sản phẩm thương mại theo mục tiêu cam kết.
Phóng viên: Theo ông, hiện nay khâu nào đang làm chậm "luồng xanh"? Có phải do chúng ta vẫn chưa thực sự chấp nhận rủi ro?
Giáo sư Lê Anh Tuấn: Chấp nhận rủi ro trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã được quy định tại Điều 9, Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo (Luật số 93/2025) và Nghị định số 267/2025/NĐ-CP. Tuy nhiên vẫn cần hướng dẫn chi tiết về nội dung này, bao gồm phương pháp đánh giá và xác định loại hay mức độ rủi ro; đơn vị được lựa chọn thực hiện chức năng định giá; quy trình thực hiện định giá sản phẩm nghiên cứu, quy trình xác định tỷ lệ phân chia lợi ích khi thành lập doanh nghiệp khởi nghiệp, khởi nguồn.
Giải pháp có thể triển khai việc này ngay là cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu xây dựng phương án thí điểm và được cơ quan có thẩm quyền đánh giá, thông qua làm căn cứ triển khai.
Một thí dụ được triển khai với sự bảo vệ của các cơ quan có thẩm quyền sẽ là trường hợp điển hình làm căn cứ cho các trường hợp tương tự được thực hiện với sự chủ động của tổ chức chủ trì thay vì lo sợ việc triển khai định giá, phân chia lợi ích khi thành lập doanh nghiệp khởi nghiệp, khởi nguồn có nguy cơ làm thất thoát tài sản nhà nước không. Quá trình này có thể coi như là một bước hiện thực hóa chủ trương chấp nhận rủi ro.
Phóng viên: Những rào cản này có phải cũng là nguyên nhân khiến nhiều sản phẩm nghiên cứu dù thành công nhưng vẫn chưa được ứng dụng rộng rãi, đồng thời khiến doanh nghiệp còn e ngại đầu tư?
Giáo sư Lê Anh Tuấn: Cần phải nhìn nhận đầy đủ từ hai phía. Một mặt, kết quả nghiên cứu thành công trong phòng thí nghiệm chưa bảo đảm rằng sản phẩm sẵn sàng cho thị trường.
Sản phẩm nghiên cứu để có thể thương mại hóa còn cả chặng dài: hoàn thiện công nghệ, chế thử, thử nghiệm, xây dựng tiêu chuẩn, định giá, ươm tạo, khởi nghiệp/khởi nguồn. Quá trình này không chỉ cần tài chính đầu tư mà còn cần hệ sinh thái để sản phẩm có cơ hội ra thị trường. Một sản phẩm nghiên cứu xuất sắc, có công nghệ tốt nhưng có thể không được thị trường chấp nhận nếu không được tối ưu về tính năng và giá thành ở quy mô thương mại.
Mặt khác, về phía doanh nghiệp, việc e ngại trong đầu tư cũng là dễ hiểu. Việc tham gia đầu tư nghiên cứu cùng với cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu cần xuất phát từ nhu cầu của cả hai bên. Nhu cầu đó chỉ có thể gặp nhau khi doanh nghiệp và đại học có tiếng nói chung về mục tiêu nghiên cứu và thương mại hóa sản phẩm. Thêm vào đó là cơ chế thuận lợi và minh bạch trong phân chia lợi ích nếu sản phẩm nghiên cứu được hình thành có sự tham gia của ngân sách nhà nước.
Phóng viên: Trong thời gian qua, Đại học Bách khoa Hà Nội có những sản phẩm nào gặp khó khăn trong quá trình thương mại hóa?
Giáo sư Lê Anh Tuấn: Đại học Bách khoa Hà Nội có một số sản phẩm nghiên cứu có tiềm năng thương mại hóa nhưng trên thực tế thì cơ bản chưa thực hiện được, kết quả sản phẩm đó hoặc chậm triển khai dẫn tới mất dần tính thị trường và bị lãng quên, hoặc tự khẳng định chỗ đứng trên thị trường bằng nỗ lực của tác giả.
Một thí dụ về phần mềm diệt virus do sinh viên Đại học Bách khoa Hà Nội phát triển và trở thành một sản phẩm nổi tiếng ở Việt Nam, mang lại giá trị lớn cho xã hội trong thời gian vừa qua. Sản phẩm này ở thời điểm khoảng 20 năm trước nếu không được tách khỏi đại học thì rất khó để phát triển ở quy mô mà chúng ta nhìn thấy do thiếu cơ chế định giá, thiếu cơ chế chia sẻ lợi ích công tư khi thành lập doanh nghiệp khởi nguồn.
Chấp nhận để sản phẩm được tách khỏi đại học ở thời điểm đó có thể coi là một giải pháp duy nhất để sản phẩm có cơ hội ra thị trường nhưng nếu có cơ chế phù hợp thì sản phẩm đó không chỉ mang thương hiệu Bách khoa Hà Nội mà còn tạo giá trị lớn hơn trong việc tạo dựng hệ sinh thái cho các sản phẩm tiếp theo.
Block Funding và Sandbox: Trao quyền để thúc đẩy đổi mới sáng tạo
Phóng viên: Trong các đề xuất của Đại học Bách khoa Hà Nội, Giáo sư kiến nghị thí điểm cơ chế Block Funding và Sandbox, đồng thời phân bổ ngân sách trực tiếp cho các đại học nghiên cứu trọng điểm. Giáo sư có thể giải thích rõ hơn vì sao những cơ chế này là cần thiết và sẽ giúp tháo gỡ những vướng mắc trong nghiên cứu, đổi mới sáng tạo?
Giáo sư Lê Anh Tuấn: Cơ chế Block Funding - cấp kinh phí theo gói nhiệm vụ, chuyển trực tiếp đến đơn vị thực hiện thay vì qua các cấp trung gian. Đối với cơ chế này, đơn vị chủ trì được chủ động triển khai thực hiện theo chiến lược ưu tiên, chủ động điều chỉnh giữa các hạng mục chi mà không cần phải xin phép cơ quan quản lý về sự điều chỉnh này; cơ quan quản lý kiểm soát qua kết quả nghiên cứu và thông qua trách nhiệm giải trình của tổ chức chủ trì.
Có thể nói rằng đây chính là cơ chế rút ngắn được tất cả các khâu trung gian trong quản lý hành chính và dựa hoàn toàn vào năng lực thực thi của tổ chức chủ trì.
Hiện nay, ngoài các chương trình, nhiệm vụ được quản lý bởi Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (đã phân bổ trực tiếp tài chính tới các tổ chức chủ trì, Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan quản lý), các dạng đề tài, nhiệm vụ khác vẫn chủ yếu đang được quản lý theo cơ chế cũ, xét duyệt đề xuất nhiệm vụ từ năm trước, thông qua đề cương nghiên cứu chi tiết ở năm tiếp theo, làm giảm tính thời sự của đề tài.
Ngoài ra, Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia cũng chỉ mở 2 đợt nhận hồ sơ nghiên cứu cơ bản mỗi năm nên vẫn còn mang tính kế hoạch. Nếu việc tiếp nhận hồ sơ quanh năm thì sẽ rút ngắn hơn nữa thời gian từ khi hình thành ý tưởng đến triển khai thực hiện.
Sandbox là cơ chế thử nghiệm công nghệ, sản phẩm, dịch vụ hoặc mô hình kinh doanh mới trong một phạm vi, thời gian và điều kiện được kiểm soát, trước khi áp dụng hoặc thương mại hóa rộng rãi. Bên cạnh việc đầu tư thị trường hóa sản phẩm, quá trình hoàn thiện công nghệ, thử nghiệm sản phẩm mới đòi hỏi các bước triển khai trong điều kiện các quy chế, quy định, tiêu chuẩn liên quan chưa được cơ quan có thẩm quyền ban hành.
Trong trường hợp này cần hình thành một cơ chế thử nghiệm có kiểm soát vừa tạo điều kiện cho sản phẩm sớm được hoàn thiện và đưa vào sử dụng rộng rãi, vừa hạn chế rủi ro nếu có trong phạm vi được kiểm soát.
Cần cơ chế minh bạch để tháo gỡ "điểm nghẽn" định giá tài sản nghiên cứu
Phóng viên: Liệu Đại học Bách khoa Hà Nội có thể mở ra một mô hình để cả nước cùng hưởng lợi khi những cơ chế này được đưa vào thực tế?
Giáo sư Lê Anh Tuấn: Hoàn toàn có thể. Đại học Bách khoa Hà Nội có đủ năng lực nghiên cứu, bề dày sản phẩm và động lực để nhận vai trò thử nghiệm chính sách. Nhiều khi chỉ cần tháo gỡ trọn vẹn một trường hợp là mở ra lời giải cho hàng loạt trường hợp tương tự.
Cơ chế như Block Funding hay Sandbox nên bắt đầu từ một vài đơn vị đủ năng lực, làm thật, vướng đâu sửa đó, rồi chuẩn hóa thành mô hình chung. Đại học Bách khoa Hà Nội sẵn sàng đi trước và chịu trách nhiệm về kết quả - bởi tự chủ luôn đi kèm trách nhiệm giải trình.
Nói cách khác, thay vì chờ một cơ chế hoàn hảo cho tất cả rồi mới triển khai, nên cho phép một vài đơn vị làm trước để tạo tiền lệ tốt. Một con đường được khai thông sẽ là một lối mở cho cả một hệ sinh thái.
Phóng viên: Theo Giáo sư, cần làm gì để doanh nghiệp và các tổ chức chuyên nghiệp có thể tham gia hiệu quả hơn vào hoạt động định giá tài sản nghiên cứu?
Giáo sư Lê Anh Tuấn: Sản phẩm nghiên cứu khoa học có đặc thù rất khác hàng hóa thương mại. Hàng thương mại đã có thị trường, có sản phẩm tương đương để so sánh. Còn kết quả nghiên cứu nhiều khi chưa có tiền lệ; giá trị của nó là giá trị tiềm năng, phụ thuộc vào việc sau này có thương mại hóa được hay không. Vì thế rất khó áp cùng một khuôn định giá.
Do đặc thù đó, cần nới cơ chế để việc định giá linh hoạt hơn và cho phép doanh nghiệp, các tổ chức chuyên nghiệp tham gia nhiều hơn. Đương nhiên, đơn vị làm chức năng định giá công nghệ phải đáp ứng những điều kiện, tiêu chuẩn nhất định, tương tự các trung tâm đăng kiểm, và quy trình phải công khai, minh bạch để tổ chức nào đủ năng lực đều tham gia được.
Về lâu dài, cần hình thành một hệ thống các tổ chức định giá công nghệ chuyên nghiệp - như cần tư vấn pháp lý thì thuê văn phòng luật sư, cần định giá sản phẩm nghiên cứu thì có đơn vị chuyên nghiệp đảm nhận. Chỉ khi đó, việc chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu mới thực sự được thúc đẩy.
Xin cảm ơn Giáo sư Lê Anh Tuấn!