Còn có một Đền Hùng ở Kiên Giang

NDĐT -Mùng Mười tháng ba năm nay, chúng tôi về ấp Đông Bình (xã Thạnh Đông B, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang), nơi có ngôi đền Quốc Tổ Hùng Vương, được nhân dân xây dựng cách đây 55 năm.

Cũng như vố sô người dân khác, chúng tôi trở về đền Quốc Tổ Hùng Vương ở ấp Đông Bình trong một tâm thức hướng về tổ tiên, nòi giống, cội nguồn.

Theo ông Phan Trường Chiến, nguyên Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Kiên Giang, ngôi đền Quốc tổ Hùng Vương ở Đông Bình được hình thành tại chính ngôi nhà mà chính quyền Ngô Đình Diệm dựng lên làm nơi cấp phát nhu yếu phẩm cho người dân di cư từ Bắc vào, sau đó được tận dụng làm trạm y tế. Lúc này “thủ lĩnh” các tôn giáo cũng lăm le xin ngôi nhà và phần đất rộng hơn ba hécta này để xây dựng cơ sở thờ tự. Biết được ý đồ đó, các vị bô lão trong vùng đã nảy ra sáng kiến xin toàn bộ khu đất này làm đền Quốc tổ Hùng Vương, thờ tổ chung của cả dân tộc.

Cụ Đào Xuân Đoàn - một trong những người sáng lập Đền kể: “Tôi năm nay đã 90 tuổi, là một trong những người từ miền Bắc vào Nam đợt đầu. Ngôi Đền do chúng tôi dựng lên năm 1957, với tâm nguyện làm nơi tưởng nhớ cội nguồn của “con Hồng, cháu Lạc”. Tuy nhiên, để giữ được đền là không chỉ có mồ hôi, nước mắt của chúng tôi mà của tất cả người dân nơi đây. Trong đó công đầu phải kể đến những cụ Lưu Thái Dương, Phạm Văn Đình, Bùi Văn Phát và Nguyễn Văn Thoại”.

Cụ Đoàn cho biết: Những năm đầu thành lập, đền chỉ có người dân trong ấp Đông Bình mang phẩm vật tự sản đến cúng vào các dịp lễ tết, nhất là ngày mùng Mười tháng ba âm lịch. Tiếng thơm lan xa, nhiều người dân tìm đến. Thấy vậy, chính quyền Sài Gòn tìm cách gây khó. Để bảo vệ Đền, người dân đã phải đấu tranh trực diện, thậm chí hàng chục lần cử đại diện lên Sài Gòn đấu tranh trực tiếp với chính quyền ngụy. Trước áp lực của lòng dân, chính quyền Sài Gòn buộc phải nhượng bộ để người dân sử dụng ngôi đền và ba héc ta đất chung quanh.

Rộng 80 m2, Đền có ba gian và một chái phía sau, tường gạch, cột bê tông cốt thép, mái tôn, được thiết kế theo kiến trúc ba gian, tái hiện lại phần hồn của Đền Hùng ở Phú Thọ vốn có ba đền là Hạ, Trung, Thượng. Phía trước có bàn thờ Bác Hồ. Bên trong đền có hai bàn thờ, bàn thờ chính thờ các Vua Hùng, có bài vị bằng chữ Hán. Bàn thờ còn lại thờ các vị minh quân và thờ Cửu huyền thất tổ. Chung quanh có các bức hoành phi và câu đối. Các cụ cho biết: Toàn bộ hoành phi, liễn đối đều do cụ Đoàn sáng tác, nội dung ngợi ca, tôn vinh công đức vô biên của Quốc tổ, như: “Đức triệu sơn hà hùng cứ Văn Lang xuân tuyệt đối/ Công sinh chủng tộc vương ân Hồng Lạc tụng vô biên”.

Năm 2001, UBND xã Thạnh Đông B quyết định thành lập Ban tế tự. Đến năm 2004, Đền thờ Quốc tổ Hùng Vương ở Đông Bình được UBND tỉnh xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Từ đó đến nay, Đảng bộ, chính quyền và các tầng lớp nhân dân huyện Tân Hiệp đều tổ chức trang trọng lễ Giỗ Tổ .

Sau khi được công nhận Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh, UBND tỉnh Kiên Giang đã phê duyệt kinh phí hơn 500 triệu đồng trùng tu, tôn tạo và mở rộng lên gần 7000 m2. Trong hai năm (2007-2008), tỉnh Kiên Giang tiếp tục đầu tư gần 1,7 tỷ đồng làm hàng rào, xây bờ kè, trồng cây xanh. Năm 2008 Tỉnh chỉ đạo mở rộng di tíchlên 20 nghìn m2. Tuy nhiên đánh dấu sự phát triển của ngôi đền Quốc tổ Hùng Vương ở Đông Bình là sự kiện năm ngoái khi Kiên Giang là một trong chín địa phương cả nước được phép tổ chức lễ hội quốc gia. Người có công lớn trong việc đầu tư đưa ngôi đền từ chỗ tự phát dân gian của một địa phương nhỏ trở thành một lễ hội tầm vocs là ông Huỳnh Vĩnh Ái, Thứ trưởng Bộ Văn hóa-Thể thao-Du lịch, nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang và Bí thư Huyện ủy Tân Hiệp.

Năm nay, lễ Giổ tổ Hùng Vương ở Đông Bình cũng diễn trong hai ngày 13 và 14-4 (mồng Chín và Mười tháng ba) với hai phần lễ và hội. Lễ Giỗ tổ Hùng Vương chính thức diễn ra vào ngày 14-4, với những nghi nghi thức truyền thống.Trong không khí trang nghiêm những người đến với đền Quốc tổ Hùng Vương ở Đông Bình ngoài hướng về cội nguồn, nòi giống, tổ tiên còn có chung một mong đợi: “Môt ngày không xa nữa, nơi cuối trời Nam, trên làng quê Đông Bình sẽ sừng sững hiện lên ngôi đền Quốc tổ Hùng Vương uy nghiêm, hoành tráng (dự án đã quyệt với tổng kinh phí khoảng 40 tỷ đồng), xứng với tầm vóc là nơi thờ tự tổ tiên của một dân tộc con Hồng, cháu Lạc.

Có thể bạn quan tâm

Các đồng chí lãnh đạo tỉnh cùng đông đảo cựu chiến binh, chiến sĩ Điện Biên tham quan triển lãm "Từ ký họa chiến trường đến sắc màu đương đại".

Đặc sắc triển lãm “Từ ký họa chiến trường đến sắc màu đương đại” tại Điện Biên

Nhân kỷ niệm 72 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/2026), Bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ (Điện Biên) tổ chức trưng bày, triển lãm 28 tác phẩm ký họa tiêu biểu về Chiến dịch Điện Biên Phủ của các họa sĩ Ngô Mạnh Lân, Phạm Thanh Tâm và Dương Hướng Minh với chủ đề “Từ ký họa chiến trường đến sắc màu đương đại”.

Nghệ nhân Nguyễn Công Đạt thực hiện in liễn làng Chuồn trong không gian Ngự Hà Viên, Huế. (Ảnh: MẠNH HÀO)

Những di sản sống của làng nghề

Có những làng nghề không mất đi hẳn nhưng lặng lẽ rút khỏi đời sống, chỉ còn lại trong ký ức của một vài người già hay trong những dấu vết mờ nhạt đâu đó.

Trần Ngọc Vàng và nghệ sĩ Thanh Thủy trong phim. (Ảnh: Galaxy Studio)

“Heo Năm Móng” đạt top 1 phòng vé điện ảnh mùa lễ 30/4

“Heo Năm Móng” nhanh chóng trở thành hiện tượng trên các diễn đàn điện ảnh và mạng xã hội, không chỉ nhờ chiến lược truyền thông hiệu quả, mà còn bởi hiệu ứng lan tỏa sau công chiếu. Sau 6 ngày ra mắt, phim chạm mốc 50 tỷ đồng, trở thành phim có doanh thu Top 1 phòng vé trong thời điểm ra mắt.

Nhà báo Hữu Việt và các diễn giả Phạm Thị Kim Oanh, Phan Cẩm Tú tại buổi tọa đàm. (Ảnh: HỒNG QUÂN)

Bảo vệ bản quyền từ góc nhìn của lĩnh vực điện ảnh

Trong các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, điện ảnh là một trong số những loại hình bị vi phạm bản quyền nhiều nhất. Ở kỷ nguyên số, công nghệ và trí tuệ nhân tạo là sự tiến bộ nhưng cũng là những công cụ đắc lực để sao chép và phát tán sản phẩm điện ảnh, gây ảnh hưởng nặng nề nhiều mặt.

Phối cảnh công trình biểu tượng bông lúa Cà Mau.

Giá trị văn hóa từ "Biểu tượng bông lúa" ở Cà Mau

Sự phát triển của một địa phương trong kỷ nguyên mới không chỉ được đong đếm một cách cơ học bằng những con đường rải nhựa, hay những cây cầu bê-tông nối nhịp đôi bờ. Tầm vóc và sức sống của một vùng đất còn được khắc họa đậm nét qua những biểu tượng văn hóa mang tầm nhìn chiến lược.

Cảnh trong vở kịch ngắn “Chuyện nhà chị Tín” của Nhà hát Kịch Việt Nam biểu diễn tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. (Ảnh: THƯƠNG NGUYỄN)

Mở lối để sân khấu tiếp cận công chúng

Không thiếu những cuộc thi, liên hoan được tổ chức rầm rộ, những vở diễn mới liên tục ra mắt mỗi năm, nhưng sân khấu nước ta vẫn đang loay hoay đi tìm khán giả. Lý do tình trạng này là bởi các đơn vị chức năng chưa xây được nhịp cầu đủ mạnh để kết nối với công chúng trong môi trường truyền thông đang thay đổi từng ngày.

Các văn nghệ sĩ trong chuyến đi thực tế tại mỏ than ở Quảng Ninh vào dịp Ngày Thơ Việt Nam năm 2026. (Ảnh: THIÊN AN)

Chuyển động mới của văn học viết về công nhân

Trong dòng chảy của văn học đương đại, đề tài công nhân từng là mạch nguồn quan trọng, được khai thác nhiều, nhưng cũng có giai đoạn gần như vắng bóng. Vài năm trở lại đây, mảng đề tài này được quan tâm hơn, không còn bó hẹp trong khuôn mẫu cũ mà thể hiện góc nhìn đa chiều, gắn với nhịp vận động của xã hội hiện đại. 

Hơn 50.000 khán giả có mặt tại Sân vận động quốc gia Mỹ Đình thưởng thức chương trình “Tổ quốc trong tim”. (Ảnh THÀNH ĐẠT)

Hoàn thiện thể chế, tạo đà cho văn hóa bứt phá

Ngày 24/4, Quốc hội chính thức thông qua Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam với tỷ lệ tán thành cao (477/489 đại biểu). Nghị quyết đánh dấu bước chuyển quan trọng trong hoàn thiện thể chế, tạo đà cho văn hóa thật sự bứt phá, trở thành nguồn lực nội sinh và động lực đưa đất nước phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn mới.