Đền Cao tọa lạc trên núi Thiên Bồng, tựa vào dãy núi Voi, phía trước là dòng Nguyệt Giang, chung quanh là những cây lim cổ, tạo nên vẻ thâm nghiêm, tĩnh tại. Công trình được xây dựng từ thế kỷ X và nhiều lần trùng tu, kiến trúc hiện nay mang dấu ấn thời Nguyễn theo kiểu chữ Đinh gồm ba gian tiền tế, hai gian trung từ và một gian hậu cung. Mái ngói rêu phong, đầu đao cong vút, trên mái có phù điêu lưỡng long chầu mặt trời. Từ chân núi lên tới đỉnh là 113 bậc, phía sân có voi đá, ngựa đá.
Theo thần tích còn lưu tại đền Cao, vào thời nhà Đinh, vợ chồng ông Vương Tĩnh và bà Đào Thanh quê ở phủ Hà Trung (Thanh Hóa) tìm đến Dược Đậu trang thuộc trấn Hải Dương xưa, nay thuộc phường Lê Đại Hành để sinh cơ lập nghiệp. Vợ chồng ông bà vốn hiếm muộn. Sau nhiều năm thành tâm cầu tự, một lần bà mơ thấy điềm lạ: Khi ra dòng Nguyệt Giang tắm, bà gặp giao long ngũ sắc nổi lên quấn quanh mình năm vòng.
Sau đó bà mang thai, sinh một bọc năm trứng, nở thành ba người con trai và hai người con gái. Năm người con lần lượt là Vương Đức Minh, Vương Đức Xuân, Vương Đức Hồng, Vương Thị Đào và Vương Thị Liễu. Các con lớn lên được cha mẹ cho học hành, sớm bộc lộ tài năng, tinh thông binh thư, văn chương và võ nghệ.
Năm 981, khi quân Tống xâm lược nước ta, Vua Lê Đại Hành đưa quân đi đánh giặc, qua Dược Đậu trang nhận thấy địa thế hiểm yếu cho nên lập doanh đồn. Biết năm anh em họ Vương tài giỏi, vua cho gọi đến thử tài rồi thu nhận, phong chức và giao nhiệm vụ đánh giặc.
Theo truyền thuyết, hai vị nữ tướng thường giả làm người bán trầu thuốc, thâm nhập đồn lũy của giặc nắm rõ tình hình, mật báo cho các vị tướng nam. Với tài thao lược, ba anh em họ Vương điều binh tiến đánh đồn lũy giặc, dũng cảm giáp chiến khiến quân giặc thua to. Vua mở tiệc lớn khao thưởng quân sĩ rồi trở về triều.
Năm anh em họ Vương đang để tang cha mẹ cho nên xin ở lại, chờ sau ngày mãn tang mới về triều bái yết. Không ngờ, đêm 23 tháng Giêng năm 982 cả năm vị tướng họ Vương theo ý trời đều thăng hóa. Đức vua hay tin liền sai quan triều đình về tổ chức tang lễ, phong là “Thượng đẳng phúc thần” muôn đời tồn tại cùng trời đất, đồng thời ban lệnh cho Nhân dân lập đền thờ ở các nơi “Thánh hóa”, hương hỏa phụng thờ.
Cùng với đền thờ Vua Lê Đại Hành và đình Lạc Đạo, những nơi thờ tự anh em họ Vương đã tạo nên một quần thể thống nhất, kết nối trong một không gian lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng trang nghiêm và cổ kính.
Từ đó, câu chuyện về năm vị tướng họ Vương được trao truyền qua nhiều thế hệ. Đền Cao được lập ở vị trí đắc địa, trở thành nơi thờ người con trưởng Vương Đức Minh (Thiên Bồng đại tướng quân đại vương).
Đền Bến Tràng thờ Vương Đức Xuân (Dực Thánh linh ứng đại vương). Đền Bến Cả thờ Vương Đức Hồng (Anh Vũ dũng lược đại vương). Riêng đền Cả là nơi thờ cha mẹ năm anh em và hai người con gái là Vương Thị Đào (Đào Hoa trinh thuận công chúa) và Vương Thị Liễu (Liễu Hoa linh ứng công chúa).
Theo Nghệ nhân ưu tú Dương Ngọc Vũ, người thường xuyên thực hiện các nghi lễ, sự lệ (lệ thờ cúng theo tục) quan trọng tại đền, đáng quý là đền Cao còn lưu giữ ngọc phả, sắc phong, hoành phi, câu đối và nhiều đồ thờ tự có giá trị.
Tư liệu trong di tích cho biết thần tích do Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính biên soạn năm 1572, ghi lại sự tích và công trạng của các vị thánh. Đây là những căn cứ quan trọng giúp hậu thế hình dung về đời sống tín ngưỡng cũng như truyền thống tôn vinh những người có công với đất nước của cộng đồng cư dân. Năm 2018, quần thể Đền Cao được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di tích lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật quốc gia.
Một nét độc đáo khác của đền Cao là hệ thống nghi lễ được cộng đồng gìn giữ khá nguyên vẹn. Lễ hội truyền thống diễn ra vào tháng Giêng, chính hội là ngày 23 âm lịch, tưởng niệm ngày hóa của năm vị thánh. Trong lễ hội có các nghi lễ, như: Dâng hương, vót tăm, khâu áo Thánh, mộc dục, rước bộ và các tuần tế Thánh; cùng với đó là những hoạt động văn hóa, thể thao, trò chơi dân gian như giã bánh giầy, nấu chè kho, vật truyền thống.
Những nghi lễ ở đền Cao thể hiện sự trang nghiêm và tính cộng đồng sâu sắc. Các chấp sự khi hành lễ chủ yếu sử dụng động tác, không phát ngôn; việc dâng lễ chay và sử dụng hương đen tại các đền thờ năm vị tướng là nét riêng của di tích.
Cụ Hoàng Lan Hương ở phường Lê Đại Hành cho biết: “Hơn nghìn năm qua, những câu chuyện về năm vị thánh họ Vương vẫn lưu truyền, hiện diện trong đời sống tinh thần của người dân địa phương.
Đó không chỉ là câu chuyện về những nhân vật được thần tích hóa trong tín ngưỡng dân gian, mà còn là cách cộng đồng gửi gắm sự tri ân đối với những người đã góp sức bảo vệ non sông”. Những địa danh như Bàn Cung, Cao Hiệu, Sơn Đụn, Nội Xưởng, Nền Bà Chúa, Lò Văn,... cùng hệ thống di tích, sắc phong, ngọc phả và sự lệ đã tạo nên một không gian ký ức lịch sử, văn hóa đặc sắc tại quần thể di tích đền Cao.