Từ tiền kiểm sang hậu kiểm, lấy mức độ tuân thủ làm nền tảng quản lý
Ông Trần Đức Hùng, Phó Cục trưởng Cục Hải quan, cốt lõi của những cải cách được triển khai thời gian qua không đơn thuần là cắt giảm số lượng thủ tục hành chính mà là cuộc cách mạng về tư duy quản trị, chuyển dịch mạnh mẽ từ tiền kiểm sang hậu kiểm, từ quản lý hành chính cứng nhắc sang mô hình quản trị dựa trên dữ liệu rủi ro và niềm tin số.
Theo đó, cơ quan hải quan xác định mỗi thủ tục hay điều kiện kinh doanh được bãi bỏ chính là một nút thắt được tháo gỡ cho dòng chảy thương mại quốc tế. Sự quyết liệt được thể hiện thông qua việc rà soát toàn diện và mạnh dạn kiến nghị bãi bỏ những quy định không còn phù hợp với thực tiễn.
Trọng tâm của quá trình cải cách là dỡ bỏ các giấy phép con và những rào cản vô hình trong các quy định về điều kiện kinh doanh kho bãi, địa điểm kiểm tra, giám sát hải quan hay các quy trình xét miễn, giảm thuế. Đồng thời, cơ quan hải quan đang nỗ lực chuyển dịch từ cơ chế phê duyệt, cấp phép sang cơ chế thông báo tự động ghi nhận.
Ông Trần Đức Hùng cho rằng, khi hệ thống số đóng vai trò là “màng lọc” tự động, những doanh nghiệp tuân thủ pháp luật sẽ là các chủ thể được hưởng hành lang ưu tiên để phát triển. Mục tiêu cuối cùng là triệt tiêu hoàn toàn sự can thiệp chủ quan, cảm tính của con người, xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, nơi sự thượng tôn pháp luật của doanh nghiệp trở thành “tấm vé thông hành” nhanh nhất.
Để bảo đảm cải cách được triển khai đồng bộ trong toàn hệ thống, cơ quan hải quan đồng thời thực hiện 2 nhiệm vụ trọng tâm là siết chặt kỷ cương công vụ và hiện đại hóa hạ tầng giám sát.
Theo lãnh đạo Cục Hải quan, việc bãi bỏ một số thủ tục đã góp phần giảm thiểu không gian cho các hành vi gây phiền hà, nhũng nhiễu. Khi quy trình được tự động hóa, mọi tương tác giữa công chức hải quan và doanh nghiệp đều được ghi vết trên hệ thống, qua đó bảo đảm tính minh bạch.
Cùng với đó, cơ quan hải quan chuyển mạnh nguồn lực từ kiểm tra hồ sơ giấy sang phân tích rủi ro và kiểm tra sau thông quan. Doanh nghiệp được tạo điều kiện thông quan nhanh hơn trên cơ sở tự khai, tự chịu trách nhiệm; các trường hợp vi phạm nếu phát sinh sẽ được xử lý thông qua công tác kiểm tra sau thông quan.
Ông Trần Đức Hùng nhận định, đây là cách làm thực chất nhằm xóa bỏ tâm lý ngại thay đổi ở cấp cơ sở, bảo đảm các ưu đãi về thuế và thủ tục thực sự đi vào đời sống sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Tiếp tục cắt giảm thủ tục và điều kiện kinh doanh
Đề cập đến Nghị quyết số 66.16/2026/NQ-CP có hiệu lực từ ngày 15/4/2026, ông Trần Đức Hùng cho biết cốt lõi của nghị quyết là gỡ bỏ tư duy quản lý cũ để thiết lập mô hình quản trị dựa trên mức độ tuân thủ.
Theo đó, Bộ Tài chính và cơ quan Hải quan đã rà soát, bãi bỏ và sửa đổi 28 thủ tục hành chính trọng yếu; trong đó bãi bỏ hoàn toàn 17 thủ tục mang tính định danh cũ và sửa đổi, bổ sung 11 thủ tục.
Đối với các ngành công nghiệp mũi nhọn như ô-tô và công nghệ thông tin trọng điểm, quy trình áp dụng thuế suất 0% được chuyển sang cơ chế thông báo và hậu kiểm, xóa bỏ hoàn toàn khâu thẩm định danh mục thủ công trước đây. Việc thay đổi này giúp rút ngắn thời gian xử lý xuống còn từ 3 đến 10 ngày làm việc, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp tối ưu hóa dòng vốn ngay từ khâu nhập khẩu nguyên liệu sản xuất.
Một nội dung đáng chú ý khác là việc cắt giảm chứng từ thông qua liên thông dữ liệu giữa các cơ quan quản lý nhà nước.
Đáng chú ý, người khai hải quan không phải nộp bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trong thành phần hồ sơ nếu cơ quan Hải quan có thể khai thác thông tin từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Đây là kết quả của nỗ lực liên thông dữ liệu giữa các bộ, ngành nhằm hiện thực hóa mục tiêu “doanh nghiệp không phải cung cấp lại những gì Nhà nước đã có”, qua đó giảm gánh nặng về thủ tục hành chính và hồ sơ giấy tờ.
Đối với các Nghị quyết số 66.17/2026/NQ-CP và 66.18/2026/NQ-CP, ông Trần Đức Hùng khẳng định không có sự chồng chéo mà đây là sự tiếp nối và nâng cấp đồng bộ về thể chế.
Theo Nghị quyết số 66.17/2026/NQ-CP có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, danh mục ngành, nghề kinh doanh có điều kiện được cắt giảm từ 198 xuống còn 142 ngành, nghề, loại bỏ 56 ngành, nghề không cần thiết. Riêng trong lĩnh vực hải quan, có 2 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện được cắt giảm.
Trong khi đó, Nghị quyết số 66.18/2026/NQ-CP tiếp tục cắt giảm 9 điều kiện kinh doanh liên quan đến công nhận kho bảo thuế, kinh doanh hàng miễn thuế, kinh doanh địa điểm làm thủ tục hải quan, tập kết, kiểm tra và giám sát hải quan.
Nghị quyết cũng bãi bỏ các thủ tục về công nhận hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan; cấp, thu hồi mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan; đồng thời chuyển thủ tục công nhận đại lý sang hình thức thông báo trực tuyến thông qua Hệ thống dịch vụ công trực tuyến của Cục Hải quan.
Bên cạnh đó, các điều kiện kinh doanh hàng miễn thuế theo Điều 4 Nghị định số 68/2016/NĐ-CP cùng các thủ tục cấp, tạm dừng, thu hồi giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh hàng miễn thuế được bãi bỏ.
Toàn bộ điều kiện, hồ sơ và thủ tục công nhận kho bảo thuế theo quy định tại các Điều 16, 17 và 18 Nghị định số 68/2016/NĐ-CP cũng được bãi bỏ. Đồng thời, các điều kiện kinh doanh liên quan đến kho ngoại quan, địa điểm thu gom hàng lẻ, địa điểm làm thủ tục hải quan, tập kết, kiểm tra và giám sát hải quan tiếp tục được cắt giảm.
Theo ông Trần Đức Hùng, tất cả những thay đổi này nhằm đưa thủ tục vào khuôn khổ vận hành tinh gọn và có mức độ tự động hóa cao hơn.
Nghị quyết số 66.18/2026/NQ-CP cũng giao Bộ Tài chính quy định tiêu chuẩn hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan; tiêu chuẩn nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan; tổ chức thi, cấp chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan; quản lý hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan và nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan nhằm bảo đảm cơ sở pháp lý để triển khai phương thức quản lý mới phù hợp với quy định của Luật Đầu tư năm 2025.
Chuyển từ quản lý không gian vật lý sang quản trị bằng dữ liệu
Theo ông Trần Đức Hùng, lộ trình hướng đến tháng 2/2027 là quá trình tái cấu trúc thể chế với quy mô lớn, trong đó đặt ra yêu cầu rà soát và điều chỉnh toàn diện nội dung của 4 nghị định và 1 quyết định thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tài chính.
Định hướng mang tính bước ngoặt là dứt khoát chuyển từ quản lý không gian vật lý sang kiểm soát bằng luồng dữ liệu thời gian thực.
Trong quản lý điều kiện kinh doanh kho bãi và hàng miễn thuế, diện tích mặt bằng hay các rào cản cứng sẽ không còn là thước đo quản lý chủ yếu. Thay vào đó là khả năng kết nối và tương thích của hệ thống công nghệ thông tin với cơ quan hải quan.
Đối với hoạt động quá cảnh hàng hóa trong ASEAN, mục tiêu được đặt ra là tiến tới cơ chế dữ liệu một lần trên nền tảng Cơ chế một cửa quốc gia.
Lãnh đạo Cục Hải quan cho rằng, để hiện thực hóa mục tiêu này cần sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt và sáng tạo từ cấp cục đến từng đơn vị cơ sở. Sự quyết liệt không chỉ nằm ở các văn bản hướng dẫn mà phải được chuyển hóa thành hành động cụ thể thông qua việc chuẩn hóa hạ tầng, nâng cao năng lực vận hành số và chủ động triển khai các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp tại từng địa bàn.
Ông Trần Đức Hùng cho biết Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn đã chỉ đạo rõ cải cách thể chế không được phép dừng lại ở văn bản mà phải chuyển hóa thành năng lực thực thi số hóa toàn diện. Người đứng đầu các đơn vị phải chịu trách nhiệm trực tiếp, dứt khoát loại bỏ tư duy quản lý cũ, lấy sự hài lòng của doanh nghiệp và hiệu quả chi phí làm thước đo cao nhất cho thành công của quá trình chuyển đổi số.
Theo ông, sự kết nối đồng bộ giữa hệ thống quản lý thông minh của cơ quan Hải quan với tiến trình số hóa của doanh nghiệp sẽ góp phần tối giản hóa thời gian lưu kho, bãi, đưa Việt Nam trở thành mắt xích logistics linh hoạt và có chi phí cạnh tranh cao trong chuỗi cung ứng toàn cầu.