Những quyết định không được phép sai trong y học bào thai

Có những thai nhi được giữ lại bằng một mũi kim đưa vào tử cung, nhưng cũng có trường hợp cơ hội sống được bảo vệ bằng quyết định không can thiệp. Phía sau mỗi lựa chọn là bài toán về nguy cơ, thời điểm và khả năng đáp ứng của cả ê-kíp.

Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Thị Sim thực hiện can thiệp bào thai cho sản phụ. (Ảnh: BVCC)
Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Thị Sim thực hiện can thiệp bào thai cho sản phụ. (Ảnh: BVCC)

Trong y học bào thai, can thiệp không phải lúc nào cũng là lựa chọn đúng. Điều khó nhất là xác định khi nào cần hành động và khi nào tiếp tục chờ đợi; bởi một quyết định quá sớm có thể tạo thêm nguy cơ, nhưng chậm một thời điểm cũng có thể đánh mất cơ hội của thai nhi.

Ba lần truyền máu và một lần quyết định trong vài phút

Sản phụ Nguyễn Thị Hà, quê Nghệ An đã ba lần mất con. Đau đớn nhất là lần mang thai thứ ba, khi thai nhi đã phát triển đến 37 tuần nhưng cuối cùng vẫn không thể chào đời. Không hiểu vì sao mình liên tiếp mất thai, chị đi tìm nguyên nhân và biết mình mang nhóm máu Rh âm tính, một nhóm máu hiếm ở Việt Nam.

Lần này, khi mang thai ở khoảng 7 tuần, chị được chuyển đến Trung tâm Y học bào thai, Bệnh viện Đại học Phenikaa. Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Thị Sim, Giám đốc Trung tâm Y học bào thai, Phó Tổng Giám đốc Bệnh viện Đại học Phenikaa nhớ đây là một trường hợp đặc biệt: người mẹ đã nhiều lần mất thai, trong đó có một lần khi thai đã 37 tuần nhưng chưa tìm được nguyên nhân. Nhìn thấy sự lo lắng và sợ hãi của sản phụ, bác sĩ nhanh chóng hội chẩn để xác định nguyên nhân và xây dựng kế hoạch theo dõi sát, với mục tiêu đưa em bé đến tuổi thai an toàn nhất có thể.

dsc00518.jpg
Truyền máu trong tử cung là một kỹ thuật đặc biệt. Kim phải được đưa đúng vị trí, lượng máu phải phù hợp và thai phải được theo dõi rất chặt chẽ.

“Ở người mẹ Rh âm tính, nếu thai nhi Rh dương tính, kháng thể của mẹ có thể phá hủy hồng cầu thai nhi. Tình trạng tan máu có thể nặng dần khi thai lớn lên, dẫn đến thiếu máu, suy tim, phù thai và tử vong. Vì vậy, các bác sĩ không chỉ phải theo dõi sát mà còn phải xác định chính xác thời điểm cần can thiệp”, bác sĩ Sim chia sẻ.

Đến 25 tuần, thai nhi xuất hiện thiếu máu, tim to và có dịch ổ bụng. Thai còn quá non, nhưng tình trạng thiếu máu nặng khiến việc tiếp tục chờ đợi cũng trở thành một nguy cơ. Các bác sĩ quyết định truyền máu cho thai ngay trong tử cung, với nguồn máu được phối hợp cùng Viện Huyết học-Truyền máu Trung ương.

“Truyền máu trong tử cung là một kỹ thuật đặc biệt. Kim phải được đưa đúng vị trí, lượng máu phải phù hợp và thai phải được theo dõi rất chặt chẽ. Nguy cơ có thể là chảy máu, vỡ ối, sinh non, nhiễm trùng, thậm chí ngừng tim thai. Vì vậy, mỗi lần truyền máu đều là một lần cả ê-kíp phải chuẩn bị rất căng thẳng”, bác sĩ Sim nói.

dsc00509-9502.jpg
Mỗi ca can thiệp là một lần cả ê-kíp hết sức căng thẳng để tránh những sai sót trong quá trình thực hiện thủ thuật.

Khi mũi kim được rút ra khỏi bào thai, nguồn máu được tưới trở lại thai nhi, cả ê-kíp thở phào nhẹ nhõm. Lần truyền đầu tiên thành công, tuần hoàn của thai được cải thiện, tình trạng thiếu máu được kiểm soát. Nhưng với trường hợp bất đồng Rh nặng, một lần truyền máu có thể chưa đủ, bởi kháng thể của người mẹ vẫn tiếp tục phá hủy hồng cầu thai nhi.

Khoảng một tháng sau, thai lại thiếu máu và cần truyền máu lần thứ hai. Đến khoảng 31 tuần, tình trạng thiếu máu tái diễn, thai tiếp tục cần can thiệp lần thứ ba. Và chính trong lần truyền máu thứ ba, khi thai 30 tuần 4 ngày, một biến cố bất ngờ xảy ra: nhịp tim thai đột ngột giảm. Chỉ trong vài phút, kế hoạch điều trị phải thay đổi. Quyết định cuối cùng là lấy thai cấp cứu. Em bé chào đời với cân nặng khoảng 1.500g. Sau 9 tháng sống trong thấp thỏm, người mẹ nói đó là khoảnh khắc “hạnh phúc vỡ òa”. Chị cảm thấy mình may mắn và biết ơn các bác sĩ, cả ê-kíp đã theo sát thai kỳ.

tbg00377.jpg
Gia đình chị Hà hạnh phúc đón con đầu lòng sau nhiều năm bị hỏng thai do mang nhóm máu Rh âm tính.

Nếu ở trường hợp của chị Hà, nguy cơ buộc các bác sĩ phải tìm thời điểm can thiệp để cứu thai, thì không phải thai nhi nào cũng cần một mũi kim hay một cuộc can thiệp. Có những trường hợp, quyết định khó nhất lại là biết dừng lại và chờ đợi.

Sản phụ L.N.K.Q., 29 tuổi, ở Thành phố Hồ Chí Minh, đến Trung tâm Y học bào thai khi thai 21 tuần và được chẩn đoán mắc hội chứng dải màng ối. Những dải xơ của màng ối có thể quấn và siết vào cơ thể thai, làm tổn thương mạch máu, gây hoại tử chi, dị tật vùng sọ mặt, thậm chí dẫn đến tử vong thai nhi. Gia đình được tư vấn về khả năng phải chấm dứt thai kỳ.

Không chấp nhận dễ dàng bỏ cuộc, người mẹ từ Thành phố Hồ Chí Minh vượt hơn 1.700km ra Hà Nội để tìm kiếm một cơ hội giữ thai.

Sau khi hội chẩn, ê-kíp của bác sĩ Sim đứng trước một lựa chọn có thể thực hiện nội soi buồng ối bằng laser để cắt dải màng ối. “Tại thời điểm đó, vị trí dải màng ối, tuổi thai, bánh rau và nguy cơ sinh non, vỡ ối, nhiễm trùng khiến lợi ích của can thiệp chưa vượt qua được nguy cơ. Quyết định chúng tôi đưa ra là không can thiệp, mà theo dõi sát”, bác sĩ Sim kể lại quyết định cân não.

4aaad2b2-ee26-444a-94af-98023c3a3e06.jpg
Hình ảnh dải xơ buồng ối của em bé.

Suốt 18 tuần sau đó, người mẹ phải bay giữa Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội để thăm khám trực tiếp, kết hợp theo dõi từ xa. Mỗi tuần, các bác sĩ đánh giá sự phát triển của thai, đo các chỉ số sinh học, theo dõi Doppler, vị trí và diễn biến của dải màng ối. Mỗi lần kiểm tra là một lần phải trả lời lại câu hỏi: tình trạng hiện tại còn an toàn để tiếp tục chờ đợi hay đã đến lúc phải can thiệp?

Thai nhi ổn định, không xuất hiện biến chứng nặng. Đến 39 tuần, khi kế hoạch sinh vẫn đang được chuẩn bị, người mẹ bất ngờ chuyển dạ. Thời điểm đó, bác sĩ Sim vừa hoàn thành một ca phẫu thuật ở Hà Nội. Ngay sau đó, bác sĩ lập tức bay vào Thành phố Hồ Chí Minh để trực tiếp thực hiện ca mổ lấy thai.

Một bé trai chào đời khỏe mạnh, nặng 2,9kg. Trên cơ thể chỉ còn một dấu nhỏ do dải màng ối để lại, dự kiến sẽ mờ dần và không ảnh hưởng đến sức khỏe.

Hai trường hợp, hai quyết định gần như trái ngược nhau, nhưng phía sau cả hai không phải là câu chuyện “làm được kỹ thuật gì”, mà là câu hỏi khi nào nên làm và khi nào không nên làm. Đó cũng là phần khó nhất của y học bào thai. Rõ ràng, năng lực của một trung tâm y học bào thai không chỉ nằm ở số kỹ thuật có thể thực hiện, mà ở khả năng đưa ra quyết định đúng và tổ chức toàn bộ quá trình chăm sóc quanh quyết định ấy.

Từ “một bác sĩ làm được” đến “một hệ thống làm được”

Được Bộ Y tế giao thực hiện 11 kỹ thuật can thiệp bào thai, mở ra khả năng điều trị trong tử cung đối với một số nhóm bệnh lý của thai nhi, PhenikaaMec đang xây dựng và vận hành Trung tâm Y học bào thai theo mô hình đa chuyên khoa, kết nối y học bào thai với sản khoa, di truyền, chẩn đoán hình ảnh, tim mạch, huyết học, tiết niệu, ngoại nhi, gây mê hồi sức, sơ sinh và các lĩnh vực liên quan.

dsc05078.jpg
Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Thị Sim tiến hành hội chẩn đa chuyên khoa khi xử trí một ca cần can thiệp bào thai.

Theo bác sĩ Sim, việc hội chẩn đa chuyên khoa không thể chỉ được thực hiện khi có biến cố mà phải bắt đầu trước khi can thiệp. Một bác sĩ có thể thực hiện một thủ thuật, nhưng để một trung tâm có thể thực sự làm chủ một lĩnh vực, phía sau thủ thuật ấy phải là năng lực chẩn đoán, tư vấn, hội chẩn, can thiệp, xử trí biến chứng, sản khoa, gây mê hồi sức, sơ sinh và điều trị tiếp nối sau khi trẻ chào đời.

Việt Nam đã từng bước làm chủ một số kỹ thuật chuyên sâu như đặt shunt, truyền máu trong tử cung, laser quang đông... điều trị các bệnh lý bào thai phức tạp. Với hội chứng truyền máu song thai, tỷ lệ ít nhất một thai sống sau điều trị tại một số trung tâm đã đạt khoảng 85-90%.

Điều đó cũng đặt ra yêu cầu về một đội ngũ kế cận. Các bác sĩ trẻ không chỉ học cách thực hiện một kỹ thuật mà phải được tham gia từ đánh giá người bệnh, lựa chọn chỉ định, quyết định thời điểm can thiệp đến theo dõi sau sinh. Đào tạo cần đi cùng mô phỏng tình huống, chuẩn hóa quy trình và phân định rõ trường hợp nào cần hội chẩn, cần những chuyên khoa nào, ai chịu trách nhiệm ở từng giai đoạn.

Mục tiêu là để năng lực của trung tâm không phụ thuộc vào một cá nhân. “Mô hình chúng tôi hướng tới không phải là một trung tâm có thật nhiều kỹ thuật đứng cạnh nhau, mà là một hệ thống chăm sóc liên tục lấy bà mẹ-thai nhi-trẻ sơ sinh và gia đình làm trung tâm”, bác sĩ Sim nói.

c330400-00-17-23still003.jpg
Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Thị Sim siêu âm để đánh giá tình trạng thai nhi.

Trong mô hình đó, y học bào thai chỉ là một mắt xích của cả hành trình. Trước y học bào thai có thể là tư vấn trước mang thai, di truyền, hỗ trợ sinh sản, sàng lọc và chẩn đoán trước sinh. Sau y học bào thai là sản khoa, gây mê hồi sức, sơ sinh/NICU, nhi khoa và tùy bệnh lý có thể là tim mạch, ngoại nhi, huyết học, tiết niệu, thần kinh, phục hồi chức năng hay theo dõi phát triển lâu dài.

“Người bệnh không thể tự mình kết nối giữa các chuyên khoa. Bởi vậy, một trong những ưu tiên của trung tâm là làm cho thông tin và kế hoạch điều trị đi xuyên suốt hành trình ấy. Nếu một bệnh lý được phát hiện trước sinh, thông tin đó phải giúp chuẩn bị cho cuộc sinh. Nếu trẻ cần điều trị ngay sau sinh, đội ngũ tiếp nhận phải biết từ trước. Sau khi trẻ chào đời, kết quả điều trị cũng cần được đưa trở lại với bác sĩ y học bào thai để đánh giá những quyết định trước sinh đã thực sự mang lại kết quả như thế nào”, chuyên gia nói.

Tại hội thảo khoa học quốc tế “Y học bào thai: Từ chẩn đoán trước sinh đến điều trị can thiệp bào thai đa chuyên ngành” diễn ra tại PhenikaaMec hồi tháng 8 vừa qua, các chuyên gia sản khoa quốc tế đều nhận định, một trung tâm y học bào thai hiện đại không thể phát triển đơn độc, mà cần sự phối hợp của sản khoa, y học bào thai, di truyền học, chẩn đoán hình ảnh, ngoại nhi, gây mê hồi sức và hồi sức sơ sinh; đồng thời phải được kết nối với mạng lưới chuyển tuyến, đào tạo liên tục, hệ thống dữ liệu và hợp tác quốc tế.

aph00015.jpg
Các bác sĩ cập nhật kiến thức về y học bào thai từ chuyên gia quốc tế.

Do đó, cùng với đào tạo và chuẩn hóa quy trình, hướng phát triển của y học bào thai tại đây là tăng cường hợp tác trong nước và quốc tế, xây dựng dữ liệu kết quả điều trị và khả năng theo dõi lâu dài. Khi đó, hiệu quả của một can thiệp không chỉ được nhìn ở thời điểm thủ thuật hoàn thành, mà ở kết quả của người mẹ và đứa trẻ về sau.

Bác sĩ Sim cho rằng khi một lĩnh vực mới hình thành, câu hỏi thường bắt đầu bằng: “Chúng ta làm được kỹ thuật gì?”. Nhưng khi chuyên ngành trưởng thành hơn, câu hỏi phải thay đổi: “Chúng ta có chẩn đoán đúng không? Có lựa chọn đúng người bệnh, đúng thời điểm không? Người mẹ có an toàn không? Đứa trẻ sau sinh có kết quả tốt không? Và toàn bộ hệ thống có thể tiếp tục chăm sóc gia đình ấy mà không phụ thuộc vào một cá nhân hay không?”.

“Nếu trả lời được những câu hỏi đó, chúng ta mới thực sự chuyển từ ‘một bác sĩ làm được’ sang ‘một hệ thống làm được’. Và đó là mô hình y học bào thai mà chúng tôi muốn xây dựng tại PhenikaaMec”, bác sĩ Sim bày tỏ.

Có thể bạn quan tâm

Cán bộ y tế tiêm vaccine cho trẻ trong độ tuổi để phòng các bệnh truyền nhiễm trên địa bàn Hà Nội. (Ảnh: Báo Nhân Dân)

Ca mắc cúm mùa có xu hướng tăng, Bộ Y tế khuyến cáo phòng bệnh

Số ca mắc cúm mùa có xu hướng gia tăng nhẹ trong một số tuần gần đây, song chưa ghi nhận sự gia tăng bất thường các trường hợp nặng hoặc tử vong. Bộ Y tế khuyến cáo người dân chủ động phòng bệnh, đặc biệt lưu ý nhóm có nguy cơ diễn biến nặng như trẻ nhỏ, người cao tuổi, phụ nữ mang thai và người mắc bệnh nền.

Người bệnh điều trị tại Bệnh viện đa khoa Hòe Nhai (Sở Y tế Hà Nội) tập phục hồi chức năng trong quá trình điều trị bằng y học cổ truyền. (Ảnh: KHÁNH HUY)

Thế mạnh y học cổ truyền trong điều trị bệnh

Thời gian qua, các cơ sở khám, chữa bệnh tại thành phố Hà Nội đã tăng cường kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe Nhân dân, góp phần xây dựng nền y học Thủ đô phát triển toàn diện, nhân văn.

(Ảnh minh họa: Bệnh viện cung cấp)

Bộ Y tế gỡ vướng cho địa phương trong khám sức khỏe định kỳ miễn phí

Trước những lúng túng phát sinh khi triển khai khám sức khỏe định kỳ, Bộ Y tế đang làm rõ quy trình, cách tính tỷ lệ bao phủ và yêu cầu kết nối dữ liệu, theo hướng kế thừa kết quả cận lâm sàng còn giá trị, tính cả một số lượt khám bảo hiểm y tế vào diện khám định kỳ và tổ chức khám lưu động, khám tại nhà cho người khó tiếp cận.

Thạc sĩ Tâm lý lâm sàng Phạm Quỳnh Trang tư vấn cho bạn trẻ. (Ảnh: NVCC)

Khi con tìm đến nhóm “ghét bố mẹ”, cha mẹ cần làm gì?

Một nhóm Facebook có khoảng 100.000 thành viên cùng chia sẻ cảm giác “ghét bố mẹ”, không được thấu hiểu hoặc tổn thương trong gia đình đang thu hút sự quan tâm. Theo chuyên gia tâm lý, đằng sau những lời “ghét” có thể là sự tức giận, thất vọng, bất lực hoặc tổn thương chưa được nói ra.

Bệnh nhân bị áp xe, nhiễm trùng muộn sau tiêm chất làm đầy. (Ảnh: BVCC)

Cảnh báo biến chứng muộn sau tiêm chất làm đầy

Trong 2 tháng qua, Khoa Phẫu thuật Tạo hình và Vi phẫu, Trung tâm Phẫu thuật Sọ mặt và Tạo hình, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 liên tiếp tiếp nhận 5 người bệnh bị áp xe vùng mông, vùng ngực, có tiền sử tiêm chất làm đầy từ 5-10 năm trước.

Các cơ quan, đoàn thể, tổ chức xã hội trên địa bàn Thành phố Hà Nội tham gia diễu hành hưởng ứng Ngày Thế giới phòng, chống bệnh dại. (Ảnh: MAI CHI)

Thực hiện tốt các biện pháp dự phòng

Bệnh dại là một trong những bệnh truyền nhiễm rất nguy hiểm, lây truyền từ động vật sang người và cho đến nay vẫn là một vấn đề y tế công cộng nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu. Tuy nhiên, căn bệnh này hoàn toàn có thể phòng ngừa được nếu chúng ta thực hiện tốt các biện pháp dự phòng.

Bác sĩ Viện Y học nhiệt đới Bạch Mai thăm khám cho sản phụ bị viêm gan B đang điều trị. (Ảnh: BVCC)

Viêm gan B từ mẹ sang con: Một lần lây nhiễm, nguy cơ kéo dài nhiều thế hệ

Ở tuần thai thứ 34, thay vì chuẩn bị đón con, một phụ nữ 32 tuổi ở Hưng Yên phải nhập Viện Y học nhiệt đới, Bệnh viện Bạch Mai trong tình trạng mệt mỏi, ăn uống kém, vàng da, vàng mắt tăng dần. Chị đã biết mình nhiễm viêm gan B nhiều năm nhưng không điều trị vì cơ thể gần như không có biểu hiện bất thường.

Hội nghị khoa học Nghiên cứu và ứng dụng trong y học trở thành hoạt động thường niên thu hút đông đảo chuyên gia, nhà khoa học với nhiều kết quả được công bố. (Ảnh: TRẦN MINH)

Phát huy sức mạnh trí thức ngành y vì sức khỏe nhân dân

Kế thừa truyền thống vẻ vang, trong nhiệm kỳ 2021-2026 vừa qua, Tổng hội Y học Việt Nam luôn là ngọn cờ đoàn kết, tập hợp và phát huy trí tuệ của hơn 400 nghìn hội viên - những chuyên gia, nhà khoa học, bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng và cán bộ y tế trong cả quân y và dân y.

Thầy thuốc Nhân dân, Giáo sư, Tiến sĩ, bác sĩ cao cấp Đồng Khắc Hưng chia sẻ tại hội thảo. (Ảnh: BVCC)

Xơ hóa phổi tiến triển – căn bệnh âm thầm bào mòn lá phổi

Ho khan kéo dài, khó thở khi gắng sức có thể là dấu hiệu của bệnh phổi kẽ - nhóm bệnh gồm khoảng 200 thể bệnh khác nhau. Một số thể có thể tiến triển nhanh thành xơ hóa phổi, suy hô hấp và đe dọa tính mạng. Đáng chú ý, nấm mốc, lông chim, bụi nghề nghiệp hay môi trường làm việc ẩm thấp có thể liên quan đến bệnh phổi kẽ.

Các đại biểu tham gia báo cáo khoa học tại hội nghị. (Ảnh: BVCC)

Đục thủy tinh thể là nguyên nhân khiến 74% số ca mù lòa ở nước ta

Một đôi bàn tay khéo léo có thể cứu được một đôi mắt, nhưng một hệ thống vận hành tốt mới có thể chăm sóc tốt cho hàng triệu người. Do đó, việc cập nhật các kỹ thuật phẫu thuật mới nhằm bảo đảm an toàn và hiệu quả là yêu cầu tất yếu đối với các bác sĩ nhãn khoa.

Cuốn sách "Hành tinh trong ngõ nhỏ". (Ảnh: Tác giả cung cấp)

"Hành tinh trong ngõ nhỏ": Góc nhìn mới về trẻ rối loạn phổ tự kỷ

"Hành tinh trong ngõ nhỏ" là tác phẩm văn học hiện thực gai góc về cuộc chiến sinh tồn, hành trình tìm kiếm sự thấu cảm của các gia đình có trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ tại Việt Nam. Cuốn sách được các chuyên gia đánh giá là bước chuyển sâu sắc từ những thống kê y khoa lạnh lùng sang giải phẫu nỗi đau đầy nhân văn.