Thôn Bản Cám Thượng hiện có 107 hộ dân với hơn 500 nhân khẩu, đều là đồng bào dân tộc Dao. Không ai nhớ chính xác nghề dệt thổ cẩm xuất hiện từ bao giờ, chỉ biết rằng nghề đã gắn bó với bản làng từ lâu đời.
Trong những ngôi nhà đơn sơ, bên khung cửi mộc mạc, những tấm vải với hoa văn cầu kỳ, những bộ trang phục truyền thống vẫn được tạo nên từ đôi bàn tay khéo léo và sự kiên nhẫn của người phụ nữ.
Ngồi bên chiếc khung cửi đặt trong nhà, tay thoăn thoắt đưa thoi, bà Đặng Thị Mụi cho biết, bà học dệt từ năm 12 tuổi. Trước đây, hầu như con gái trong làng ai cũng biết dệt, khoảng 15-16 tuổi đã thành thạo nghề, thậm chí nhiều người đã biết thêu thùa từ nhỏ.
Để hoàn thiện một chiếc khăn, bà Mụi phải mất khoảng một tháng, còn một bộ trang phục có khi kéo dài tới cả năm khi chỉ tranh thủ làm lúc rảnh rỗi. Nếu tập trung làm liên tục, mỗi bộ trang phục cũng mất khoảng một tháng mới hoàn thành. Có những hôm bà miệt mài kéo sợi đến tận khuya mới nghỉ.
Mỗi năm, bà Mụi kéo khoảng 4-5 kg sợi để phục vụ nhu cầu của gia đình. Khoảng tháng 5, tháng 6 âm lịch hằng năm, bà lại lên rừng tìm cây chàm để nhuộm vải. Tuy nhiên hiện nay, cây chàm ngày càng khan hiếm nên việc tìm kiếm gặp nhiều khó khăn. Công đoạn xử lý sợi cũng rất cầu kỳ, còn phải chọn ngày tốt để kéo sợi với mong muốn sợi không bị rối và tránh điều không may.
Dù thế hệ trẻ ngày nay không còn gắn bó, mặn mà với nghề dệt truyền thống, bà Mụi vẫn kiên trì truyền dạy cho con cháu mỗi dịp nghỉ hè. Đến nay, con dâu bà cũng đã biết thêu áo, làm khăn và làm được một số sản phẩm thổ cẩm truyền thống của dân tộc.
Từ váy, áo, khăn, mũ đến quấn chân… của đồng bào Dao ở Bản Cám Thượng đều được làm hoàn toàn thủ công. Mỗi sản phẩm đều chứa đựng giá trị văn hóa, thể hiện bản sắc riêng của đồng bào Dao nơi đây.
Để hoàn thiện một sản phẩm thổ cẩm, người phụ nữ phải trải qua nhiều công đoạn thủ công công phu, như: luộc sợi, nhuộm màu, quay sợi, dệt vải, thêu hoa văn, may viền, đính khuy…
Những hoa văn thêu tay tinh xảo, lấy cảm hứng từ hình ảnh quen thuộc trong cuộc sống như hoa lá, cỏ cây, muông thú. Không có khuôn mẫu sẵn, mỗi họa tiết đều được người phụ nữ ghi nhớ và tái hiện bằng kinh nghiệm cùng sự sáng tạo của mình qua từng đường kim, mũi chỉ và sắc màu trên tấm vải.
Bà Lý Thị Hạnh, sinh năm 1969, là một trong những người vẫn bền bỉ giữ nghề. Bà cho biết, mình học dệt từ nhỏ qua sự truyền dạy của những người đi trước. Trước đây, nhiều hộ trong thôn đều duy trì nghề dệt, nhưng khoảng những năm 1998-1999, do cây chàm ngày càng khan hiếm nên nhiều gia đình đã không còn duy trì công việc này. Đến năm 2016, gia đình bắt đầu trồng lại cây chàm và từng bước khôi phục nghề truyền thống.
Theo bà Hạnh, để dệt được một tấm vải thường cần bốn người phụ nữ cùng tham gia, mỗi người đảm nhận một công đoạn khác nhau. Các dụng cụ dệt hiện nay vẫn là đồ do cha ông truyền đời để lại. Sợi được mua từ các xã lân cận, mang về xử lý rồi mới đưa vào dệt. “Dân tộc Dao nơi đây không thể quên được nghề này”, bà Hạnh chia sẻ.
Trong đời sống tinh thần của người Dao, các sản phẩm thổ cẩm giữ vai trò quan trọng, thường được sử dụng trong các dịp lễ, tết, cưới hỏi, đón dâu hay lễ cấp sắc của nam giới.
Theo phong tục địa phương, con trai đủ 12 tuổi sẽ được làm lễ cấp sắc - nghi lễ đánh dấu sự trưởng thành. Trong dịp này, các cháu thường được tặng áo thổ cẩm truyền thống như một món quà ý nghĩa. Con gái khi đi lấy chồng cũng thường được gia đình hai bên tặng những bộ trang phục thổ cẩm truyền thống.
Theo Chi hội trưởng Phụ nữ Bản Cám Thượng Lý Thị Diễu, nghề dệt thổ cẩm thủ công nơi đây mang đậm bản sắc dân tộc. Tuy nhiên, hiện phần lớn sản phẩm vẫn chủ yếu phục vụ nhu cầu sinh hoạt trong gia đình, chưa phát triển thành hàng hóa phục vụ du lịch hay thương mại. Vì vậy, nghề dệt chưa thực sự tạo được việc làm và nguồn thu nhập ổn định cho phụ nữ địa phương.
Để nghề dệt thổ cẩm truyền thống tiếp tục được gìn giữ và phát triển ở Bản Cám Thượng không chỉ cần tình yêu nghề của những người tâm huyết mà còn rất cần sự quan tâm, hỗ trợ của các cấp, ngành thông qua những cơ chế, chính sách phù hợp.
Người dân nơi đây mong muốn sẽ được hỗ trợ nguồn nguyên liệu, quảng bá sản phẩm và tạo điều kiện để thế hệ trẻ tiếp cận nghề truyền thống để lưu giữ những giá trị văn hóa đặc sắc cho hôm nay và mai sau.