Ghép ba chính sách thành một kiến trúc
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các quốc gia thành công hiếm khi chỉ chọn một vài trường rồi cấp thêm ngân sách theo danh tiếng. Họ thường kết hợp ba lớp chính sách: Năng lực tổng thể của một số đại học dẫn dắt; sự xuất sắc theo lĩnh vực hoặc cụm liên ngành; và các trung tâm có sứ mạng chuyển hóa nghiên cứu thành công nghệ, sản phẩm và nhân lực.
Nghị quyết số 71-NQ/TW xác định giáo dục đại học là nòng cốt phát triển nhân lực trình độ cao, nhân tài và thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2035 có ít nhất 2 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu thế giới trong một số lĩnh vực; đồng thời yêu cầu sắp xếp mạng lưới, tạo cơ chế đặc thù, tăng tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình và tập trung nguồn lực. Đây là trụ cột về tổ chức và nhân lực.
Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg đã xác định 10 nhóm công nghệ chiến lược và danh mục 30 sản phẩm công nghệ chiến lược. Đây là trụ cột về ưu tiên công nghệ và đích đến sản phẩm.
Quyết định 1483/QĐ-TTg bổ sung trụ cột thứ ba là hệ thống phòng thí nghiệm và trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm để đưa công nghệ qua các giai đoạn từ nghiên cứu đến thị trường.
Tuy nhiên, nếu ba trụ cột này được triển khai theo ba tuyến hành chính độc lập, Việt Nam có thể tiếp tục gặp tình trạng đại học chạy theo chỉ số học thuật; chương trình công nghệ chạy theo nhiệm vụ ngắn hạn; phòng thí nghiệm chạy theo tỷ lệ sử dụng thiết bị; doanh nghiệp chỉ xuất hiện ở cuối quy trình.
Nút thắt không còn là thiếu một danh mục ưu tiên, mà là thiếu một kiến trúc phân công trách nhiệm xuyên suốt giữa cơ sở đào tạo, chủ thể làm chủ công nghệ và tổ chức đưa sản phẩm qua ngưỡng thị trường.
Mặt khác, nguồn lực của các đại học Việt Nam vẫn mỏng và phân tán so với đại học hàng đầu. Kinh nghiệm đối sánh quốc tế cho thấy vị thế toàn cầu gắn chặt với cường độ nguồn lực trên người học và giảng viên, tỷ trọng doanh thu nghiên cứu-doanh nghiệp, quy mô vốn tri thức, kiến trúc thể chế và năng lực chuyển hóa nguồn lực thành nhân tài, công nghệ và tác động.
Vì vậy, lựa chọn đại học tinh hoa không thể chỉ căn cứ vào thứ hạng; mà cũng không thể bỏ qua minh chứng về nguồn lực, chất lượng học thuật, năng lực quản trị và kết quả chuyển giao đã tích lũy.
Gắn đại học với công nghệ chiến lược
Cấu trúc 3-10-30 cần được đề xuất như một thiết kế chính sách nhằm tạo một “xương sống triển khai” để nối ba mục tiêu: Phát triển 3 đại học tinh hoa và trọng điểm, làm chủ 10 công nghệ chiến lược và tạo ra 30 sản phẩm công nghệ chiến lược.
Đại học tinh hoa phải là một thiết chế có năng lực cạnh tranh toàn diện, nghĩa là chất lượng và năng lực xuất sắc được thể hiện ở cấp toàn hệ thống, không chỉ ở một nhóm nghiên cứu đơn lẻ.
Mỗi đại học có thể gồm một số trường hoặc lĩnh vực trọng điểm và một số sản phẩm công nghệ chiến lược phù hợp với nhiệm vụ được giao. Vai trò của tầng này là tích hợp các ngành, huy động nguồn lực lớn, quản trị các chương trình liên ngành-liên vùng, đào tạo nhân tài, thu hút học giả quốc tế và tạo các nền tảng dùng chung có quy mô quốc gia.
Ba đại học không nên được mặc định là lựa chọn theo cấp hành chính hay quy mô hiện có. Cần tuyển chọn cạnh tranh hoặc giao nhiệm vụ trên cơ sở sứ mạng quốc gia, năng lực lãnh đạo, chất lượng đội ngũ, thành tích nghiên cứu-đào tạo, cường độ vốn tri thức, khả năng huy động đối tác và kế hoạch chuyển đổi trong 10 năm. Nhiệm vụ được đánh giá theo chu kỳ; nguồn lực tăng theo mốc kết quả và có cơ chế rút hoặc chuyển nhiệm vụ nếu không đạt được cam kết.
Mười đại học trọng điểm được tổ chức xoay quanh 10 nhóm công nghệ chiến lược, nhưng không nhất thiết áp dụng quan hệ cơ học “mỗi công nghệ-một trường”. Một đại học có thể dẫn dắt nhiều công nghệ gần nhau; một công nghệ phức tạp có thể do một liên minh đa trường cùng thực hiện, trong đó đơn vị dẫn dắt được chỉ định rõ ràng.
Điều bắt buộc là mỗi miền công nghệ phải có một chủ thể học thuật chịu trách nhiệm dài hạn về đội ngũ, đào tạo tiến sĩ, công nghệ lõi, dữ liệu, tiêu chuẩn và mạng lưới hợp tác quốc tế.
Đại học trọng điểm là nơi kết nối nghiên cứu cơ bản định hướng sử dụng với phát triển công nghệ. Mỗi đơn vị cần có ít nhất một trường/lĩnh vực tinh hoa và một hoặc hai sản phẩm công nghệ chiến lược; có kiến trúc sư trưởng công nghệ hoặc tổng công trình sư đủ uy tín; có danh mục công nghệ lõi phải làm chủ; và có chỉ tiêu về đào tạo nhân lực, sở hữu trí tuệ, hợp đồng nghiên cứu, chuyển giao và đóng góp cho sản phẩm chiến lược.
Ba mươi công nghệ chiến lược gắn với 30 sản phẩm công nghệ chiến lược là tầng hành động gần thị trường nhất. Không nên đồng nhất với một tòa nhà hoặc danh mục thiết bị; đó là một tổ chức nghiên cứu-đổi mới sáng tạo có đội ngũ lõi, người lãnh đạo khoa học, hạ tầng phù hợp, quy trình quản trị sở hữu trí tuệ, đối tác doanh nghiệp và lộ trình công nghệ-sản phẩm.
Tổ chức này có thể đặt tại cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu hoặc được tổ chức dưới dạng liên minh, nhưng phải gắn hữu cơ với đào tạo sau đại học và mạng lưới sử dụng chung.
Cơ chế vận hành đại học tinh hoa
Thứ nhất, tuyển chọn theo 2 bước. Bước sơ tuyển đánh giá năng lực nền tảng: sứ mạng, lãnh đạo, đội ngũ xuất sắc, văn hóa nghiên cứu, hạ tầng, thành tích đào tạo-nghiên cứu-chuyển giao và vốn tri thức. Bước thẩm định sâu nhằm đánh giá kế hoạch 5-10 năm, danh mục nhiệm vụ, đối tác, ngân sách vòng đời, rủi ro và đầu ra. Hội đồng quốc tế và các chuyên gia doanh nghiệp cần tham gia phù hợp với từng tầng.
Thứ hai, ký hợp đồng sứ mạng thay vì cấp danh hiệu hành chính. Hợp đồng xác định rõ Nhà nước đặt hàng gì, chủ thể nào chịu trách nhiệm, nguồn lực nào được bảo đảm, quyền tự chủ nào được trao, đầu ra theo từng mốc và điều kiện tiếp tục tài trợ.
Nguồn lực nên gồm tài trợ nền tảng dài hạn cho đại học tinh hoa; tài trợ chương trình cho đại học trọng điểm; và tài trợ theo giai đoạn công nghệ-sản phẩm. Cần cho phép chuyển vốn linh hoạt giữa nhân lực, thiết bị, dữ liệu, thử nghiệm và hợp tác quốc tế trong phạm vi kết quả đã cam kết.
Thứ ba, tổ chức theo ma trận 3-10-30 thay vì ba danh sách tách biệt. Mỗi đại học tinh hoa phải công bố những công nghệ và sản phẩm mình dẫn dắt; mỗi đại học trọng điểm phải chỉ rõ các sản phẩm công nghệ chiến lược và doanh nghiệp đồng hành; mỗi sản phẩm công nghệ chiến lược phải có đại học bảo trợ về đào tạo và một hoặc nhiều doanh nghiệp bảo trợ về nhu cầu thị trường.
Ma trận này phải được cập nhật trên nền tảng số quốc gia cùng với thông tin về thiết bị, chuyên gia, dịch vụ và kết quả.
Thứ tư, áp dụng cơ chế “tài trợ theo cổng”. Với sản phẩm công nghệ chiến lược, vốn lớn chỉ được giải ngân khi vượt qua cổng kỹ thuật và thương mại đã thỏa thuận.
Với đại học trọng điểm, các cổng gồm xây dựng nhóm lõi, chương trình tiến sĩ, công nghệ lõi, bằng sáng chế/chuyển giao và đóng góp cho sản phẩm. Với đại học tinh hoa, cổng đánh giá nằm ở năng lực toàn hệ thống: chất lượng đội ngũ, quốc tế hóa, vốn tri thức, đào tạo nhân tài, quản trị liên ngành và tác động quốc gia. Chỉ số phải đo được cả chất lượng, quy mô và khả năng chuyển hóa; không dùng số công bố hoặc thứ hạng như thước đo duy nhất.
Thứ năm, có cơ chế vào-ra và tái phân bổ. Kết quả đánh giá 3 năm và 5 năm trong Quyết định 1483 nên trở thành nguyên tắc chung của toàn bộ kiến trúc. Đơn vị dưới 70% cam kết phải có chương trình phục hồi; đơn vị tiếp tục không đạt phải bị giảm nhiệm vụ, thay lãnh đạo chương trình, thay tổ chức vận hành hoặc chuyển sản phẩm công nghệ chiến lược sang một liên minh khác.
Ngược lại, đơn vị vượt cam kết cần được mở rộng tài trợ và quyền tự chủ. “Tinh hoa” vì vậy là trạng thái được duy trì bằng kết quả, không phải là địa vị được cấp một lần.
Lộ trình triển khai
Giai đoạn 2026-2027 cần triển khai lập bản đồ năng lực quốc gia. Theo đó, cần rà soát toàn bộ các trường đại học, viện, phòng thí nghiệm, nhóm nghiên cứu, thiết bị, chuyên gia, bằng sáng chế, tiêu chuẩn và doanh nghiệp theo 10 công nghệ và 30 sản phẩm.
Trên cơ sở đó, công bố tiêu chí; tổ chức sơ tuyển; xác định khoảng trống năng lực; lựa chọn các liên minh thí điểm. Đây cũng là thời hạn Quyết định 1483 đặt ra cho các tiêu chí lựa chọn, bộ chỉ số, quy định vận hành dùng chung và nền tảng số.
Giai đoạn 2027-2028 ký hợp đồng sứ mạng và tái cấu trúc. Không cần chờ đủ cả 3-10-30 mới triển khai. Có thể chọn đợt đầu các đại học, lĩnh vực và sản phẩm công nghệ chiến lược đã có nền tảng; phê duyệt kế hoạch nhân lực, đầu tư theo vòng đời và đối tác; đồng thời tái cấu trúc các phòng thí nghiệm hiện có để tránh trùng lặp. Việc đầu tư mới chỉ được thực hiện khi nâng cấp, kết nối, dùng chung hoặc thuê dịch vụ không đáp ứng được nhu cầu.
Giai đoạn 2028-2030 vận hành theo các cổng kết quả. Ưu tiên hoàn thành các công nghệ lõi và sản phẩm có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa, hình thành khách hàng đầu tiên từ khu vực công hoặc doanh nghiệp dẫn dắt, phát triển tiêu chuẩn-kiểm định trong nước, và đưa nghiên cứu sinh, kỹ sư trẻ tham gia trực tiếp các dự án.
Cuối năm 2030, đánh giá độc lập để mở rộng, điều chỉnh hoặc thay thế các chủ thể; không mặc nhiên duy trì danh sách ban đầu.