Lũng Cú - nơi địa đầu Tổ quốc

Tôi đang đứng bên cột mốc 422, thuộc thôn Séo Lủng, xã Lũng Cú, huyện Ðồng Văn, tỉnh Hà Giang, trên đường kinh tuyến 105 độ đông, 23 độ 22 phút vĩ độ bắc, nơi được ví như mái nhà của đất nước, hay như có người coi đó là vầng trán kiêu hãnh của Tổ quốc còn đẫm mồ hôi, sương gió...

Gần trưa, nắng đổ nghiêng trên sườn non, ong óng như mật ong bạc hà, nương ngô lá xanh sẫm, lay động, kéo một vệt dài từ đỉnh núi xuống tận bờ vực, dưới đó là dòng Nho Quế đang ì ầm mạch nguồn về xuôi. Tôi lặng lẽ dạo quanh Cột mốc, rồi đề nghị mọi người chụp ảnh làm kỷ niệm, bởi tôi biết rất khó khăn khi trở lại vùng đất này, phần vì công việc, phần vì sức khỏe, tuổi tác, rồi còn đường đất xa xôi, cách trở, vì phải qua nhiều cổng trời, vực sâu, sông suối. Tôi tìm một mỏm đá cao, đứng ngắm nhìn núi non, làng bản thật lâu, và cố gắng lưu giữ trong tâm khảm, suy nghĩ, tình cảm của mình về hình ảnh địa đầu Tổ quốc. Bởi với mọi người Việt Nam, mỗi khi nhắc đến Lũng Cú, trong lòng lại dâng lên cảm xúc mãnh liệt. Và hôm nay chúng tôi gọn gàng khăn áo, đứng thành hàng ngang, nghiêm trang như những người lính, cúi đầu chào Cột mốc Tổ quốc. Tôi nhặt một viên đá ba cạnh, bỏ vào túi xách để làm kỷ niệm. Trên đường, người lính trẻ quê ở Nghệ An tâm sự với tôi: 'Năm trước cháu cũng lấy hòn đá ở chân cột mốc, vào dịp nghỉ phép, cháu mang về đặt bên bàn thờ Tổ, cầu mong cho đất nước bình yên phát triển, mọi người no ấm hạnh phúc'.

Cho đến nay tên gọi Lũng Cú vẫn có nhiều giả thiết khác nhau. Lũng Cú có thể là 'long cư' (rồng ở, động rồng), hoặc là 'lũng ngô' bởi cánh đồng Thèn Pả trồng nhiều ngô. Lại có giả thiết, Lũng Cú là tên người đứng đầu một dòng họ Lô Lô, đã có công khẩn hoang, bảo vệ và phát triển vùng đất. Nhưng nhiều người cho rằng, Lũng Cú có lẽ bắt đầu từ chữ 'long cổ', nghĩa là: Trống Rồng. Theo sử sách vào thời Tây Sơn, Hoàng đế Quang Trung đã cho đặt ở nơi biên ải hiểm trở này một chiếc trống lớn, thời đó tiếng trống là phương tiện thông tin nhanh nhất, vị trí đặt trống đồng của nhà vua là trạm biên phòng tiền tiêu Lũng Cú bây giờ. Thái  úy Lý Thường Kiệt cũng có lần hội quân lớn ở địa điểm này, nhằm biểu dương sức mạnh và ý chí bảo vệ bờ cõi...

Lũng Cú là vùng quê lâu đời của đồng bào Mông và Lô Lô; diện tích tự nhiên 3.460 ha; 503 hộ; 3.051 nhân khẩu. Bà con ở Lũng Cú chủ yếu trồng ngô trên nương rẫy và làm ruộng bậc thang cấy lúa. Ðồng bào Mông, Lô Lô vẫn bảo tồn nghề dệt truyền thống với các công đoạn se lanh, dệt vải, rèn đúc lưỡi cày và làm ngói âm dương để lợp nhà. Các năm trước, khi nhắc tới Lũng Cú, hình ảnh ấn tượng trong lòng du khách là đường giao thông xuyên qua những dãy núi đá tai mèo cheo leo hiểm trở, mùa đông kéo dài, trời lạnh buốt và có tuyết rơi, có lúc nhiệt độ xuống dưới âm 5 độ C. Trong sự nghiệp đổi mới, với các chủ trương, chính sách của Ðảng, Nhà nước đối với các đồng bào vùng cao nói chung và bà con các dân tộc thiểu số ở Lũng Cú nói riêng, Lũng Cú đã có nhiều đổi thay. Từ năm 2001, đường từ Ðồng Văn lên Lũng Cú được nâng cấp, trải nhựa. Dòng điện quốc gia đã thắp sáng mảnh đất địa đầu; cột cờ Tổ quốc đã được dựng trên đỉnh Núi Rồng. Lá cờ rộng 54 m2, tung bay kiêu hãnh giữa bầu trời biên cương, như ngọn lửa bất diệt, in bóng xuống mặt hồ Lô Lô xanh biếc. Nhìn từ xa, cột cờ như một ngọn tháp, có hình dáng cột cờ Hà Nội, cao 33,15 m. Trong đó, phần thân cột 20,25 m, phần cán cờ 12,9 m. Ðường kính ngoài thân cột 3,8 m, bố trí 135 bậc lên đỉnh cột. Thân cột được thiết kế theo hình bát giác, ốp đá gra-nit, gắn tám hình trống đồng và tám bức phù điêu đá xanh, minh họa các giai đoạn, qua từng thời kỳ lịch sử của đất nước, cũng như con người và phong tục tập quán của đồng bào các dân tộc Hà Giang. Nhà lưu niệm được thiết kế theo mẫu nhà của đồng bào các dân tộc, có tổng diện tích 230 m2. Ngoài ý nghĩa là vùng đất địa đầu thiêng liêng của Tổ quốc, Lũng Cú còn được xếp vào loại Tổ hợp di sản cấp quốc tế, khi cao nguyên đá Ðồng Văn được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới, trong mạng lưới công viên địa chất toàn cầu (GGN).

Gió thổi ào ào đưa chân chúng tôi xuống núi, hoa dại nở tràn hai bên lối mòn. Lũng Cú vào mùa này, ngoài các loài hoa không tên, còn có hoa trẩu và hoa tầm xuân trắng ngần, xôn xao bên vách vúi, ngỡ như hàng ngàn cánh bướm quyến rũ. Vì độ dốc lớn nên đất đai ở đây thường bạc màu, đồng bào vẫn gọi nôm na là 'đất già, đất nhạt'. Diện tích đất hoang hóa ở Lũng Cú còn nhiều, nên chọn cây gì cho thích hợp, rút ngắn thời gian thu hoạch, đem lại hiệu quả kinh tế là điều cần phải tính toán. Do vậy xã Lũng Cú đang đẩy nhanh việc trồng rừng trên những mảnh đất còn lổn nhổn đá và sỏi. Chúng tôi tạt vào ngôi trường mầm non nghỉ chân, cũng là lúc các em vừa hết tiết học. Chừng mười em cả trai lẫn gái chạy nhảy tung tăng, nói cười ồn ã trên khoảng sân trường bằng phẳng. Cô giáo trẻ Vừ Thị Mỷ 23 tuổi, người con của bản Séo Lủng, gương mặt rạng rỡ, tiếp chúng tôi ở góc hành lang trường. Mỷ bảo: 'Ở vùng cao hiện giờ đã được đầu tư, trường lớp khang trang, tiện nghi đầy đủ. Trước đây bàn viết cho học sinh là những tấm gỗ thải đóng thẳng xuống đất, hoặc mấy cây bương ghép lại làm ghế cho các em ngồi, mái lợp mục nát, mưa thì dột ướt, lạnh lẽo, nay thì khác rồi'. Nhìn ngôi trường tươm tất với lũ trẻ cười đùa vô tư. Tôi mừng cho Mỷ, mừng cho sự nghiệp giáo dục miền núi đang có sự thay đổi to lớn.

Qua nhiều biến cố của lịch sử, hơn 50 hộ người Mông ở Séo Lủng vẫn trụ vững, đoàn kết giúp đỡ nhau lúc tắt lửa tối đèn. Các Chương trình 134, 135 của Chính phủ được tích cực thực hiện, đã làm cho bộ mặt Séo Lủng thay đổi hẳn. Hầu hết mái nhà dân đều lợp phi-brô xi-măng, nhà nào cũng có bể nước ăn, còn có một bể nước công cộng ở giữa bản lúc nào cũng đông người. Ngô thu hoạch từ năm trước treo đầy trên gác bếp và ngoài hiên nhà. Nhiều gia đình còn làm chuồng nuôi bồ câu, có nhiều nhà chim én tự về làm tổ, tiếng chim non đòi ăn, tiếng hót gọi bạn của lũ chim líu lo nghe thật vui tai, ngoài ra đồng bào còn nuôi ong lấy mật. Ðể tự nâng cao đời sống và  tăng thu nhập, đồng bào biết kết hợp gieo trồng: ngô giống mới cho năng suất cao, và tam giác mạch, đậu tương, đậu răng ngựa, rau quả các loại, đàn bò, dê, gà, lợn... Trưởng thôn Sùng Chìa Na, dân tộc Mông 42 tuổi, tâm sự với tôi: 'Hiện giờ từ Lũng Cú lên Séo Lủng, con đường liên thôn dài hơn một km đã được nâng cấp, trải nhựa, nên việc đi lại của người dân thuận lợi. Nhưng người dân Séo Lủng vẫn mơ ước, mở rộng thêm con đường này cho xe ô-tô lên bản, có cả bãi đỗ xe, nhà lưu niệm nhỏ thôi, để du khách lên với Séo Lủng, cảm nhận đầy đủ hơn phần đất thượng cùng Tổ quốc, và cũng từ đây du khách có thể nhìn ngắm được đầu nguồn sông Nho Quế chảy vào đất Việt, có điều kiện thăm cột mốc 422, điểm cao nhất của Tổ quốc Việt Nam'. Tôi cười và nói với Sùng Chìa Na: 'Mơ ước ấy đã nằm trong tầm tay, vấn đề là thời gian mà thôi'. Chia tay Séo Lủng mảnh đất chót vót đầy kiêu hãnh ấy, tôi chợt nhớ mấy câu thơ của mình viết được sau lần đầu tiên lên với Séo Lủng từ những năm 80 của thế kỷ 20: Tôi ngắm nghìn mê đắm một ban mai - Séo Lủng ơi còn đâu cao hơn thế - Những kho báu nằm im trong ruột đá - Ðang hừng lên lồng lộng dưới mặt trời... Buổi chiều, Trạm trưởng đồn tiền tiêu Lũng Cú là Ly Mý Dình 31 tuổi, dùng xe máy đưa tôi đi Tả Giao Khâu, cách trụ sở xã sáu km. Tả Giao Khâu là một trong chín thôn bản của Lũng Cú, có 101 hộ đồng bào Mông sinh sống, cấy lúa trên ruộng bậc thang, trồng ngô hốc đá. Trưởng thôn Thò Chúng Chơ kể với chúng tôi rằng: 'Tình trạng khan hiếm nước ở đây cơ bản  được giải quyết. Toàn thôn không có hộ đói. Do biết áp dụng kỹ thuật canh tác, chăn nuôi, cho nên lúa, ngô đạt năng suất cao, đàn gia súc như bò, ngựa, dê,... ngày một đông hơn. Tình hình an ninh biên giới được giữ vững. Có điện lưới quốc gia, đêm đêm Nhà văn hóa thôn trở thành điểm hẹn của đồng bào, mọi người đến xem chương trình truyền hình của VTV rất đông. Thanh niên nam nữ, thường xuyên tổ chức văn nghệ, hoặc giao lưu với các thôn bản khác'.

Mặt trời vừa tắt nắng, sương trắng đã phủ mờ trên các đỉnh núi. Lũng Cú chầm chậm vào đêm, bầu trời cuối tháng trong veo, lấp lánh triệu triệu vì sao. Có thể vì Lũng Cú ở độ cao 1.800 m so với mặt nước biển mà tôi có cảm giác, với bàn tay là chạm tới đỉnh trời. Gió thổi ràn rạt, khiến lá cờ Tổ quốc trên đỉnh Núi Rồng réo lên như có bão... Ở nơi địa đầu vắng bóng cờ Tổ quốc dù chỉ một ngày là điều không thể. Vì đây là chủ quyền thiêng liêng của quốc gia, dân tộc... Ðêm Lũng Cú chìm sâu, im vắng vô cùng. Khi tiếng trống đồng từ phía Lô Lô Chải vọng về, cứ ngỡ như hồn sông núi ngàn năm tụ lại. Chợt nhớ qua câu chuyện với trưởng thôn Lô Lô Chải là Vàng Dỉ Giai, tôi được biết, Lô Lô Chải là thôn văn hóa, nổi tiếng không chỉ ở Ðồng Văn, mà cả tỉnh Hà Giang, ở đây đồng bào còn gìn giữ hầu như nguyên vẹn bản sắc văn hóa của tổ tiên, ông bà để lại như hát dân ca, múa, tấu trống đồng, kiến trúc nhà ở, y phục, đồ trang sức của phụ nữ. Hiện giờ, Lô Lô Chải có 96 hộ bà con là người dân tộc Lô Lô, 14 hộ dân tộc Mông. Không phân biệt dân tộc, cùng chung tay xây dựng làng bản, đồng bào sống chan hòa, cần cù lao động, nên đời sống đỡ khó khăn hơn trước rất nhiều.

Trên đường về xuôi, tôi mang theo nỗi nhớ về một vùng quê trùng trùng núi đá, đầy huyền thoại và bí ẩn, cùng với đặc sản chè shan, rượu mật ong, thắng cố thơm say đậm đà, xứ sở của đào phai, hoa lê tuyết trắng và náo nức buổi chợ phiên. Tiếng đàn môi tâm tình gọi bạn, tiếng khèn Mông quyến rũ người tình, tiếng trống đồng âm vang bên bếp lửa nồng đượm đêm dài... Xuống hết cổng trời Thẩm Mã, gặp ngã ba Viềng, phần đất huyện Yên Minh, tôi ngoái lại phía Vần Chải, núi non chất ngất, miên man một vùng đất trời Tổ quốc. 

Có thể bạn quan tâm

Giới thiệu giá trị văn hóa đặc trưng của cộng đồng các dân tộc tại Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam. (Ảnh: BTC)

Giới thiệu văn hóa Chăm Islam giữa lòng Thủ đô

Trong tháng 10, Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đoài Phương, Hà Nội) tổ chức chuỗi hoạt động văn hóa, du lịch với chủ đề “Sắc hương đại ngàn” quảng bá những giá trị văn hóa đặc trưng, tiêu biểu của cộng đồng các dân tộc. Điểm nhấn là giới thiệu không gian văn hóa Chăm Islam tỉnh An Giang. 

Vở diễn mang đến sự gặp gỡ ấn tượng giữa nghệ thuật và công nghệ. (Ảnh: Ban tổ chức)

“Sơn Thần Thủy Quái” - Sự gặp gỡ của nghệ thuật xiếc và công nghệ

Công diễn từ ngày 25/9 tại Hà Nội, vở kịch xiếc “Sơn Thần Thủy Quái” liên tục lấp kín hơn 1.200 chỗ ngồi tại Rạp Xiếc Trung ương. Sức hút ấy không chỉ đến từ những màn trình diễn kỹ thuật xiếc đặc sắc, mà còn ở cách công nghệ được kết hợp với chất liệu văn hóa dân gian để mở rộng ngôn ngữ biểu đạt của sân khấu.

Vương Thị Trang (bên trái) học nghề dệt vải, nhuộm chàm từ mẹ và các chị em trong bản.

Giữ sắc chàm bản địa trên trang phục truyền thống

Bao đời nay, sắc chàm đen huyền trên trang phục truyền thống là một vẻ đẹp riêng của người Nùng An - một nhánh của dân tộc Nùng ở Cao Bằng. Khi nghề dệt vải, nhuộm chàm đứng trước nguy cơ mai một, dự án Nùng Indigo của những người trẻ Cao Bằng đang nỗ lực tạo thêm không gian để gìn giữ và lan tỏa các giá trị văn hóa dân tộc.

Đại diện Ban tổ chức, Ban Giám khảo chụp ảnh kỷ niệm cùng các thí sinh tham gia cuộc thi. (Ảnh: Khánh Lan)

Hơn 700 thiếu nhi Việt Nam và quốc tế tham gia Cuộc thi vẽ tranh “Em yêu Hà Nội - Thành phố vì hòa bình”

Cuộc thi vẽ tranh quốc tế góp phần quảng bá hình ảnh Hà Nội - Thành phố vì hòa bình, Thành phố sáng tạo, “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại - Hạnh phúc”, đồng thời giáo dục thiếu nhi về tình yêu quê hương, đất nước, tình yêu hòa bình và tinh thần đoàn kết, hữu nghị giữa thiếu nhi Việt Nam với bạn bè quốc tế.

Di tích quốc gia đặc biệt Tháp Pô Klong Garai (phường Đô Vinh) - nơi diễn ra nghi thức chính của Lễ hội Katê hằng năm. (Ảnh: NGUYỄN TRUNG)

Khánh Hòa: Sẵn sàng vui đón Lễ hội Katê 2026

Những ngày đầu tháng 10, không khí đón Lễ hội Katê đã rộn ràng khắp các làng Chăm ở phía nam tỉnh Khánh Hòa. Từ những con đường làng rực rỡ sắc màu đến các đền, tháp cổ kính, mọi công việc chuẩn bị đang khẩn trương hoàn tất. 

Kể chuyện phố phường và con người Hà Nội qua triển lãm “Mơ về nơi bắt đầu”

Kể chuyện phố phường và con người Hà Nội qua triển lãm “Mơ về nơi bắt đầu”

Ba họa sĩ, ba phong cách nghệ thuật, nhưng có một điểm chung là tình yêu và những miền ký ức gắn với Hà Nội. Triển lãm chung mang tên “Mơ về nơi bắt đầu” tại Trung tâm Nghệ thuật Area 75 – Art & Auction là nơi các họa sĩ Bùi Tuấn Thanh, Đỗ Doãn Châu và Doãn Hoàng Lâm kể chuyện về con người và thành phố qua hội họa.

Hàng chục nghìn người dân Lai Châu tham dự đêm nhạc Viettel Y-Fest vào tối 3/10 tại Quảng trường nhân dân tỉnh Lai Châu.

Một đêm nhạc, nhiều điểm chạm ở Lai Châu

Chương trình Viettel Y-Fest 2026 lần đầu tiên được tổ chức tại Lai Châu không chỉ mang đến một đêm nhạc sôi động, mà còn mở ra không gian kết nối văn hóa, cảnh quan, ẩm thực và sản phẩm địa phương, góp phần lan tỏa hình ảnh Lai Châu đến với nhiều du khách.

Nghệ sĩ Nhân dân Đồng Văn Minh biểu diễn đàn tre lắc tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. (Ảnh nhân vật cung cấp)

Không gian âm nhạc dân tộc

Theo đề án được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt thì đến năm 2031 Dàn nhạc Dân tộc quốc gia Việt Nam được định hướng trở thành một “không gian nghệ thuật âm nhạc truyền thống Việt Nam”, phục vụ các hoạt động văn hóa trong nước và quốc tế.

Sự kiện nằm trong chuỗi hoạt động của Lễ hội văn hóa thế giới tại Hà Nội lần thứ hai, diễn ra từ ngày 1-4/10 với chủ đề “Hội tụ di sản-Kiến tạo tương lai”. (Ảnh: MINH DUY)

[Ảnh] Gặp gỡ văn hóa, giao lưu nhân dân và kết nối quốc tế tại "Sắc màu năm châu"

Chiều 3/10, phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm trở thành không gian giao lưu văn hóa sôi động khi hàng nghìn nghệ sĩ, nghệ nhân và người dân cùng tham gia Lễ hội đường phố “Sắc màu năm châu”. Những trang phục truyền thống, tiết mục nghệ thuật và vũ điệu sôi nổi đến từ nhiều quốc gia đã tạo nên một bức tranh văn hóa đa dạng giữa lòng Thủ đô.

Một buổi dạy đàn Chapi của nghệ nhân xã Phước Hà, tỉnh Khánh Hòa cho học sinh Trường Phổ thông Dân tộc bán trú trung học cơ sở Phước Hà. (Ảnh: NGUYỄN TRUNG)

Khánh Hòa: Học sinh Raglai nối dài tiếng đàn Chapi giữa núi rừng

Từ năm học 2026-2027, đàn Chapi được đưa vào giảng dạy tại Trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở Phước Hà, xã Phước Hà, tỉnh Khánh Hòa. Qua từng nhịp đàn còn vụng về của học trò, âm thanh mộc mạc của núi rừng đang được đánh thức, góp phần gìn giữ và trao truyền di sản văn hóa của đồng bào Raglai cho thế hệ mai sau.

Tổ đình Thiền Tôn đang lưu giữ nhiều di sản tư liệu Hán Nôm cổ. (Ảnh: PHÙNG QUỐC ANH)

Đánh thức tư liệu cổ từ di sản Phật giáo Huế

Giữa sương sớm núi Thiên Thai, tiếng chuông Tổ đình Thiền Tôn ngân lên từ không gian đã hơn ba thế kỷ. Trong ngôi cổ tự gắn với dòng thiền Liễu Quán, những mộc bản, kinh sách và tư liệu Hán Nôm vẫn âm thầm lưu giữ dấu tích Phật giáo Huế, vừa chứa đựng những lớp ký ức về lịch sử, văn hóa và văn hiến vùng đất Cố đô.

Đội biểu diễn Taekwondo quốc gia trực thuộc Hiệp hội Taekwondo Hàn Quốc. (Ảnh: Ban tổ chức cung cấp)

Ngày văn hóa Việt Nam-Hàn Quốc tại Phú Quốc năm 2026

Hướng tới kỷ niệm 35 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Hàn Quốc (1992-2027) và Hội nghị cấp cao APEC 2027 tại đặc khu Phú Quốc, Đại sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam và Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang đồng chủ trì tổ chức chương trình “Ngày văn hóa Việt Nam-Hàn Quốc tại Phú Quốc năm 2026” từ ngày 3-4/10.

Các đại biểu và diễn giả tại Hội thảo. (Ảnh: Ban tổ chức)

Đưa di sản, tài nguyên văn hóa trở thành tài sản sở hữu trí tuệ

Hội thảo “Culture Tech 2026: From Culture to IP” trong khuôn khổ iTECH EXPO 2026 đã đặt ra những gợi mở về việc đưa di sản, tài nguyên văn hóa trở thành những tài sản sở hữu trí tuệ mang giá trị kinh tế cao, theo định hướng của Nghị quyết 80-NQ/TW, chuyển văn hóa thành nguồn lực, đóng góp vào phát triển kinh tế.