Khôi phục năng lực thiết kế các công trình thủy lợi vùng đồng bằng sông Hồng

Trải qua thời gian dài hoạt động, công nghệ thiết kế, thi công các công trình thủy lợi trước đây còn lạc hậu, hệ thống kênh mương chưa hoàn chỉnh, bên cạnh đó, việc thường xuyên chịu tác động của thiên tai cũng đã ảnh hưởng lớn đến độ ổn định của các công trình thủy lợi.
Trạm bơm Đức Xương vừa được Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Hải Dương nâng cấp.
Trạm bơm Đức Xương vừa được Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Hải Dương nâng cấp.

Nhiều công trình trước đây thiết kế chỉ tưới cho lúa chưa thay đổi kịp công năng để đáp ứng phục vụ nền nông nghiệp đa dạng và hiện đại…, đã làm ảnh hưởng lớn đến năng lực phục vụ của các hệ thống thủy lợi. Do đó, việc nâng cấp hệ thống thủy lợi để khôi phục năng lực thiết kế, phục vụ cho sản xuất và đời sống dân sinh là nhu cầu bức thiết hiện nay.

Đồng bằng sông Hồng là vùng có nhiều hệ thống sông liên tỉnh nhất trong cả nước. Hầu hết các hệ thống thủy lợi lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình đã được xây dựng từ rất lâu, nhiều công trình trong số đó có “tuổi thọ” lên đến hơn 60 năm. Trong khi đó, những tác động như biến đổi khí hậu ngày một cực đoan, khó lường; tốc độ đô thị hóa; chuyển đổi mục đích cây trồng, biến đổi lòng dẫn trên sông..., đang khiến nhiều công trình thủy lợi không còn đáp ứng được nhu cầu thực tiễn, thậm chí có nguy cơ gây mất an toàn hoặc lãng phí trong đầu tư.

Khi mực nước sông bị hạ thấp

Từ số liệu quan trắc về địa hình lòng dẫn các sông vùng hạ du sông Hồng-sông Thái Bình cho thấy, rất nhiều sông chính đã bị xói trong khoảng gần 20 năm trở lại đây. Cụ thể, sông Hồng: Đoạn từ Sơn Tây đến Hà Nội hiện tượng xói chiếm xu thế chủ đạo, mức độ xói khá lớn, có mặt cắt lên đến 20-25%; tại mặt cắt Sơn Tây, từ năm 2001 đến năm 2009, đáy sông Hồng hạ thấp khoảng 2m.

Sông Đuống từ ngã 3 Hồng-Đuống đến Phả Lại, với chiều dài 56km, có 31 mặt cắt, được đo đạc trong 3 năm 2000, 2006 và 2013 cho thấy, toàn bộ sông bị xói mạnh và liên tục, so với năm 2000 cao độ trung bình đáy sông vào năm 2013 bị hạ thấp 327cm. Sông Luộc có 33 mặt cắt ngang được khảo sát trong 4 năm 2000, 2006, 2007 và 2008 cho thấy toàn tuyến bị xói ở mức độ trung bình, cao độ trung bình đáy sông năm 2008 hạ thấp 35cm so với năm 2000.

Như vậy có thể thấy, mặc dù dòng chảy mùa kiệt trên hệ thống sông Hồng được bổ sung nhờ có sự điều tiết của các hồ chứa lớn ở thượng du, nhưng mực nước trên hệ thống sông Hồng nói chung và tại Sơn Tây nói riêng liên tục giảm từ năm 2000 trở lại đây. Đến nay, mực nước tại Sơn Tây đã giảm đến mức nghiêm trọng, làm cho nhiều công trình thủy lợi trên các sông đoạn thượng du trạm thủy văn Hà Nội không thể hoạt động, kể cả trong trường hợp các hồ chứa ở thượng du đã xả nước hết công suất. Nhiều địa phương thời gian qua đã phải tăng cường rất nhiều nguồn lực để lắp thêm các trạm bơm lưu động mới có thể lấy được nước.

Từ thực tế vận hành xả nước cho thấy, việc duy trì mực nước sông Hồng đạt +2,2m tại Hà Nội ngày càng khó khăn, còn tại Sơn Tây thì hiện nay không thể đạt được mực nước 5,0m kể cả trong điều kiện các nhà máy thủy điện đã phát hết công suất. Do vậy, trong các đợt xả, mực nước tại các công trình không đạt mực nước thiết kế, dẫn đến nhiều công trình không lấy được nước, một số công trình lấy được nhưng rất kém.

Lượng nước cần xả từ các hồ chứa để phục vụ gieo cấy vụ đông xuân hiện nay là rất lớn (khoảng 5 tỷ mét khối) chiếm xấp xỉ 30% dung tích hữu ích của các hồ chứa, trong khi đó nhu cầu dùng nước của các ngành đang ngày càng tăng gây nên tình trạng căng thẳng về nước trên lưu vực. Đối với ngành điện, việc xả nước trong tháng 1 và tháng 2 là thời kỳ nhu cầu dùng điện thấp, giá trị kinh tế của nước cũng thấp; đến các tháng mùa hè, khi nhu cầu dùng điện cao, giá điện cao thì lại không còn nước để phát điện, gây thiếu điện.

Viện trưởng Viện Quy hoạch Thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đỗ Văn Thành cho biết, từ kinh nghiệm của thế giới, cũng như ở Việt Nam cho thấy, việc hạ thấp đáy sông sau các hồ, đập lớn trên dòng chính các sông là hiện tượng phổ biến, không thể đảo ngược. Việc phục hồi hoàn toàn đáy sông về điều kiện như trước khi xây dựng các đập là không thể.

Bằng các giải pháp bù đắp phù sa cho các đoạn sông ở hạ lưu các đập chỉ có thể phục hồi 1 phần, tuy nhiên giải pháp này cần nhiều thời gian và nguồn lực. Do vậy, trong giai đoạn ngắn hạn và trung hạn, cần có giải pháp để thích ứng với việc hạ thấp đáy sông trên hệ thống sông Hồng trong đó có giải pháp về công trình là hết sức cần thiết. Hiện quy hoạch các giải pháp đã có, tuy nhiên cần được các cấp, ngành, địa phương xem xét kỹ lưỡng để tiến hành xây dựng.

Giải pháp công trình

Hiện nay, toàn tỉnh Hải Dương có 1.246 trạm bơm gồm 2.364 máy bơm các loại với tổng công suất 3.752.017 m3/giờ. Trong đó, Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi tỉnh Hải Dương quản lý 279 trạm gồm 1.147 máy các loại. Trong những năm qua, tỉnh đã xây mới, cải tạo, nâng cấp được 80 trạm bơm. Các trạm bơm này đã phát huy hiệu quả, góp phần nâng cao năng lực tưới tiêu, phục vụ sản xuất nông nghiệp và dân sinh kinh tế trên địa bàn tỉnh ngày càng hiệu quả.

Tuy nhiên, hầu hết các trạm bơm còn lại đều được xây dựng từ những năm 60-70 của thế kỷ trước cho nên nhiều trạm đã quá cũ, xuống cấp, ảnh hưởng lớn đến năng lực phục vụ, điển hình là các trạm bơm tiêu lớn như: Ba Nữ, Cấp Tứ (huyện Thanh Hà), Vạn Thắng (thành phố Chí Linh), Ngọc Trì (huyện Nam Sách).

Trước đây, lũ các sông rất lớn, yêu cầu của công tác chống lũ, bão rất cao, nên một số lưu vực ở một số huyện không được đầu tư các cống dưới đê chống lũ như ở huyện Cẩm Giàng, Tứ Kỳ, Chí Linh, Ninh Giang, Thanh Hà. Những lưu vực này hết sức khó khăn, khi cần nước tưới thì phải lấy từ hệ thống kênh rất dài, nhiều thời điểm không đủ nước, nhất là khi đổ ải phục vụ gieo cấy vụ đông xuân và khi úng thì không tiêu kịp.

Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Anh Tuấn cho biết: Khi cần tiêu úng, chủ yếu tiêu bằng trạm bơm Lạc Dục ra sông Thái Bình, có thời điểm có thể tiêu tự chảy ra ngoài sông nhưng thời gian tiêu được rất ngắn, không hiệu quả và đi qua tuyến kênh dài, có vị trí xa đến 12km; khi tưới, nguồn nước lấy từ cống dưới đê sông Thái Bình nhưng tuyến rất xa, rất khó khăn. Theo tính toán, nếu có cống mới thì khi tiêu tận dụng thủy triều thấp, chỉ việc mở cống tự chảy, đỡ tốn rất nhiều tiền điện từ các trạm bơm; khi tưới, mở cống là tưới tự chảy cho 250ha và cung cấp nguồn nước để tưới 245ha lúa.

Giám đốc Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi tỉnh Hải Dương, Nguyễn Văn Bột cho biết, nếu những lưu vực này được đầu tư xây mới cống thì rất hiệu quả: Lấy nước tưới tự chảy qua cống từ sông ngoài rất thuận; khi tiêu chỉ cần mở cống những thời điểm sông ngoài nước thấp. Ngoài tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp ra thì tác dụng của những cống này giải quyết được nhiều vấn đề tổng thể như, tránh ô nhiễm nguồn nước, môi trường, nâng cao hiệu quả sản xuất hàng hóa.

Từ thực tế nêu trên cho thấy việc củng cố nâng cấp, hiện đại hóa hệ thống thủy lợi là hết sức cần thiết, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong sản xuất nông nghiệp, tiết kiệm thời gian, chi phí làm việc cũng như nâng cao năng suất sản lượng cây trồng. Việc củng cố, kiện toàn các tổ chức quản lý, khai thác cũng như triển khai hiệu quả cơ chế tài chính, cơ chế giá trong quản lý, khai thác công trình thủy lợi là hết sức cần thiết trong quá trình hiện đại hóa các công trình thủy lợi hiện nay.

Có thể bạn quan tâm

Người dân Thủ đô chủ động giữ gìn không gian sống. (Ảnh: Thanh Hậu)

Bảo đảm chất lượng môi trường cho người dân nông thôn Thủ đô

Từ những buổi tổng vệ sinh cuối tuần tạo ra những tuyến đường không rác… thành phố Hà Nội đang biến phong trào bảo vệ môi trường thành việc làm thường xuyên của cộng đồng. Khi người dân tham gia giữ gìn không gian sống, tiêu chí môi trường trong nông thôn mới không còn nằm trên giấy, mà trở thành một phần chất lượng sống.

Mở rộng kết nối, chia sẻ dữ liệu nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp thực hiện thủ tục xuất nhập khẩu. (Ảnh: CHQ)

Giữ thông suốt thủ tục xuất nhập khẩu sau phân cấp

Thẩm quyền giải quyết nhiều thủ tục xuất nhập khẩu đang chuyển về địa phương, kéo theo yêu cầu điều chỉnh cách tiếp nhận hồ sơ và trao đổi dữ liệu. Việc mở rộng Cổng thông tin một cửa quốc gia được tính toán theo hiện trạng từng hệ thống, nhằm kết nối đúng cơ quan xử lý, tránh trùng lặp và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.

Ảnh: THÀNH ĐẠT

Giá vàng ngày 6/10: Thế giới tiếp đà giảm, trong nước đi ngang phiên thứ 3 liên tiếp

Giá vàng thế giới hôm nay (6/10) tiếp tục giảm xuống mức 4.125,9 USD/ounce, trong bối cảnh kỳ vọng lãi suất duy trì ở mức cao tiếp tục hỗ trợ lợi suất trái phiếu Mỹ. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn SJC đi ngang phiên thứ 3 liên tiếp, niêm yết lần lượt ở mức 143,5 triệu đồng/lượng và 143 triệu đồng/lượng.

Trang sức bạc. (Ảnh: THU LAN)

Sáng 6/10, giá bạc thế giới giảm nhẹ

Sáng 6/10, giá bạc thế giới giảm nhẹ về ngưỡng hơn 60 USD/ounce trong bối cảnh đồng USD mạnh lên và lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ tăng vọt, lấn át các yếu tố hỗ trợ từ số liệu việc làm Mỹ yếu hơn dự kiến và khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) tăng lãi suất trong tháng 10 trở nên mờ nhạt.

Ảnh minh họa. (Ảnh: nhandan.vn)

Phát huy giá trị và uy tín Thương hiệu quốc gia Việt Nam

Qua 23 năm thực hiện, Chương trình Thương hiệu quốc gia Việt Nam đã khẳng định vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức toàn xã hội, nhất là của cộng đồng doanh nghiệp về vai trò của thương hiệu trong sản xuất, kinh doanh và hội nhập quốc tế. 

Công ty cổ phần Cảng quốc tế Nam Vân Phong (Khu kinh tế Vân Phong) đang chờ những quyết định về quy hoạch để mở rộng kho bãi và nâng khả năng tiếp nhận tàu lên 70.000DWT cập cảng.

Khơi thông động lực kinh tế biển

Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa vừa tổ chức hội nghị gặp mặt doanh nghiệp cảng biển, lắng nghe các kiến nghị để tỉnh tập trung tháo gỡ những “điểm nghẽn” nhằm đưa cảng biển và logistics trở thành động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế địa phương.

Các đại biểu trải nghiệm bên cây măng cụt 40 năm tuổi. (Ảnh: VĂN ÚT)

Cần Thơ chuyển đổi tư duy sản xuất nông nghiệp

Không chỉ làm ra nhiều nông sản, nông dân thành phố Cần Thơ đang đứng trước yêu cầu phải biết bán sản phẩm, xây dựng thương hiệu, ứng dụng công nghệ và gia tăng giá trị trên từng đơn vị diện tích. Chuyển từ tư duy “sản xuất nông nghiệp” sang “kinh tế nông nghiệp” đang trở thành hướng đi tất yếu để mang lại hiệu quả cao.

[Infographic] Chứng khoán ngày 5/10: VN-Index tăng 15,49 điểm, thanh khoản thị trường giảm

[Infographic] Chứng khoán ngày 5/10: VN-Index tăng 15,49 điểm, thanh khoản thị trường giảm

Ngày 5/10, VN-Index tăng 15,49 điểm (+0,89%) lên mức 1.753,20 điểm. Độ rộng trên HoSE nghiêng về tích cực với 155 mã tăng giá, 151 mã giảm giá và 49 mã giữ giá tham chiếu. Thanh khoản giảm, khối lượng giao dịch khớp lệnh giảm mạnh 29,7% so phiên trước. Khối ngoại tiếp tục bán ròng với giá trị bán 281,8 tỷ đồng trên HoSE.

Ảnh minh họa. (Nguồn: TTXVN)

Chứng khoán ngày 5/10: VN-Index tăng gần 16 điểm, VIC và VHM nâng đỡ thị trường

Phiên giao dịch ngày 5/10, sắc xanh lan tỏa trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Các mã VIC, VHM đóng góp đáng kể vào đà tăng của các chỉ số chính, trong khi thanh khoản suy giảm và khối ngoại tiếp tục bán ròng cho thấy dòng tiền vẫn có sự thận trọng. Chốt phiên, VN-Index tăng 15,49 điểm (+0,89%), lên mức 1.753,2 điểm.

Các doanh nghiệp khoa học-công nghệ gia tăng mạnh trong bối cảnh hiện nay. (Ảnh: CTV)

Hơn 223,9 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động 9 tháng năm 2026

Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế 9 tháng qua đạt hơn 5 triệu tỷ đồng, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung, số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động đạt hơn 223,9 nghìn doanh nghiệp, bình quân một tháng có 24,9 nghìn doanh nghiệp gia nhập thị trường.

Ảnh minh họa: THU LAN

Sáng 5/10, giá bạc thế giới tăng nhẹ

Sáng 5/10, giá bạc thế giới đảo chiều tăng lên ngưỡng hơn 61 USD/ounce giữa lúc số liệu việc làm của Mỹ thấp hơn dự báo làm giảm kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) tăng lãi suất. Trong nước, nhiều doanh nghiệp cũng điều chỉnh giá bạc tăng nhẹ theo cả 2 chiều mua-bán.