Đầu tư cho logistics để tăng trưởng sản xuất và xuất khẩu nông sản

Vận chuyển gạo tại cảng của doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: ĐỨC AN)
Vận chuyển gạo tại cảng của doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: ĐỨC AN)

Những năm qua, nhờ lợi thế sản xuất và thành công trong mở rộng thị trường, nông sản Việt Nam đã có mặt tại hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, hiện nay, các vấn đề liên quan logistics đang trở thành điểm nghẽn lớn đối với xuất khẩu do chi phí vận chuyển liên tục tăng cùng các yêu cầu ngày càng cao về quản trị dữ liệu, phát thải thấp và minh bạch chuỗi cung ứng.

Gánh nặng chi phí

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), giá cước vận chuyển container từ châu Á đi Bắc Mỹ và châu Âu tiếp tục duy trì ở mức cao trong tháng 7/2026. Theo số liệu tổng hợp, giá cước tuyến Viễn Đông đi Bờ Tây Bắc Mỹ khoảng 7.072 USD/container 40 feet (FEU), tăng 66,6%; giá cước tuyến Viễn Đông đi Bắc Âu khoảng 5.457 USD/FEU, tăng 42,6% so với tháng trước.

Với hàng thủy sản đông lạnh, chi phí logistics tác động trực tiếp đến khả năng cạnh tranh về giá, tiến độ giao hàng và biên lợi nhuận của doanh nghiệp. Chi phí vận chuyển tăng khiến doanh nghiệp khó giữ giá chào bán, khó cạnh tranh với các nước có lợi thế sản xuất quy mô lớn hoặc vị trí logistics thuận lợi hơn.

Đối với mặt hàng trái cây tươi, áp lực còn lớn hơn do thời gian bảo quản ngắn. Ông Nguyễn Đình Tùng, Tổng Giám đốc Công ty Vina T&T Group cho biết: Giá cước container lạnh đi Mỹ có thời điểm lên tới 7.800 USD/FEU. Chưa kể, khi tình hình địa chính trị diễn biến phức tạp, thời gian vận chuyển có thể kéo dài gần gấp đôi so với bình thường. Để bảo đảm chất lượng sản phẩm và tiến độ giao hàng, nhiều lô hàng buộc phải chuyển sang vận tải hàng không với chi phí còn cao hơn nhiều. Những yếu tố này làm suy giảm mạnh lợi nhuận của doanh nghiệp.

Bên cạnh chặng vận tải quốc tế, chi phí logistics của doanh nghiệp còn phát sinh ở chặng nội địa. Ông Nguyễn Văn Mười, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam cho biết: Hiện khoảng 80% lượng nông sản vẫn phụ thuộc vào vận tải đường bộ trong khi đường thủy nội địa và đường sắt - những phương thức có chi phí thấp hơn - lại chưa được khai thác hiệu quả. Tại các vùng sản xuất tập trung như Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên, hạ tầng kết nối vùng nguyên liệu còn hạn chế, trong đó nhiều tuyến đường và cầu nội đồng chưa đáp ứng được xe container, buộc hàng hóa phải trung chuyển nhiều lần trước khi đến cảng.

Ngoài ra, tại các đầu mối giao thương lớn vẫn thiếu trung tâm logistics nông sản quy mô. Các dịch vụ sơ chế, đóng gói, kho lạnh, kiểm dịch thực vật và chiếu xạ nằm phân tán rải rác khiến doanh nghiệp phải vận chuyển hàng hóa qua nhiều khâu dẫn đến kéo dài thời gian và tăng chi phí.

“Theo tính toán, khâu vận chuyển hiện chiếm khoảng 30% giá thành của nhiều mặt hàng rau quả, riêng logistics nội địa đã chiếm khoảng 17%”, ông Mười nhấn mạnh.

Tối ưu hóa toàn bộ chuỗi cung ứng

Khi chi phí phát sinh ở cả chuỗi logistics nội địa và quốc tế, lợi thế của nông sản Việt Nam sẽ bị thu hẹp. Để khơi thông điểm nghẽn này cần tối ưu hóa toàn bộ chuỗi cung ứng thông qua đầu tư đồng bộ hạ tầng logistics, hạ tầng dữ liệu và năng lực vận tải.

Khi chi phí phát sinh ở cả chuỗi logistics nội địa và quốc tế, lợi thế của nông sản Việt Nam sẽ bị thu hẹp. Để khơi thông điểm nghẽn này cần tối ưu hóa toàn bộ chuỗi cung ứng thông qua đầu tư đồng bộ hạ tầng logistics, hạ tầng dữ liệu và năng lực vận tải.

Ông Trần Chí Dũng, Ủy viên Thường vụ Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam (VLA), phụ trách logistics nông nghiệp cho biết: Các quốc gia hiện đang cạnh tranh bằng hạ tầng dữ liệu được xác thực cho nên nếu thiếu hệ thống liên thông từ vùng trồng, logistics, kiểm dịch, chứng nhận carbon đến hải quan thì doanh nghiệp vẫn chịu cảnh “mỗi cửa một hồ sơ”, làm chậm tốc độ tiếp cận thị trường. Do đó, cần cắt giảm thời gian xử lý thủ tục và chứng từ, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển các đơn hàng lớn. VLA đề xuất xây dựng hạ tầng xác thực dữ liệu xuất khẩu nông sản, đồng thời kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường trình Chính phủ sớm ban hành cơ chế công nhận giá trị pháp lý của dữ liệu xác thực số trong chuỗi cung ứng quốc tế.

Bên cạnh hạ tầng dữ liệu, việc rút ngắn thời gian thông quan là một trong những giải pháp quan trọng để giảm chi phí logistics. Mặt khác, các chính sách mới từ EU như Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM), Quy định chống phá rừng (EUDR), các tiêu chí môi trường, xã hội, quản trị (ESG) cũng đang đặt ra yêu cầu cao hơn về giảm phát thải và minh bạch dữ liệu trong quá trình đưa hàng hóa đến thị trường. Vì vậy, doanh nghiệp cần hướng đến logistics xanh với các minh chứng từ vùng trồng, hành trình logistics đến dấu chân carbon.

Ở góc độ vận tải, ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký VASEP kiến nghị Chính phủ có chương trình phát triển đội tàu container và container lạnh của Việt Nam, từng bước nâng cao tính chủ động trong vận chuyển hàng xuất khẩu, giảm phụ thuộc vào các hãng tàu nước ngoài và tăng khả năng ứng phó khi thị trường vận tải biển biến động.

Ngoài ra, trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu dễ bị tác động bởi xung đột địa chính trị, thiên tai, các doanh nghiệp còn cần linh hoạt thích ứng để bảo đảm năng lực logistics. Thực tế tại thị trường Trung Đông thời gian qua là một minh chứng rõ nét.

Khi Eo biển Hormuz còn tiềm ẩn bất ổn, doanh nghiệp nên chủ động xây dựng các phương án vận chuyển linh hoạt thay vì phụ thuộc vào một tuyến đường cố định. Thí dụ tại UAE, doanh nghiệp cân nhắc khai thác các cảng nằm ngoài Eo biển Hormuz như Fujairah hoặc Khor Fakkan để duy trì dòng chảy hàng hóa. Mặc dù có thể phát sinh thêm chi phí vận chuyển nhưng phương án này giúp giảm rủi ro gián đoạn chuỗi cung ứng để giao hàng đúng hạn.

Ông Trương Xuân Trung, Phụ trách Thương vụ Việt Nam tại Các Tiểu Vương quốc Arab thống nhất (UAE)

Theo ông Trương Xuân Trung, Phụ trách Thương vụ Việt Nam tại Các Tiểu Vương quốc Arab thống nhất (UAE), khi Eo biển Hormuz còn tiềm ẩn bất ổn, doanh nghiệp nên chủ động xây dựng các phương án vận chuyển linh hoạt thay vì phụ thuộc vào một tuyến đường cố định. Thí dụ tại UAE, doanh nghiệp cân nhắc khai thác các cảng nằm ngoài Eo biển Hormuz như Fujairah hoặc Khor Fakkan để duy trì dòng chảy hàng hóa. Mặc dù có thể phát sinh thêm chi phí vận chuyển nhưng phương án này giúp giảm rủi ro gián đoạn chuỗi cung ứng để giao hàng đúng hạn.

Từ những biến động của chuỗi cung ứng toàn cầu cho thấy đầu tư vào logistics đang trở thành một phần quan trọng hình thành năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam. Đây cũng là hướng mở ra dư địa mới cho tăng trưởng sản xuất và xuất khẩu giai đoạn tới.

Có thể bạn quan tâm

[Infographic] Chứng khoán ngày 28/10/2026: VN-Index tiếp tục tích lũy

[Infographic] Chứng khoán ngày 28/10/2026: VN-Index tiếp tục tích lũy

Thị trường đã phục hồi tốt ở cuối phiên giao dịch 28/10 với lực cầu cải thiện tương đối tốt. Kết phiên, VN-Index tăng 4,78 điểm (+0,27%) lên mức 1.761,65 điểm, dưới kháng cự mạnh 1.800 điểm. Độ rộng trên HoSE nghiêng về tiêu cực với 130 mã tăng, 183 mã giảm, 117 mã giữ giá tham chiếu.

Cống Cái Bé góp phần kiểm soát mặn và điều tiết nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản vùng ven biển Tây Đồng bằng sông Cửu Long. (Ảnh: Anh Trường)

Tháo gỡ điểm nghẽn trong vận hành thủy lợi liên tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long

Hệ thống công trình thủy lợi liên tỉnh giữ vai trò quan trọng điều tiết nguồn nước, phục vụ sản xuất và sinh hoạt ở Đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, hạ tầng chưa đồng bộ, nhu cầu sử dụng nước khác nhau giữa các vùng sản xuất, cơ chế phối hợp chưa thật sự thống nhất đang đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản lý, vận hành.

Các tuyến đường kết nối T1, T2 sân bay Long Thành đã hoàn thành. (Ảnh: THIÊN VƯƠNG)

Đồng bộ giao thông, sẵn sàng khai thác sân bay Long Thành

Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam phối hợp các bộ, ngành, địa phương hoàn thiện phương án phân luồng giao thông nội cảng, mở rộng mạng lưới xe buýt và kết nối liên vùng, bảo đảm giao thông thông suốt khi Cảng hàng không quốc tế Long Thành đi vào khai thác.

Hiện thực hóa Nghị quyết 70-NQ-TW: Tự chủ năng lượng trước yêu cầu tăng trưởng mới.

Hiện thực hóa Nghị quyết 70-NQ/TW: Tự chủ năng lượng trước yêu cầu tăng trưởng mới

Sau hơn một năm triển khai Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Nghị quyết 70-NQ/TW), công tác hoàn thiện thể chế, chính sách đã có những chuyển động quan trọng, tạo nền tảng thúc đẩy ngành năng lượng phát triển trong giai đoạn mới.

Cục trưởng Cục Thuế Mai Xuân Thành và các chuyên gia KPMG tại phiên thảo luận cấp cao. (Ảnh: Cục Thuế)

Ngành thuế đẩy nhanh quá trình nghiên cứu và phát triển “trợ lý cao cấp” cho người nộp thuế

Tại hội thảo thuế và pháp lý thường niên Tax & Legal Institute 2026 do KPMG tổ chức chiều 27/10, Cục trưởng Cục Thuế Mai Xuân Thành cho biết, ngành Thuế đang xây dựng hệ thống công nghệ thông tin theo hướng trở thành “trợ lý cao cấp” của người nộp thuế, đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong kiểm tra, đánh giá rủi ro thuế.

Đại biểu Trần Quốc Tuấn (Đoàn Vĩnh Long) phát biểu tại hội trường. (Ảnh: DUY LINH)

Minh bạch cơ chế quản lý, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh

Các đại biểu Quốc hội đề nghị làm rõ căn cứ xác lập độc quyền, bổ sung quy định kiểm soát hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên môi trường số, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp.

Áp dụng quản lý rủi ro giúp nâng cao hiệu quả kiểm soát, giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp. (Ảnh: CHQ)

Để tuân thủ trở thành lợi thế của doanh nghiệp

Doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật cần được hưởng thuận lợi tương xứng khi làm thủ tục hải quan. Gắn quản lý rủi ro với quản lý tuân thủ và dữ liệu số đang mở hướng giảm can thiệp với doanh nghiệp có lịch sử chấp hành tốt, đồng thời tập trung kiểm soát đối tượng có nguy cơ cao.

Thị trường chứng khoán Việt Nam tiếp tục được hoàn thiện theo hướng minh bạch, an toàn và hiệu quả. (Ảnh: TTXVN)

Gỡ rào cản kinh doanh, tạo thuận lợi cho thị trường chứng khoán

Dự thảo sửa đổi Luật Chứng khoán đề xuất cắt giảm nhiều điều kiện kinh doanh, đơn giản hóa hồ sơ, thủ tục và thúc đẩy giao dịch điện tử. Những thay đổi này hướng tới giảm chi phí tuân thủ, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh chứng khoán và nhà đầu tư, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý thị trường.

Điện gió Quảng Bình. (Ảnh: THẾ ĐẠI)

Thích ứng với các quy định xanh của EU: Yêu cầu pháp lý và giải pháp cho hàng xuất khẩu Việt Nam

Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EU); Cơ chế điều chỉnh carbon biên giới của EU khi được áp dụng và thực thi đầy đủ đặt ra những yêu cầu mới, cao hơn cho hàng xuất khẩu của nước ta, đồng thời tạo sức ép tích cực thúc đẩy chuyển đổi xanh, nâng cao vị thế của hàng Việt Nam trên thị trường thế giới.