Giữ nghề truyền thống - Câu chuyện từ cộng đồng

Gìn giữ nghề sơn mài truyền thống hay khôi phục nghề khắc in mộc bản không còn là câu chuyện làng nghề, mà là câu chuyện đi tìm thị trường cho các sản phẩm nghề thủ công truyền thống nói chung.
Tác phẩm sơn mài Múa cổ của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm. Ảnh: ĐỨC TIẾN
Tác phẩm sơn mài Múa cổ của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm. Ảnh: ĐỨC TIẾN

Làm quen với nghề vẽ tranh sơn mài từ nhỏ, là thế hệ nối tiếp các bậc tiền nhân của làng nghề sơn mài Hạ Thái, nghệ nhân Vũ Huy Mến (làng nghề sơn mài Hạ Thái, xã Duyên Thái, huyện Thường Tín, Hà Nội) vào học Trường Mỹ thuật Hà Nội năm 1966, đến nay ông vẫn tiếp tục cùng những người thợ trong làng làm nghề, gìn giữ và phát triển nghề sơn mài Hạ Thái truyền thống. Trước năm 1991, sản phẩm sơn mài của làng Hạ Thái chỉ dùng sơn ta lấy từ cây sơn tự nhiên ở tỉnh Phú Thọ. Sau năm 1991, sản phẩm không có đầu ra, các hợp tác xã giải thể. Người dân tự làm nghề và tìm kiếm thị trường.

Sơn ta độc đáo bởi nguyên liệu, với đặc tính mềm, màu sắc trầm ấm sâu thẳm, độ bám cao mà các loại sơn khác không thay thế được. Tuy nhiên, để có một sản phẩm hoặc tác phẩm sơn mài hoàn chỉnh, phải trải qua các quy trình cầu kỳ, sơn, vẽ, mài, đánh bóng, hoàn thiện lên đến 12 nước sơn. Người thợ phải kiên trì làm thủ công, xử lý nhiều công đoạn kỹ thuật trong nhiều tháng. Thêm nữa, các tác phẩm sơn mài nghệ thuật có giá trị cao, kén người làm, người xem và cả người mua. Đối tượng khách hàng của các tác phẩm sơn ta phải là người am hiểu kỹ thuật sơn mài truyền thống. Đến làng Hạ Thái bây giờ, thợ làm sơn ta đúng kỹ thuật chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Là thế hệ sau tiếp nối học và làm nghề sơn mài, họa sĩ vẽ tranh sơn mài, sơn khắc Đặng Cao Cường, sống và làm việc tại làng Hạ Thái cho biết: Thích ứng với thời cuộc, giới họa sĩ đương đại dùng cốt gốm hoặc nhựa tổng hợp (composite) để làm vóc. Chất liệu mới này có ưu điểm nhẹ, đáp ứng được những bức tranh công trình khổ lớn, lên đến 100m2, trong khi đó, chất liệu gỗ chỉ đáp ứng kích thước đến 1m4. Quy trình sản xuất sản phẩm bằng chất liệu sơn mới được giản lược vài bước, dễ làm hơn. Tuy không mang lại màu sắc trầm ấm, độ sâu và bền màu như sơn ta, nhưng sơn công nghiệp có màu sắc tươi tắn, bóng bẩy, bắt mắt. Dù hoàn thiện sản phẩm theo lối truyền thống hay hình thức sơn mài mới, những người dân làng nghề Hạ Thái đều chung mục tiêu giữ gìn và phát triển nghề.

Tương tự, làng nghề khắc in mộc bản Thanh Liễu (phường Tân Hưng, thành phố Hải Dương ngày nay) hình thành và phát triển đến nay đã gần 600 năm. Sản phẩm khắc in mộc bản của thôn Thanh Liễu đa dạng, từ kinh sách, thơ văn, tranh trang trí, phù, ấn, triện, tranh thập vật... Mộc bản trường học Phúc Giang được UNESCO ghi danh Di sản tư liệu thế giới khu vực châu Á-Thái Bình Dương do nghệ nhân Nguyễn Huy Vượng, người làng Hồng Lục (tức Thanh Liễu) thực hiện khắc in vào năm 1758. Làng nghề không chỉ nổi tiếng với kỹ thuật khắc mộc bản tinh xảo mà còn là nơi tạo ra nhiều ván in mộc bản quý giá. Nhiều bản in kinh sách do các nghệ nhân Thanh Liễu thực hiện đang được lưu giữ trong chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Bổ Đà (tỉnh Bắc Giang), chùa Bà Đá (Hà Nội).

Để làm được một tấm mộc bản, nghệ nhân phải trải qua khoảng 30 bước, từ chọn gỗ, ngâm gỗ, xẻ gỗ, cắt chà bào, làm phẳng... rồi mới đến khắc, in ấn. Theo thời gian, máy móc và công nghệ in ấn hiện đại xuất hiện khiến nghề khắc in mộc bản mai một. Các nghệ nhân trong thôn chuyển sang khắc dấu tư pháp, khắc bia mộ..., chỉ còn ít hộ giữ được nghề truyền thống.

Tham gia xây dựng thương hiệu sơn mài Việt Nam, nghệ nhân Vũ Huy Mến nhìn nhận, sơn mài truyền thống Việt Nam là nghề đặc biệt, các nước khác không dễ gì có được. Tác phẩm nghệ thuật sơn mài có tuổi thọ lên đến hàng trăm năm. Vì vậy, nghề này khó thực hành và đào tạo. Kinh tế thị trường phát triển buộc người thợ phải đổi mới, tuy nhiên nếu nghề sơn mài truyền thống bị mai một, là điều đáng tiếc. Sơn mài truyền thống trở nên “đuối” trên sân nhà, nhưng nghệ nhân Vũ Huy Mến nhìn nhận, trong nghề nghiệp luôn phải đổi mới và sáng tạo. Cái cũ tồn tại và phát triển được chính là nhờ cái mới. Nếu như Hạ Thái xây dựng được địa điểm như chợ gốm Bát Tràng, chắc chắn làng nghề sẽ thu hút khách du lịch đến trải nghiệm, lưu trú sáng tác và giá trị làng nghề sơn mài sẽ được lan tỏa rộng rãi.

Bên cạnh câu chuyện sáng tạo trên chất liệu truyền thống, sử dụng di sản đúng, hiệu quả và không làm mất đi bản sắc văn hóa, việc khai thác, sử dụng nguồn lực di sản trong phát triển cộng đồng, phát triển kinh tế cá nhân là vấn đề trăn trở trong các làng nghề thủ công truyền thống. Công cuộc này đòi hỏi nhiều yếu tố cộng hưởng, trong đó cộng đồng, Nhà nước, nhà đầu tư cùng chung tay, tạo ra thị trường thu hút khách hàng, thúc đẩy xuất khẩu trực tiếp đồng thời quảng bá, truyền dạy và lan tỏa giá trị làng nghề trong nhịp sống đương đại.

Có thể bạn quan tâm

Nhiều ca sĩ được giới trẻ yêu thích sẽ tham gia chương trình Đón Tết Nguyên đán Toàn cầu 2026 tại Hà Nội và Hải Phòng.

Chương trình giao lưu văn hóa nghệ thuật đặc sắc Việt Nam-Trung Quốc chào Xuân Bính Ngọ 2026

Trong không khí hân hoan đón Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, chương trình giao lưu văn hóa nghệ thuật Việt Nam-Trung Quốc “Đón Tết Nguyên đán toàn cầu 2026 (Global Youth Spring Festival Gala - Bạn đồng hành của tuổi thanh xuân)” sẽ diễn ra tại Hà Nội và Hải Phòng với chuỗi hoạt động sôi động và đặc sắc.

Hòa nhạc Ánh sáng: Khi nghệ thuật “hòa chung nhịp đập” của đất nước.

Hòa nhạc Ánh sáng: Khi nghệ thuật “hòa chung nhịp đập” của đất nước

Tối 31/1, tại Quảng trường Cách mạng Tháng Tám, phía trước Nhà hát Lớn Hà Nội, chương trình nghệ thuật “Hòa nhạc Ánh sáng – Chào năm mới 2026” sẽ chính thức diễn ra. Chương trình được kỳ vọng trở thành một dấu mốc văn hóa mang ý nghĩa biểu tượng trong thời khắc đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới.

Không gian trưng bày các tác phẩm nổi bật do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành.

Ra mắt sách của Đại tướng Phan Văn Giang về xây dựng Quân đội trong kỷ nguyên mới

Ngày 27/1, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân phối hợp Cục Tuyên huấn ra mắt cuốn sách "Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới" của Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Quốc phòng.

Cẩm nang tra cứu thông tin về đơn vị hành chính trước và sau sắp xếp

Cẩm nang tra cứu thông tin về đơn vị hành chính trước và sau sắp xếp

Nhằm cung cấp cho cán bộ, đảng viên và nhân dân một cách hệ thống thông tin về các đơn vị hành chính trong cả nước sau sáp nhập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách "Đơn vị hành chính Việt Nam sau sắp xếp và vận hành chính quyền địa phương hai cấp" của hai tác giả Nguyễn Thái Bình và Trương Hải Long.

Hình tượng chú Tễu được tiếp cận như một biểu tượng văn hóa, kết tinh giữa nghệ thuật ẩm thực và những giá trị gắn với tình thân gia đình.

Kể câu chuyện văn hóa ẩm thực Việt từ hình ảnh chú Tễu

Trong kho tàng văn hóa dân gian Việt Nam, chú Tễu của nghệ thuật múa rối nước là một hình tượng quen thuộc và giàu ý nghĩa. Tên gọi “Tễu” được cho là bắt nguồn từ chữ “Tiếu”, nghĩa là cười. Nụ cười của chú Tễu mộc mạc, hóm hỉnh nhưng ẩn chứa trí tuệ dân gian, tinh thần lạc quan và khát vọng an hòa của người Việt.

Công chúng thưởng thức các tác phẩm tại triển lãm "Chào xuân Bính Ngọ 2026". (Ảnh: CHIÊU ANH)

Bản giao hưởng rực rỡ, nồng nàn của mùa xuân

Triển lãm "Chào xuân Bính Ngọ 2026" giới thiệu đến công chúng gần 100 tác phẩm của các họa sĩ Nguyễn Ngọc Bình, Đặng Thanh Dương, Nguyễn Quý Dương, Nguyễn Ngọc Phương. Sự hội ngộ của 4 cá tính khác biệt này đã tạo nên không gian nghệ thuật, nơi những rung cảm trước thềm năm mới được chuyển hóa thành mảng màu nồng nàn, sống động.

Đoàn công tác UNESCO khảo sát thực địa tại Tháp Nhạn, Tuy Hòa. (Ảnh: UNESCO)

UNESCO hỗ trợ khẩn cấp cho Việt Nam sau các thảm họa thiên tai năm 2025

Trước những thiệt hại nặng nề do chuỗi bão lũ gây ra vào cuối năm 2025, Tổng Giám đốc UNESCO Khaled El-Enany chính thức công bố khoản hỗ trợ khẩn cấp nhằm bảo vệ di sản văn hóa và duy trì hoạt động giáo dục tại các cộng đồng bị ảnh hưởng với tổng ngân sách huy động khoảng 740.000 USD (tương đương khoảng 19,4 tỷ đồng).

Bộ sách "Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam" góp phần phác thảo một cách hệ thống diện mạo, tiến trình phát triển và những đặc điểm cơ bản của lịch sử văn học Việt Nam trong suốt nhiều thế kỷ.

Ra mắt bộ sách có giá trị về lịch sử văn học Việt Nam

"Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam" là sản phẩm của một quá trình nghiên cứu, phê bình công phu các tác phẩm văn học thành văn và văn học truyền miệng, từ khởi thủy đến nửa đầu thế kỷ XIX; góp phần phác thảo một cách hệ thống diện mạo, tiến trình phát triển và những đặc điểm cơ bản của lịch sử văn học Việt Nam trong nhiều thế kỷ.