Tạo không gian đủ rộng, an toàn cho doanh nghiệp tư nhân phát triển. (Ảnh có sử dụng yếu tố AI)
Tạo không gian đủ rộng, an toàn cho doanh nghiệp tư nhân phát triển. (Ảnh có sử dụng yếu tố AI)

Tạo không gian đủ rộng, an toàn cho doanh nghiệp tư nhân tự lớn

Trả lời phỏng vấn của Báo Nhân Dân về kết quả một năm triển khai thực hiện Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, ông Bùi Anh Tuấn, Cục trưởng Phát triển Doanh nghiệp tư nhân và Kinh tế tập thể cho rằng, nếu chỉ có cơ chế hỗ trợ nhiều hơn, doanh nghiệp tư nhân Việt Nam sẽ không thể lớn lên. Nhưng họ sẽ tạo được kỳ tích khi được trao nhiều không gian phát triển hơn. Do đó, Nhà nước cần chuyển từ tư duy quản lý sang kiến tạo phát triển; từ việc hỗ trợ theo khả năng của Nhà nước sang khơi thông nguồn lực và tạo không gian để doanh nghiệp phát triển bằng chính năng lực của mình.

tit-1-final.png

Phóng viên: Thưa ông, chúng ta nói nhiều về mục tiêu tiếp sức cho khối doanh nghiệp tư nhân để phát triển nội lực, đồng thời đủ sức cạnh tranh sòng phẳng trên sân chơi quốc tế trong 5 năm tới. Nhưng thực tế, “cái thiếu” lớn nhất của doanh nghiệp đôi khi không nằm ở các ưu đãi. Trọng tâm cải cách của Bộ Tài chính trong giai đoạn 2026-2030 sẽ tập trung vào nút thắt nào để những chính sách ưu đãi này thực sự chạm được tới doanh nghiệp một cách nhanh nhất?

Ông Bùi Anh Tuấn: Với trọng tâm của chính sách trong giai đoạn 2026-2030, cần phải có cái nhìn tổng quát để hiểu rằng doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp tư nhân, mong muốn lớn nhất của họ không phải là được ưu đãi và ưu tiên nhiều hơn. Điều họ cần nhất là một môi trường kinh doanh thực sự thông thoáng và bình đẳng. Một nền tảng thể chế được vững chắc, ổn định và nhất là một không gian phát triển đủ rộng và đủ an toàn để họ có thể phát triển.

Nghị quyết 68-NQ/TW (Nghị quyết 68) đã khẳng định: Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, không chỉ là sự thay đổi về tư duy phát triển, mà mệnh lệnh cải cách đối với các cơ quan hoạch định và thực thi chính sách.

Theo tôi, giai đoạn 2026-2030, trọng tâm không phải là có thêm nhiều chính sách, mà là cụ thể hóa và thực thi các chính sách một cách hiệu quả, thực chất, đưa chính sách đi vào cuộc sống, biến thành những sản phẩm cụ thể mà doanh nghiệp cảm nhận được và được thụ hưởng một cách thực sự.

anh-da-resize.jpg
Nghị quyết 68-NQ/TW đã tạo ra những chuyển biến tích cực trong khối doanh nghiệp tư nhân, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Trên cơ sở đó, cần tập trung thực hiện những nội dung sau:

Thứ nhất, tập trung cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Chính phủ ban hành Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2026 của Chính phủ xác định rõ mục tiêu cụ thể về cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Trong Nghị quyết đã chỉ ra tổng thể các nhiệm vụ, chỉ tiêu, giải pháp đồng thời phân giao chi tiết các nhiệm vụ cho các bộ, ngành, địa phương cần phải triển khai để cải thiện môi trường kinh doanh, thực hiện đúng mục tiêu phát triển kinh tế xã hội theo Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026.

Nghị quyết số 02 trong giai đoạn 2026-2030 sẽ tiếp tục hướng đến mục tiêu nhất quán đó là xây dựng một môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch, ổn định, bình đẳng, dễ thực thi, chi phí thấp. Đây cũng là nội dung được triển khai theo Nghị quyết 68 đã đặt ra.

Thứ hai, thực hiện quyết liệt, thực chất, hiệu quả công cuộc cải cách hành chính, cắt giảm thủ tục đầu tư kinh doanh.

Thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 14 Quyết định phê duyệt phương án cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh. Đáng chú ý, trong hơn 1 tháng qua đã triển khai chiến dịch mạnh mẽ về cắt giảm điều kiện kinh doanh thông qua 11 Nghị quyết về nội dung này.

Mục tiêu dự kiến sẽ cắt giảm 53% thời gian và 54,6% chi phí tuân thủ. Việc này cần được thực hiện quyết liệt, triệt để đồng thời cần cơ chế kiểm tra giám sát thực thi để những cải cách đó đi vào cuộc sống, tránh tình trạng cắt điều kiện kinh doanh này nhưng lại được ẩn ở chỗ khác. Chúng ta đã cắt giảm nhiều điều kiện kinh doanh và cần yêu cầu các bộ ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn để thực hiện quản lý nhà nước, tránh tình trạng điều kiện kinh doanh được ẩn trong các tiêu chuẩn, quy chuẩn.

quote-1-chuan.png

Thứ ba, cần thực hiện chính sách tháo gỡ điểm nghẽn và tiết giảm chi phí doanh nghiệp, tăng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp.

Theo thống kê cho thấy 93,5% khoản vay của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay phải có tài sản bảo đảm trong khi đó hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và vừa không có tài sản hoặc tài sản rất ít. Đây chính là mâu thuẫn mà chúng ta cần phải tháo gỡ. Nghị quyết 68 đã đưa ra một định hướng rất lớn tức là tăng cường sự cho vay dựa trên dữ liệu, dựa trên dòng tiền, dựa trên chuỗi giá trị, và phương án thẩm định hoạt động kinh doanh.

Đối với những vấn đề liên quan đến đất đai, tiếp cận mặt bằng sản xuất kinh doanh, Nghị quyết 68 cũng đã nêu rõ. Lần đầu tiên trong nghị quyết của Bộ Chính trị đã ấn định mỗi tỉnh phải dành tối thiểu trung bình 5% hoặc 20ha trên diện tích khu công nghiệp địa phương để dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Điều này cũng đã được Quốc hội thể chế hóa bằng Nghị quyết 198. Với những nội dung này phải đưa vào thực thi một cách thực chất làm sao để doanh nghiệp thực sự tiếp cận được tín dụng, thực sự tiếp cận được đất đai hoặc các chi phí khác.

1783951307654-3862381639465693753-3862381639465693753-74ab8242cd82b2443409f8f01ecc08bf.jpg

Nội dung thứ tư, song song với triển khai chính sách hỗ trợ phải bảo đảm sự phát triển bền vững và lâu dài của doanh nghiệp. Đó là thúc đẩy các chính sách khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, hỗ trợ ESG, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi kép. Nếu các doanh nghiệp thực hiện những điều này càng làm sớm thì chúng ta càng có lợi thế cạnh tranh. Đây là con đường tất yếu phải đi. Chúng ta sẽ biến trách nhiệm tuân thủ trở thành lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.

Hiện nay, chúng tôi đang xây dựng chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, sẽ sửa đổi để thay đổi toàn diện luật doanh nghiệp nhỏ và vừa từ đối tượng, nội dung đến phương thức hỗ trợ. Nghị quyết 68 có nhấn mạnh đến việc mở rộng sự tham gia của khu vực tư nhân vào các dự án quan trọng quốc gia. Quốc hội, Chính phủ đã khẩn trương thể chế hóa ngay từ kỳ họp thứ 9 với việc sửa đổi hệ thống pháp luật liên quan đến cơ chế đặt hàng, cơ chế đấu thầu, cơ chế chỉ định thầu. Thực tế chứng minh trong 3 đợt khởi công vừa qua, có 564 dự án lớn trị giá khoảng 5,14 triệu tỷ đồng thì có khoảng 74,6% là vốn của doanh nghiệp tư nhân.

Chúng ta đã mở toang các cơ chế để doanh nghiệp tư nhân tham gia và luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ sửa đổi để làm sao hỗ trợ doanh nghiệp một cách có trọng tâm trọng điểm theo từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp.

tit-2.png

Phóng viên: Thưa ông/bà, cộng đồng doanh nghiệp thời gian qua ghi nhận nỗ lực cắt giảm điều kiện kinh doanh, nhưng họ cũng phản ánh một thực tế đáng ngại: Các điều kiện bị cắt giảm dường như không mất đi, mà đang "ẩn hình" dưới dạng các quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn chuyên ngành khắt khe hơn. Với vai trò quản lý, cơ quan chịu trách nhiệm sẽ có cơ chế rà soát và kiểm soát quyền lực ban hành văn bản như thế nào trong thời gian tới?

Ông Bùi Anh Tuấn: Cải cách điều kiện kinh doanh là nội dung được triển khai quyết liệt trong thời gian vừa qua. Đây là nội dung rất trúng và đúng đem lại cải cách lớn giúp tháo gỡ rào cản, giảm ma sát vốn cho doanh nghiệp. Tuy nhiên rất cần một cơ chế giám sát thực thi để tránh cắt giảm những thứ không cần thiết và những điều kiện cần thiết vẫn phải giữ và làm minh bạch rõ ràng.

Vấn đề là những thứ được cắt giảm có ẩn xuống thành quy chuẩn, tiêu chuẩn hay không? Cần sự rà soát đánh giá và kiểm soát ban hành các quy chuẩn, tiêu chuẩn. Đồng thời cần có sự phản ánh, phản hồi từ phía cộng đồng doanh nghiệp - những người trực tiếp thực thi các quy định đó.

quote-2-chuan.png

Phóng viên: Thưa ông, số liệu 6 tháng qua cho thấy một nghịch lý: Số doanh nghiệp gia nhập thị trường tăng rất mạnh nhờ xung lực từ Nghị quyết 68, nhưng tỷ lệ rút lui lại chiếm tới 89% số gia nhập. Cứ 10 doanh nghiệp bước vào thì có gần 9 doanh nghiệp bước ra. Ông đánh giá thế nào về con số trên trong bối cảnh hiện nay để tìm giải pháp hỗ trợ cho doanh nghiệp?

Ông Bùi Anh Tuấn: Trong 6 tháng qua, chúng ta có khoảng 170.000 doanh nghiệp thành lập mới hoặc quay trở lại hoạt động, đồng thời có khoảng 151.000 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường (chia ra khoảng 89%). Nhìn nhận về việc này, có thể thấy, Nghị quyết 68 đã tạo ra xung lực, khí thế mới cho môi trường kinh doanh và doanh nghiệp gia nhập thị trường. Từ tháng 5/2025 đến nay, số doanh nghiệp gia nhập thị trường diễn ra hết sức sôi động, trung bình hơn 18.000 doanh nghiệp/tháng, cao gấp khoảng 1,6 lần so với giai đoạn 2021-2025. Song song đó, quá trình sàng lọc, cạnh tranh khốc liệt diễn ra khiến một bộ phận doanh nghiệp phải rời thị trường (151.000 doanh nghiệp).

anh-resize-2.jpg
Nghị quyết 68 đã tạo ra xung lực, khí thế mới cho môi trường kinh doanh và doanh nghiệp gia nhập thị trường.

Chúng tôi đã phân tích kỹ các doanh nghiệp rút lui này và có những tổng kết như sau.

Có khoảng 60% doanh nghiệp lựa chọn hình thức tạm ngừng kinh doanh có thời hạn (dưới 1 năm). Đây là những doanh nghiệp chưa rời bỏ thị trường ngay mà tạm thời "đóng băng" để tái cơ cấu, tìm kiếm cơ hội. Nếu không tìm kiếm được cơ hội kinh doanh mới, họ mới chuyển sang giải thể (rút lui hoàn toàn). Còn những doanh nghiệp tái cơ cấu kinh doanh sẽ quay trở lại thị trường.

Thực tế 6 tháng đầu năm, chúng ta đã có gần 60.000 doanh nghiệp từ đang tạm ngừng đã quay trở lại hoạt động. Như vậy, phần lớn doanh nghiệp chưa rời bỏ thị trường mà vẫn mong muốn tái cơ cấu và nuôi khát vọng, nuôi ý chí kinh doanh.

anh.jpg

Khoảng 75% doanh nghiệp rút lui hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ (không phải sản xuất), là những ngành như thời trang, ăn uống… đây là ngành có đặc trưng "ra dễ, vào dễ", mang tính thường xuyên và linh hoạt, cộng thêm sự cạnh tranh từ thương mại điện tử làm thay đổi thói quen mua sắm làm doanh nghiệp thuộc lĩnh vực này có biến động.

Hơn 60% số doanh nghiệp rút lui này có tuổi đời dưới 5 năm. Họ là những doanh nghiệp mới thành lập, có thể ý tưởng kinh doanh chưa chuẩn bị kỹ nên gặp va vấp giai đoạn đầu nên họ rút lui. Nhưng khi có cơ hội, họ có thể mở doanh nghiệp khác để quay lại.

Khoảng 65% doanh nghiệp rút lui có quy mô vốn nhỏ (dưới 10 tỷ). Qua chạy dữ liệu liên thông (đăng ký kinh doanh, thuế, hải quan), tỉ lệ doanh nghiệp trực tiếp phát sinh doanh thu trong năm liền kề trước khi đóng cửa là rất thấp. Nghĩa là họ đã chuẩn bị tâm thế để rời thị trường. Số liệu cụ thể được công bố công khai hàng tháng trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

Về tỷ lệ doanh nghiệp gia nhập/rút lui khỏi thị trường, tại các quốc gia phát triển như Anh và Mỹ tỷ lệ này là 1,1. Ở châu Âu là 1,0, còn của Việt Nam hiện nay đang là 1,18.

Cơ quan quản lý nhà nước và các đơn vị liên quan sẽ luôn đồng hành và tiếp tục thực hiện cải cách môi trường đầu tư kinh doanh để các doanh nghiệp “ở lại” nhiều hơn với thị trường.

tit-3.png

Phóng viên: Khu vực kinh tế tư nhân được xác định là một động lực quan trọng của nền kinh tế độc lập, tự chủ. Ở góc độ quản lý vĩ mô, chính sách của chúng ta sẽ đồng hành và định hướng thế nào để doanh nghiệp tư nhân xứng đáng là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế?

Ông Bùi Anh Tuấn: Động lực lớn nhất là đầu tư, chúng ta có bệ đỡ là không gian phát triển mới với 10 Nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, đặc biệt là bộ tứ nghị quyết bao gồm Nghị quyết 57/NQ-TW về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; Nghị quyết 59/NQ-TW về hội nhập; Nghị quyết 66/NQ-TW về thể chế và Nghị quyết 68/NQ-TW về doanh nghiệp. Về vấn đề này, Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng đã nói: Nếu doanh nghiệp có niềm tin họ sẽ tận dụng được.

Chỉ có doanh nghiệp mới biến khoa học công nghệ, ý tưởng khoa học công nghệ trở thành các sản phẩm tiện ích cho xã hội. Biến hội nhập trở thành thị trường. Biến thể chế trở thành bệ đỡ. Và từ đó vươn lên trở thành một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Tôi nghĩ là một câu rất ngắn gọn nhưng thể hiện rõ được niềm tin vào bệ đỡ của thị trường.

Quan điểm của tôi là thời gian của doanh nghiệp phải dành chính cho sản xuất kinh doanh thay vì đi giải quyết các thủ tục hành chính.

Ông Bùi Anh Tuấn

Cục trưởng Phát triển Doanh nghiệp tư nhân và Kinh tế tập thể

Thứ hai là niềm tin về một công cuộc cải cách thể chế đang diễn ra hết sức toàn diện và đồng bộ. Chưa bao giờ có một cuộc tổng rà soát hệ thống pháp luật diễn ra toàn thể và đồng bộ như hiện nay. Chúng ta hy vọng và tin rằng sẽ xử lý được các điểm nghẽn, từ đó khơi thông được các nguồn lực cho doanh nghiệp và giảm áp lực cho dòng tiền và dòng vốn, giúp các doanh nghiệp nhanh chóng đi vào sản xuất kinh doanh. Quan điểm của tôi là thời gian của doanh nghiệp phải dành chính cho sản xuất kinh doanh thay vì đi giải quyết các thủ tục hành chính.

Thứ ba, có niềm tin vào sự đồng hành của hệ thống các cấp chính quyền. Với sức ép phát triển, sức ép tăng trưởng, các địa phương luôn đồng hành để gỡ rối cho doanh nghiệp. Tôi nghĩ rằng, với niềm tin như vậy, đó sẽ là động lực rất lớn để cho doanh nghiệp có thể phát triển.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!

Có thể bạn quan tâm

Ông Trần Văn Chín, Chủ tịch Arobid.com và ông Kim Joung Tae CEO CHUNGYONG23 Corp, thực hiện nghi thức ra mắt trung tâm số CHUNGYONG23-Powered by Arobid.com. (Ảnh: A.T)

Ra mắt trung tâm số thúc đẩy kết nối giao thương Việt Nam-Hàn Quốc

Chiều 29/8, tại Thành phố Hồ Chí Minh, trong khuôn khổ "Ngày hội Xúc tiến giao thương-Cánh cửa kết nối thị trường Hàn-Việt 2026", CHUNGYONG23 Corp. chính thức ra mắt trung tâm số CHUNGYONG23 Global Digital Trade & Investment Hub-Powered by Arobid.com và công bố chuỗi Triển lãm Thương mại số Việt-Hàn 2026-2027.

EVNNPT sửa chữa, bảo dưỡng thiết bị để bảo đảm vận hành an toàn, liên tục, ổn định dịp nghỉ lễ 2/9. (Ảnh: EVNNPT)

Chủ động phương án, bảo đảm truyền tải điện an toàn, liên tục dịp lễ 2/9

Nhằm bảo đảm cung cấp điện an toàn, liên tục, ổn định phục vụ các hoạt động chính trị, kinh tế-xã hội và nhu cầu sinh hoạt của nhân dân trong dịp Quốc khánh 2/9, Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia (EVNNPT) đã triển khai đồng bộ các phương án vận hành, tăng cường kiểm tra, giám sát và bảo vệ an toàn hệ thống truyền tải điện.

Sở hữu trí tuệ đang trở thành một trong những nền tảng quan trọng của tăng trưởng kinh tế. (Ảnh: SONG ANH)

Từ bảo hộ quyền đến tạo giá trị cho công nghiệp văn hóa và sáng tạo

Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP, năm 2045 quy mô sản phẩm công nghiệp văn hóa số chiếm hơn 80%. Trong quá trình đó, quyền sở hữu trí tuệ cần được nhìn nhận như một bộ phận của hạ tầng thể chế, bảo đảm cho tài sản sáng tạo được định danh, bảo vệ, giao dịch và tạo ra dòng tiền.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Phan Sơn Mai Hồng Đăng tham quan mô hình của Hợp tác xã lúa Mẹ Phan Lâm. (Ảnh: Thanh Hải)

Sức sống mới trên miền cao nguyên

Nhiều xã miền núi tỉnh Lâm Đồng đang đẩy mạnh các chương trình hỗ trợ, tư vấn giúp đồng bào dân tộc thiểu số phát triển nông nghiệp phù hợp với thế mạnh của địa phương và nhu cầu thị trường. 

Người dân mua sắm hàng hóa tại một hộ kinh doanh nhỏ lẻ trên địa bàn Thành phố Hà Nội (Ảnh: THÀNH ĐẠT)

Tạo thuận lợi, giúp hộ kinh doanh tăng trưởng

Việt Nam hiện có hơn 6 triệu hộ kinh doanh đang hoạt động, tạo việc làm cho khoảng 10 triệu lao động, góp phần quan trọng vào thu ngân sách nhà nước và mạng lưới phân phối hàng hóa, dịch vụ. Thế nhưng thay vì mở rộng, hiện nay một số hộ kinh doanh lại chọn duy trì quy mô hoặc thu hẹp hoạt động.

Chủ tịch Ủy ban chứng khoán Nhà nước Việt Nam trao đổi với lãnh đạo S&P Dow Jones Indices.

Tăng cường hợp tác phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam

Trong khuôn khổ chương trình công tác ở Hoa Kỳ, tại New York, Chủ tịch Ủy ban chứng khoán Nhà nước Vũ Thị Chân Phương có buổi làm việc với lãnh đạo S&P Dow Jones Indices (S&P DJI), trao đổi về sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam, các giải pháp cải thiện khả năng tiếp cận thị trường của nhà đầu tư quốc tế.