Để mục tiêu kim ngạch xuất khẩu 10 tỷ USD là khả thi

Ông Lê Bá Ngọc (trong ảnh), Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam (Vietcraft), thẳng thắn chia sẻ với chúng tôi suy nghĩ của ông về những việc cần được cải thiện sớm nhất có thể trong lĩnh vực thiết kế hàng thủ công mỹ nghệ nói riêng, để Việt Nam sớm đạt được mục tiêu tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu lên mức 30% hằng năm, chạm mốc 10 tỷ USD trong năm 2030.
Để mục tiêu kim ngạch xuất khẩu 10 tỷ USD là khả thi

Hàng gia công vẫn chiếm tỷ lệ quá lớn

- Vietcraft hiện có 812 thành viên, chiếm khoảng 85% tổng số các công ty, doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam. Số lượng thành viên Hiệp hội làm chủ khâu thiết kế sản phẩm thay vì chỉ làm gia công theo mẫu của đối tác là như thế nào, thưa ông?

- Khi mới thành lập năm 2007, chúng tôi có 232 thành viên và phần lớn làm hàng gia công, có lẽ không quá 5% số doanh nghiệp có bộ phận thiết kế sản phẩm. Tuy nhiên, đến nay, đã có khoảng 20% số thành viên có sản phẩm tự thiết kế. Nhưng cũng phải nói rõ là hơn 50% trong số này vẫn dừng lại ở mức độ thiết kế lại (re-design), tức là thiết kế được xây dựng từ việc tham khảo, lấy chi tiết, cảm hứng từ thiết kế khác.

- Những con số rất đáng để suy ngẫm. Ông có thể chia sẻ về khoảng cách trị giá và giá trị giữa sản phẩm theo mẫu tự thiết kế và sản phẩm gia công dẫu cùng là hàng xuất khẩu?

- Có lẽ, các con số sẽ giúp ta hình dung dễ hơn. Thí dụ: sản phẩm gia công theo đơn đặt hàng của khách hàng của khách nước ngoài, đặc biệt của các nhà bán lẻ lớn, chỉ giúp đạt lợi nhuận dưới 10%, do các sản phẩm này được khách hàng hỏi giá toàn cầu, nhiều khi thông qua đấu giá cạnh tranh. Dễ hiểu vì sao doanh nghiệp có nhiều đơn hàng, bà con làng nghề, thợ thủ công có nhiều việc làm nhưng thu nhập vẫn không cao và cũng dễ hiểu tại sao nhiều doanh nghiệp đã không thể duy trì hoạt động khi các chi phí đầu vào có sự biến động. Trong khi đó, với sản phẩm tự thiết kế, ta có thể có lợi nhuận thường cao đến 50% hoặc hơn. Một số doanh nghiệp thành viên của Hiệp hội có bộ phận thiết kế độc lập đã phát triển rất ổn định và tăng trưởng nhanh ngay cả trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế.

- Vậy vì sao, không có nhiều doanh nghiệp đầu tư cho thiết kế mẫu sản phẩm, thưa ông?

- Một câu hỏi lớn! Rất khó khăn, doanh nghiệp cần người làm việc chứ ít có khả năng tự đào tạo nhân lực thiết kế. Có một thực tế đã tồn tại lâu nay, rất khó khăn trong việc tìm được sinh viên Việt Nam tốt nghiệp các chuyên ngành thiết kế mà có thể làm việc ngay trong lĩnh vực này. Các sinh viên ra trường thiếu kỹ năng thực tế và việc đào tạo lại cần rất nhiều thời gian và kinh phí. Chính vì thế, nhiều doanh nghiệp phải thuê nhà thiết kế nước ngoài, mặc dù chi phí thuê cũng không hề rẻ nhưng họ làm việc được luôn và đem lại lợi nhuận. Ngay Vietcraft, khi mới thành lập, chúng tôi cũng thuê các nhà thiết kế người Philippines, Thụy Điển… phát triển các mẫu sản phẩm mới.

Thiết kế là xương sống của sự phát triển

- Thưa ông, bên cạnh nguyên nhân chất lượng nguồn nhân lực nội địa chưa đạt yêu cầu, còn có các nguyên nhân nào khác dẫn đến việc chúng ta chưa chủ động về thiết kế mẫu hàng?

- Thay vì trả lời ngay câu hỏi này, tôi muốn đề cập một đúc rút của các nhà nghiên cứu và thực tiễn ở những quốc gia phát triển tốt về thiết kế là phải có đầy đủ năm trụ cột nền tảng cho hoạt động này: đào tạo hạ tầng cơ sở; các hoạt động hỗ trợ; quảng bá và các chính sách về thiết kế.

Soi chiếu năm trụ cột ấy trong riêng lĩnh vực hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu ở Việt Nam, ta có gì? Về lĩnh vực đào tạo, chúng ta có hàng chục trường đại học giảng dạy về thiết kế nhưng thực tế nhân lực cho ngành thiết kế, như tôi chia sẻ lúc trước, là đáng lo ngại; về hạ tầng cơ sở, chúng ta không có những trung tâm thiết kế và tạo mẫu được trang bị đầy đủ tài liệu liên quan xu hướng, các chất liệu mới, thiết bị máy móc luôn thay đổi trong sự phát triển như vũ bão của công nghệ; về quảng bá sản phẩm, cho đến nay, cả nước chúng ta vẫn chưa có định kỳ chuỗi hoạt động quảng bá sản phẩm thiết kế thủ công mỹ nghệ, như triển lãm, cuộc thi, tuần lễ dành riêng cho lĩnh vực này ở quy mô quốc gia, vùng, chứ chưa dám nói tới mức quy mô quốc tế…

Hai trụ cột còn lại, có lẽ tôi không nên phân tích thêm mà lấy thí dụ thực tiễn: Hà Nội có 1.350 làng có nghề thủ công truyền thống, không có một thủ đô nào trên thế giới lại được hưởng may mắn này. Nếu chỉ cần chú trọng xây dựng và thực hiện tốt chính sách thúc đẩy phát triển hệ thống làng nghề, tạo chuỗi kết nối giữa chúng thì tôi tin rằng, làng nghề chính là một từ khóa vô cùng hấp dẫn để thu hút thêm hàng triệu khách du lịch đến thành phố, theo đó, lượng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tại chỗ chắc chắn sẽ tăng nhanh. Nhưng thực tế lâu nay, hầu hết các làng nghề quanh Hà Nội vẫn chỉ hoạt động cầm chừng, mẫu mã sản phẩm không có nhiều thay đổi và mặc dù Hà Nội đã là thành phố thiết kế sáng tạo nhưng chưa có các hoạt động tương xứng với danh hiệu này, ít nhất là riêng trong lĩnh vực làng nghề…

Sản phẩm đan cói của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Trang tại hội chợ quốc tế Lifestyle Vietnam 2019 do Vietcraft tổ chức.
Sản phẩm đan cói của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Trang tại hội chợ quốc tế Lifestyle Vietnam 2019 do Vietcraft tổ chức.

- Ông đang đề cập đến một sự hoài phí…

- Rất đáng tiếc, nhìn lại lịch sử phát triển của thiết kế nói chung, có thể thấy rằng, thiết kế đóng vai trò sống còn trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh, không chỉ của riêng từng công ty mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành hàng và trên hết là nâng cao năng lực cạnh tranh của các quốc gia. Từ năm 1845, Thụy Điển là nước đầu tiên trên thế giới xây dựng chính sách thiết kế để nâng cao năng lực cạnh tranh, Phần Lan cũng bắt đầu có chính sách thiết kế từ năm 1875 trước khi Mỹ bắt đầu triển khai từ năm 1913... Năm 1944, Chính phủ Anh đã thành lập Hội đồng Thiết kế quốc gia.

Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) cũng đã nghiên cứu và kết luận: Quốc gia nào đầu tư cho thiết kế thì sẽ nâng cao được hình ảnh quốc gia và tính cạnh tranh của quốc gia đó trên trường quốc tế. Hiện nay, đã có 44 quốc gia đang tập trung phát triển thiết kế. Hội đồng Anh đã có nghiên cứu gần 2.000 doanh nghiệp trong ngành công nghiệp sáng tạo của họ về giá trị của thiết kế, cho thấy kết quả: Doanh nghiệp đầu tư cho thiết kế tốt thì đem lại sự tăng doanh thu bằng 2,25 lần so doanh nghiệp không đầu tư cho thiết kế. Đến nay, Hàn Quốc được coi là thủ phủ của châu Á về thiết kế. Còn tại Thái Lan, Văn phòng Thủ tướng là đơn vị quản lý trực tiếp và hỗ trợ ngân sách cho Trung tâm thiết kế và sáng tạo quốc gia. Nhìn sang Philippines cũng đã có Trung tâm thiết kế và phát triển ngành thủ công. Gần 30 năm nay, Philippines cũng là nước xuất khẩu nhân lực thiết kế mạnh, khoảng 40 nghìn nhà thiết kế mọi lĩnh vực là người Philippines đã và đang làm việc ở Trung Quốc…

- Việt Nam chúng ta cần phải làm gì để cải thiện tình hình hoài phí tiềm năng, năng lực của chính mình, theo ông?

- Với vị thế ngành hàng thủ công của Việt Nam, với sự đa dạng về nguyên liệu và chất liệu thiết kế của một đất nước nông nghiệp như Việt Nam, với các kỹ năng của người thợ thủ công được duy trì và phát triển qua nhiều thế hệ, với sự đa dạng về văn hóa của cộng đồng 54 dân tộc anh em…, tôi tin tưởng chắc chắn rằng, nếu chúng ta đầu tư vào phát triển hệ thống thiết kế một cách bài bản cho ngành thủ công ở Việt Nam thì kim ngạch xuất khẩu cho ngành không chỉ dừng lại con số gần 3 tỷ USD như hiện nay mà có thể sớm đạt được tốc độ tăng trưởng không dưới 30% hằng năm và đạt con số 10 tỷ USD đến năm 2030. Tôi nhấn mạnh cụm từ "đầu tư vào phát triển hệ thống thiết kế một cách bài bản" tức là không chỉ câu chuyện tài chính mà là câu chuyện chính sách, câu chuyện liên quan các chủ thể cụ thể đứng ra thực hiện và chịu trách nhiệm về việc phát triển hệ thống thiết kế này.

- Chân thành cảm ơn ông về cuộc trò chuyện!

Có thể bạn quan tâm

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.

Khách du lịch tham gia các hoạt động trải nghiệm trong tour Về làng học thêu tay. Ảnh: DÃ LIÊN

Tạo sức hút và năng lực cạnh tranh mới

Mô hình trải nghiệm làng nghề ở Hà Nội đã có từ lâu, như ở làng gốm Bát Tràng, song phần lớn đều dừng ở mức đơn giản, nặng tính “cưỡi ngựa xem hoa”, hoặc như một gia vị cho hoạt động tham quan. Thời gian gần đây, nhiều làng nghề đã đổi mới cách làm, từ đó tạo nên sức hút và năng lực cạnh tranh mới.

Trước mắt anh Phương Nam, Côn Đảo mở ra biết bao nhịp sống xanh, nguyên sơ, trong trẻo. Ảnh: MINH LÊ

Những “điểm chạm” nguyên sơ, trong trẻo

Côn Đảo lâu nay thường được nhắc đến như một vùng đất chứa đựng ký ức lịch sử bi tráng của dân tộc, với hệ thống nhà tù của thực dân và đế quốc cùng những trang sử đấu tranh của các chiến sĩ cách mạng. Nhưng đối với nhiều du khách, sau những “điểm chạm” vào thiên nhiên ở nơi này, Côn Đảo còn là biết bao nhịp xanh, nguyên sơ, trong trẻo.

Bên cạnh gia đình luôn là khoảng thời gian chất lượng để vun trồng một thế hệ hạnh phúc. Ảnh: UNICEF Việt Nam

Hôm nay, tôi đã lắng nghe con mình chưa?

Trong nhiều cuộc tiếp xúc với phụ huynh, rất nhiều cha mẹ chia sẻ với tôi một nguyện vọng rất thật: “Mong con được hạnh phúc”. Song, khi được hỏi: “Hạnh phúc là gì?”, nhiều người lại ngập ngừng.

Bà Nguyễn Phạm Duy Trang.

An toàn là nền móng của hạnh phúc!

Mùa hè không chỉ là khoảng thời gian nghỉ ngơi, vui chơi của trẻ em, mà còn là thời điểm đặt ra nhiều nỗi lo về an toàn, sức khỏe tinh thần và môi trường phát triển của các em trong bối cảnh xã hội hiện đại.

Ước mơ trở thành phi hành gia của bạn Nguyễn Lê Hà Vy, lớp 5B, Trường tiểu học Phúc Tân.

Ðiều chúng em mong muốn!

Trong guồng quay hối hả của cuộc sống hiện đại, nhiều khi những mong mỏi của trẻ em chưa được lắng nghe, chưa được thấu cảm trọn vẹn. Cần lắm những diễn đàn, những kênh kết nối để trẻ em được cất tiếng nói.

Ảnh sử dụng đồ hoạ AI.

Agentic AI - Cơ hội không chia đều cho tất cả

Năm 2026, Agentic AI nổi lên như hiện tượng công nghệ định hình lại cách thế giới làm việc. Bài toán đặt ra cho Việt Nam không còn là "có nên ứng dụng", mà phải "làm thế nào để bắt kịp và làm chủ" trong bối cảnh công nghệ đang tái định nghĩa năng suất, lao động và lợi thế cạnh tranh.