Logistics xanh hướng tới các mục tiêu bền vững

Một yếu tố quan trọng của quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh là xây dựng được chuỗi cung ứng xanh. Trong đó, logistics xanh là mắt xích quan trọng để “xanh hóa” chuỗi cung ứng, hướng tới lộ trình phát triển bền vững. Trước bối cảnh người tiêu dùng ngày càng ưa chuộng các sản phẩm thân thiện môi trường và xu hướng chuyển đổi sang nền kinh tế xanh đang diễn ra trên toàn cầu, logistics xanh cũng ngày càng được doanh nghiệp quan tâm và đầu tư một cách chuyên nghiệp.
Cảng container quốc tế Lạch Huyện, thành phố Hải Phòng do Công ty TNHH Cảng container quốc tế Tân Cảng Hải Phòng (Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn) quản lý và vận hành. (Ảnh: TRẦN HẢI)
Cảng container quốc tế Lạch Huyện, thành phố Hải Phòng do Công ty TNHH Cảng container quốc tế Tân Cảng Hải Phòng (Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn) quản lý và vận hành. (Ảnh: TRẦN HẢI)

Theo Báo cáo logistics Việt Nam 2022, logistics xanh là hoạt động logistics hướng tới các mục tiêu bền vững, thân thiện với môi trường, giảm đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực, từ đó đạt tới sự cân bằng bền vững giữa các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường.

Gặp nhiều thách thức

Hướng tới mục tiêu phát triển logistics xanh, trong quá trình vận hành, Tổng Công ty cổ phần Bưu chính Viettel (Viettel Post) đã cho áp dụng mô hình “bưu cục di động”. Các “bưu cục di động” này được thiết kế trên xe tải, được ứng dụng công nghệ chia sẻ dữ liệu để kết nối giữa các bưu cục với nhau cũng như bưu tá với bưu cục.

Hàng hóa của người gửi sẽ được chia chọn, phân tuyến trực tiếp ngay trên xe và thực hiện quy trình xuất nhập kho qua ứng dụng di động để nhanh chóng xử lý các công đoạn tiếp theo. Với mô hình này, Viettel Post đã cắt giảm được các khâu trung gian, giảm 15% quãng đường vận chuyển và số lượng xe trung chuyển. Nhờ đó, hạn chế tần suất hoạt động của xe, giảm lượng khí thải ra môi trường; đồng thời, hạn chế luân chuyển hàng hóa giúp tối giản việc bọc các lớp nilon chống sốc cho bưu phẩm, giảm lượng chất thải ra môi trường.

Tại Việt Nam hiện nay, ngày càng nhiều doanh nghiệp bắt đầu nhận thức được vai trò logistics xanh trong phát triển bền vững để có định hướng thúc đẩy các hoạt động này. Theo khảo sát của Ban Biên tập “Báo cáo logistics Việt Nam 2022”, có tới 73,2% số doanh nghiệp được hỏi cho biết logistics xanh đã được đưa vào trong chiến lược kinh doanh.

Tuy nhiên, cũng có tới 66,2% số doanh nghiệp logistics chưa có hệ thống quản lý môi trường đạt tiêu chuẩn, cộng thêm các thách thức nội tại như khả năng về tài chính, cách thức tổ chức quản lý hay năng lực khai thác năng lượng xanh,… đang ảnh hưởng khiến việc triển khai hệ thống logistics xanh tại doanh nghiệp còn nhiều hạn chế. Bên cạnh đó, theo phản ánh của doanh nghiệp, cơ sở hạ tầng logistics tại Việt Nam mặc dù đã được đầu tư nhưng chưa đủ hiện đại và đồng bộ, gây ảnh hưởng không nhỏ đến kế hoạch triển khai và hiệu quả thực hiện các giải pháp logistics xanh của doanh nghiệp.

Đơn cử, số lượng các phương tiện vận tải quá nhiều, trong khi năng lực của hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông vận tải còn yếu, tất yếu dẫn đến ùn tắc. Khi ùn tắc xảy ra, các phương tiện vận tải dừng lại trên đường và vẫn tiêu thụ năng lượng, dẫn tới việc sử dụng không hiệu quả nhiên liệu cũng như thải lượng khí thải nhiều hơn ra môi trường.

Ngoài ra, với hiện trạng cơ sở vật chất và tài chính hiện tại, phần lớn doanh nghiệp logistics Việt Nam cũng chưa thể triển khai ngay những công cụ quản lý hay các yếu tố công nghệ hiện đại và tiên tiến nhất vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. Hạn chế trong ứng dụng khoa học công nghệ cũng đang trở thành thách thức lớn tác động tới phát triển logistics xanh tại doanh nghiệp.

Xu hướng tất yếu

Trong bối cảnh khách hàng ngày càng quan tâm đến hàng hoá, dịch vụ thân thiện với môi trường, việc phát triển logistics xanh đang trở thành xu hướng tất yếu. Hiện nhiều doanh nghiệp logistics toàn cầu khi thuê ngoài dịch vụ cũng yêu cầu tiêu chuẩn khí thải đối với các doanh nghiệp logistics thứ ba. Vì vậy, các doanh nghiệp Việt Nam cần nâng cao nhận thức về vai trò phát triển logistics xanh trong việc tối ưu hóa hoạt động sản xuất, kinh doanh. Việc thực hiện tốt hoạt động logistics xanh không chỉ là trách nhiệm mà còn giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh, bảo đảm sự phát triển bền vững.

Các chuyên gia kiến nghị, đối với các doanh nghiệp chưa có mục tiêu phát triển logistics xanh trong chiến lược kinh doanh cần nhanh chóng xây dựng, bổ sung chiến lược để phù hợp định hướng phát triển xanh và bền vững trong hoạt động sản xuất, kinh doanh hiện nay. Đối với các doanh nghiệp đã quan tâm đầu tư hay thậm chí xác định mục tiêu phát triển logistics xanh, cần thường xuyên rà soát các nội dung chiến lược và tình hình thực hiện để có điều chỉnh phù hợp, đúng thực tiễn.

Theo đó, dưới áp lực của hệ thống cơ sở hạ tầng logistics hiện tại, các doanh nghiệp cần thay đổi phương tiện vận tải cho phù hợp cơ sở hạ tầng sẵn có; ưu tiên chuyển sang sử dụng các phương tiện vận tải mới, thân thiện với môi trường. Doanh nghiệp cũng cần chủ động ứng dụng công nghệ tiên tiến vào hoạt động để thúc đẩy sự phát triển sạch và hiệu quả, thí dụ như sử dụng công nghệ GPS quản lý thông tin, định vị trong vận tải; tăng cường phát triển công nghệ lạnh trong quản lý kho bãi nhằm giải quyết các vấn đề kỹ thuật và thiết bị liên quan đến bảo quản nhiệt, lạnh và tiết kiệm năng lượng cho hệ thống kho bãi;…

Theo khảo sát, khó khăn lớn nhất đối với doanh nghiệp Việt Nam hiện nay để thực hiện “xanh hóa” logistics là vấn đề tài chính. Vậy nên các doanh nghiệp cần tranh thủ sự ủng hộ, khuyến khích, ưu đãi của Nhà nước và các tổ chức để tận dụng có hiệu quả cơ sở hạ tầng logistics, tạo lợi thế cạnh tranh trong sản xuất, vận hành và vận tải. Ở chiều ngược lại, Chính phủ và các bộ, ngành liên quan cần xem xét có nhiều chính sách hơn nữa nhằm khuyến khích, thúc đẩy doanh nghiệp hướng đến phát triển logistics xanh; sử dụng cơ chế về thuế và luật để tạo động lực, giảm chi phí cho doanh nghiệp như khuyến khích sử dụng các nguồn năng lượng thay thế trong vận tải đường bộ (không phải xăng dầu), thúc đẩy thay đổi phương thức vận tải theo mô hình vận tải đa phương thức, xây dựng tín dụng carbon để bảo vệ và kiểm soát lượng khí thải nhà kính,… Bên cạnh đó, cần quy hoạch và xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm xanh hóa các hoạt động logistics, tiếp tục cải tiến cơ sở hạ tầng theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng, tạo thuận lợi cho vận tải đa phương thức.

Quan trọng nhất là tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý đồng bộ cho hoạt động logistics xanh, tránh chồng chéo giữa các cơ quan bộ, ngành; nhất là các quy định về kiểm soát ô nhiễm không khí, điều chỉnh phát thải khí thải, hạn chế lượng khí CO2 từ các phương tiện vận tải để thúc đẩy doanh nghiệp lựa chọn các phương tiện đạt tiêu chuẩn về phát thải và tiếng ồn.

Cùng với đó là một loạt các quy định, chính sách khác như quy định về bằng cấp, chứng chỉ đào tạo bắt buộc cho người điều khiển phương tiện về tiết kiệm năng lượng, an toàn và xanh hóa môi trường; chính sách quy định về bao bì xanh, rác thải xanh đối với các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh kho hàng. Nếu không có các quy định về kiểm soát ô nhiễm môi trường, việc doanh nghiệp tự giác triển khai logistics xanh sẽ khó thực hiện vì họ thường ưu tiên các biện pháp tối ưu nguồn doanh thu hơn là phương án thân thiện với môi trường.

Có thể bạn quan tâm

(Ảnh: THÀNH ĐẠT)

Giá vàng ngày 4/5: Giá vàng trong nước tăng trở lại trong khi giá thế giới giảm

Giá vàng thế giới hôm nay (4/5) tiếp tục giảm xuống giao dịch dưới mốc 4.600 USD/ounce trong bối cảnh kim loại quý này đang chịu áp lực từ lạm phát, môi trường lãi suất cao và căng thẳng địa chính trị. Trong nước, giá vàng đồng loạt tăng ngược chiều thế giới; giá vàng SJC bán ra ở mức 166,6 triệu đồng/lượng.

Những năm qua, người dân trồng dứa ở Nghệ An phấn khởi khi dứa được mùa được giá.

Nghệ An nâng cao giá trị sản phẩm dứa

Tận dụng lợi thế đất đai, khí hậu và kinh nghiệm canh tác, tỉnh Nghệ An đang đẩy mạnh phát triển cây dứa theo hướng hàng hóa quy mô lớn, gắn với công nghiệp chế biến sâu và liên kết tiêu thụ.

Kỳ nghỉ Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và 30/4-1/5, tổng sản lượng vận chuyển của toàn thị trường hàng không đạt 1,68 triệu khách và 27,45 nghìn tấn hàng hóa.

Tổng sản lượng thị trường ngành hàng không đạt 1,68 triệu khách dịp nghỉ lễ

Ngày 3/5, Cục Hàng không Việt Nam cho biết, kỳ nghỉ Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và 30/4-1/5 (từ ngày 25 đến 27/4 và 30/4 đến 3/5), tổng sản lượng vận chuyển của toàn thị trường hàng không đạt 1,68 triệu khách và 27,45 nghìn tấn hàng hóa, tương ứng tăng 2,2% về sản lượng hành khách và tăng 7,2% về hàng hóa so với cùng kỳ năm trước.

Tình hình đăng ký doanh nghiệp bốn tháng đầu năm 2026 so cùng kỳ năm 2025. (Nguồn: Cục Thống kê)

Bốn tháng đầu năm 2026, cả nước có 41,6 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động

Số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cung cấp, bốn tháng đầu năm 2026, cả nước có 41,6 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 8,6% so với cùng kỳ năm 2025), nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong bốn tháng năm 2026 lên hơn 119,4 nghìn doanh nghiệp, tăng 32,8% so với cùng kỳ năm 2025.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng tư tăng 3,31% so với tháng 12/2025 và tăng 5,46% so với cùng kỳ năm trước. (Ảnh: minh họa)

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng tư tăng 0,84%

Cục Thống kê, Bộ Tài chính cho biết chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng tư tăng 0,84% so với tháng trước chủ yếu do giá gas trong nước tăng theo giá nhiên liệu thế giới, giá dịch vụ ăn uống ngoài gia đình và vật liệu xây dựng tăng do chi phí nguyên liệu đầu vào, vận chuyển tăng.

Chế biến cá xuất khẩu. (Ảnh: nhandan.vn)

Bốn tháng đầu năm, cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 7,11 tỷ USD

Trong tháng tư, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 94,32 tỷ USD, tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 26,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 344,17 tỷ USD, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm trước; cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu.

Nông dân xã Đức Minh, tỉnh Hà Tĩnh trồng đậu xanh thành công theo mô hình được Trung tâm Khuyến nông quốc gia hỗ trợ. (Ảnh: BẢO HÂN)

Hiệu quả từ chương trình, dự án khuyến nông

Những năm qua, nhiều chương trình, dự án khuyến nông thực hiện thành công đã mở ra hướng sản xuất mới, hiệu quả ở các địa phương. Trên thực tế, mô hình sản xuất thí điểm áp dụng công nghệ cao, quy trình canh tác tiên tiến… giúp giảm chi phí đầu vào, tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, nâng cao thu nhập cho người dân.