Hy hữu trường hợp trẻ mắc u tuyến thượng thận hai bên

Mới 14 tuổi, nhưng bé trai huyết áp cao liên tục, đã khám và điều trị nhiều nơi nhưng không thuyên giảm. Sau khi bị ngã xe, trẻ được phát hiện mắc u tuyến thượng thận hai bên. Đây là ca bệnh hiếm gặp tại cả Việt Nam và trên thế giới.
Bệnh nhi được can thiệp phẫu thuật thành công.
Bệnh nhi được can thiệp phẫu thuật thành công.

Ca bệnh hiếm gặp

Bé Q.Đ (14 tuổi, Nam Định) được phát hiện tăng huyết áp khi khám sức khỏe định kỳ ở trường. Sau đó gia đình cho cháu đi kiểm tra ở một bệnh viện địa phương và một bệnh viện tại Hà Nội đều được chẩn đoán là viêm cầu thận và được kê đơn thuốc về nhà điều trị. Nhưng sau 10 ngày tái khám huyết áp trẻ vẫn tăng cao, trẻ được chỉ định nhập viện nhưng tình trạng không thuyên giảm.

Một tuần sau, Q.Đ bị tai nạn giao thông, vào viện kiểm tra và được bác sĩ phát hiện khối u ở tuyến thượng thận hai bên kích thước khá lớn 6x7cm.

Ngày 4/5, trẻ được chuyển đến Trung tâm Nội tiết-Chuyển hóa-Di truyền và Liệu pháp phân tử, Bệnh viện Nhi Trung ương. Tại đây, trẻ được thực hiện các xét nghiệm chuyên sâu, siêu âm, chụp X-quang để xác định chính xác chẩn đoán về khối u.

Mặc dù rất bé, nhưng tuyến thượng thận lại đóng vai trò rất quan trọng. Tuyến thượng thận gồm 2 phần: Phần tủy thượng thận duy trì huyết áp và nhịp tim; Phần vỏ thượng thận bài tiết ra 3 loại hoocmon có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh trung gian chuyển hóa và đáp ứng miễn dịch, huyết áp, thể tích tuần hoàn, điện giải.

Đặc biệt, lớp giữa của vùng vỏ thượng thận tiết ra hoocmon sinh mệnh, có tác dụng chống stress, chống viêm, tham gia chuyển hóa đường, mỡ, protein. Lớp trong cùng của lớp vỏ có vai trò phát triển giới tính trong thời kỳ bào thai. Vì thế, các hoocmon ở tuyến thượng thận rất quan trọng để duy trì sự sống của con người.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Chí Dũng, Giám đốc Trung tâm Nội tiết-Chuyển hóa-Di truyền và Liệu pháp phân tử, Bệnh viện Nhi Trung ương cho biết, u tuyến thượng thận là một loại khối u hiếm gặp, ước tính chiếm khoảng 0,2-0,4% trong một trăm nghìn người mỗi năm, đối với trẻ em còn hiếm hơn nữa, chỉ chiếm 10% trong tổng số U thượng thận phát hiện được.Khối u cả hai bên lại càng cực kỳ hiếm hơn nữa, chỉ 10% của số trẻ em mắc bệnh.

"Mỗi năm, tại Bệnh viện Nhi Trung ương có khoảng 1-2 bệnh nhi điều trị về u tuyến thượng thận và bé Q.Đ này là ca đầu tiên chúng tôi gặp u tuyến thượng thận hai bên trong 20 năm trở lại đây”, bác sĩ Dũng cho hay.

Đối với u tuyến thượng thận một bên, Bệnh viện Nhi Trung ương đã tiến hành điều trị và phẫu thuật nhiều trường hợp, nhưng đối với khối u hai bên thì đây là lần đầu tiên và tính chất phức tạp sẽ vô cùng lớn.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Chí Dũng cũng chia sẻ thêm, nếu bệnh này chẩn đoán đúng và điều trị kịp thời trẻ có thể khỏi và có chất lượng cuộc sống bình thường nhưng nếu chẩn đoán và điều trị muộn người bệnh có thể tử vong.

Khi cắt bỏ hai khối u, khả năng cao phải cắt bỏ cả hai tuyến thượng thận. Việc cắt bỏ tuyến sinh mệnh rất dễ suy thượng thận cấp, rối loạn huyết động, rối loạn nhịp tim, rối loạn cân bằng chuyển hóa muối nước, mất khả năng chống đỡ của cơ thể với các stress… thậm chí dẫn đến tử vong.

8 giờ phẫu thuật cân não

Xác định rõ đây là ca bệnh hiếm gặp và quá trình điều trị có thể gặp nhiều diễn biến phức tạp, các khoa đã hội chẩn để tìm giải pháp tối ưu nhất bảo đảm phẫu thuật an toàn cho trẻ.

Một nguyên tắc quan trọng trước khi phẫu thuật cho bé Q.Đ là duy trì được huyết áp ổn định. Các bác sĩ đã điều trị trong một tháng trước phẫu thuật để đưa huyết áp trẻ về bình thường, nhằm hạn chế tối đa những biến động nguy hiểm về tăng huyết áp trong phẫu thuật.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Duy Hiền, Phó Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương, trực tiếp chỉ đạo ca phẫu thuật.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Duy Hiền, Phó Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương, trực tiếp chỉ đạo ca phẫu thuật.

Đóng vai trò rất quan trọng để ca mổ được diễn ra thuận lợi đó là việc nút tắt tĩnh mạch dẫn lưu khối u và động mạch nuôi dưỡng u bên trái và bên phải, nhằm giảm bài tiết catecholamin trực tiếp vào máu và giảm nguy cơ chảy máu ồ ạt trong quá trình phẫu thuật.

Theo Thạc sĩ, bác sĩ chuyên khoa II Lê Đình Công, Trưởng Đơn vị Điện quang can thiệp, Phó Trưởng khoa Chẩn đoán hình ảnh, ca bệnh này có tính chất phức tạp, các bác sĩ phải thực hiện can thiệp hai đường, đường tiếp cận động mạch và tĩnh mạch với mục tiêu nút tắt cuống mạch nuôi khối u và tắc tĩnh mạch dẫn lưu khối u hai bên nhằm hạn chế sự bài xuất ồ ạt hormone cathecholamine trực tiếp vào máu và hạn chế chảy máu trong quá trình phẫu thuật.

Sau can thiệp, huyết động bệnh nhi khá ổn định và ngay lập tức được chuyển sang phòng phẫu thuật để sẵn sàng cắt bỏ khối u.

Trưa ngày 15/5, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Duy Hiền, Phó Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương trực tiếp chỉ đạo ca phẫu thuật, cả ê-kíp đã nỗ lực hết sức để tiến hành cắt bỏ khối u cho trẻ an toàn tuyệt đối. Với sự phối hợp chặt chẽ, bài bản và chuẩn bị chu đáo giữa các chuyên khoa, cũng như tiên lượng về nguy cơ không mong muốn có thể xảy ra, ca mổ đã diễn ra thành công.

Bác sĩ chuyên khoa II Vũ Mạnh Hoàn, Trưởng khoa Ngoại Gan-Mật-Tuỵ, Phó Giám đốc Trung tâm Ngoại Tổng hợp chia sẻ: "Bệnh nhi được phẫu thuật nội soi nhằm giảm tối đa tổn thương, chúng tôi cắt hoàn toàn 2 khối u tuyến thượng thận. Song song với đó, cố gắng giữ lại một phần tuyến thượng thận bên phải. Trong khi mổ, các bác sĩ luôn hết sức thận trọng và tỉ mỉ từng thao tác, vì việc chạm vào khối u, rất dễ gây ra cơn tăng huyết áp kịch phát dẫn tới xuất huyết não, suy tim cấp, nhồi máu cơ tim”.

Khối u tuyến thượng thận được loại bỏ.

Khối u tuyến thượng thận được loại bỏ.

Sau phẫu thuật, bệnh nhi được chăm sóc đặc biệt trong phòng vô khuẩn tại Khoa Điều trị tích cực Ngoại khoa, Bệnh viện Nhi Trung ương, để kiểm soát các yếu tố nguy cơ như: rối loạn về huyết động, tụt huyết áp do đã cắt gần hết tuyến thượng thận; nguy cơ hạ đường huyết và rối loạn về điện giải (tăng-giảm Kali); chảy máu, nhiễm trùng sau mổ.

Toàn trạng bé Q.Đ sau mổ đều hoàn toàn ổn định, hiện tại bé đã tự thở, tỉnh táo, huyết áp trở về bình thường và mọi chỉ số đều rất tốt.

Người mắc u tuyến thượng thận có thể có các biểu hiện như: đau đầu, tăng huyết áp, hồi hộp đánh trống ngực, vã mồ hôi,.. nhưng thường rất mơ hồ và dễ bỏ sót nếu không được thăm khám lâm sàng kỹ lưỡng.

Thông thường, nếu có triệu chứng cao huyết áp, nhiều khả năng người bệnh sẽ được chẩn đoán viêm cầu thận, chỉ khi có nghi ngờ và làm thêm các xét nghiệm chuyên sâu, siêu âm mới phát hiện được. Do vậy, bên cạnh thăm khám sức khỏe định kỳ, khi trẻ có các triệu chứng huyết áp cao không thể kiểm soát bằng thuốc, gia đình nên đưa trẻ đến ngay bệnh viện để thăm khám, kiểm tra càng sớm càng tốt.

Có thể bạn quan tâm

Các đại biểu tham dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XVIII của Tổng hội Y học Việt Nam. (Ảnh: TRẦN MINH)

Tiếp nối khát vọng xây dựng nền y học Việt Nam ngày càng hiện đại, khoa học và nhân văn

Tổng hội Y học Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò là ngôi nhà chung của giới y học Việt Nam; đồng thời là nơi hội tụ trí tuệ của các thế hệ thầy thuốc; nơi các chuyên gia có thể chia sẻ tri thức...; và trên hết, là nơi cùng hướng tới một mục tiêu "Vì sức khỏe của nhân dân và vì sự phát triển của nền y học Việt Nam".

Bệnh nhân bị áp xe, nhiễm trùng muộn sau tiêm chất làm đầy. (Ảnh: BVCC)

Cảnh báo biến chứng muộn sau tiêm chất làm đầy

Trong 2 tháng qua, Khoa Phẫu thuật Tạo hình và Vi phẫu, Trung tâm Phẫu thuật Sọ mặt và Tạo hình, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 liên tiếp tiếp nhận 5 người bệnh bị áp xe vùng mông, vùng ngực, có tiền sử tiêm chất làm đầy từ 5-10 năm trước.

Các cơ quan, đoàn thể, tổ chức xã hội trên địa bàn Thành phố Hà Nội tham gia diễu hành hưởng ứng Ngày Thế giới phòng, chống bệnh dại. (Ảnh: MAI CHI)

Thực hiện tốt các biện pháp dự phòng

Bệnh dại là một trong những bệnh truyền nhiễm rất nguy hiểm, lây truyền từ động vật sang người và cho đến nay vẫn là một vấn đề y tế công cộng nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu. Tuy nhiên, căn bệnh này hoàn toàn có thể phòng ngừa được nếu chúng ta thực hiện tốt các biện pháp dự phòng.

Hội nghị khoa học Nghiên cứu và ứng dụng trong y học trở thành hoạt động thường niên thu hút đông đảo chuyên gia, nhà khoa học với nhiều kết quả được công bố. (Ảnh: TRẦN MINH)

Phát huy sức mạnh trí thức ngành y vì sức khỏe nhân dân

Kế thừa truyền thống vẻ vang, trong nhiệm kỳ 2021-2026 vừa qua, Tổng hội Y học Việt Nam luôn là ngọn cờ đoàn kết, tập hợp và phát huy trí tuệ của hơn 400 nghìn hội viên - những chuyên gia, nhà khoa học, bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng và cán bộ y tế trong cả quân y và dân y.

Thầy thuốc Nhân dân, Giáo sư, Tiến sĩ, bác sĩ cao cấp Đồng Khắc Hưng chia sẻ tại hội thảo. (Ảnh: BVCC)

Xơ hóa phổi tiến triển – căn bệnh âm thầm bào mòn lá phổi

Ho khan kéo dài, khó thở khi gắng sức có thể là dấu hiệu của bệnh phổi kẽ - nhóm bệnh gồm khoảng 200 thể bệnh khác nhau. Một số thể có thể tiến triển nhanh thành xơ hóa phổi, suy hô hấp và đe dọa tính mạng. Đáng chú ý, nấm mốc, lông chim, bụi nghề nghiệp hay môi trường làm việc ẩm thấp có thể liên quan đến bệnh phổi kẽ.

Các đại biểu tham gia báo cáo khoa học tại hội nghị. (Ảnh: BVCC)

Đục thủy tinh thể là nguyên nhân khiến 74% số ca mù lòa ở nước ta

Một đôi bàn tay khéo léo có thể cứu được một đôi mắt, nhưng một hệ thống vận hành tốt mới có thể chăm sóc tốt cho hàng triệu người. Do đó, việc cập nhật các kỹ thuật phẫu thuật mới nhằm bảo đảm an toàn và hiệu quả là yêu cầu tất yếu đối với các bác sĩ nhãn khoa.

Cuốn sách "Hành tinh trong ngõ nhỏ". (Ảnh: Tác giả cung cấp)

"Hành tinh trong ngõ nhỏ": Góc nhìn mới về trẻ rối loạn phổ tự kỷ

"Hành tinh trong ngõ nhỏ" là tác phẩm văn học hiện thực gai góc về cuộc chiến sinh tồn, hành trình tìm kiếm sự thấu cảm của các gia đình có trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ tại Việt Nam. Cuốn sách được các chuyên gia đánh giá là bước chuyển sâu sắc từ những thống kê y khoa lạnh lùng sang giải phẫu nỗi đau đầy nhân văn.

Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Thị Sim thực hiện can thiệp bào thai cho sản phụ. (Ảnh: BVCC)

Những quyết định không được phép sai trong y học bào thai

Có những thai nhi được giữ lại bằng một mũi kim đưa vào tử cung, nhưng cũng có trường hợp cơ hội sống được bảo vệ bằng quyết định không can thiệp. Phía sau mỗi lựa chọn là bài toán về nguy cơ, thời điểm và khả năng đáp ứng của cả ê-kíp.