Chuyển đổi số để bảo tồn, phát huy bền vững giá trị di sản

Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, số hóa tiến tới chuyển đổi số di sản được coi là xu hướng tất yếu. Ðây cũng là giải pháp căn cốt để tối ưu hóa khả năng lưu trữ, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa theo hướng bền vững. Song, để thực hiện công tác này một cách đồng bộ nhằm tạo thuận lợi trong khai thác, chia sẻ, sử dụng dữ liệu số về di sản, các bộ, ngành liên quan cần vào cuộc quyết liệt.
Du khách trải nghiệm dịch vụ giải trí sử dụng công nghệ thực tế ảo VR3D tại Di tích Cố đô Huế. (Ảnh DUY ÐĂNG)
Du khách trải nghiệm dịch vụ giải trí sử dụng công nghệ thực tế ảo VR3D tại Di tích Cố đô Huế. (Ảnh DUY ÐĂNG)

Thời gian qua, nhận thức được tầm quan trọng của việc chuyển đổi số di sản, nhiều địa phương, đơn vị sở hữu di sản bước đầu có những nỗ lực trong tiếp cận các thành quả công nghệ mới để tạo ra giá trị gia tăng cho di sản.

Cầu nối đưa di sản đến gần hơn với công chúng

Tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia, những năm gần đây, hàng loạt hoạt động ứng dụng công nghệ trong trưng bày, kết nối du khách với hiện vật đã được thực hiện như: các trưng bày ảo về chủ đề Việt Nam thời tiền sử, văn hóa Ðông Sơn, bảo vật quốc gia…; các tour tham quan trực tuyến "Về thời Hồng Bàng", "Văn hóa Ðại Việt thời Lý Trần", "Việt Bắc-Thủ đô gió ngàn"... được đẩy mạnh trong giai đoạn đại dịch Covid-19 thông qua các nền tảng Zoom, Google Meet… Tại Thừa Thiên Huế, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã triển khai app hướng dẫn tham quan Di tích Huế, ứng dụng công nghệ trải nghiệm thực tế ảo VR3D, quét mã QR Code giúp du khách nhìn ngắm, tìm hiểu hiện vật bằng tương tác 3D; Bảo tàng Hồ Chí Minh Thừa Thiên Huế tổ chức nhiều cuộc triển lãm 3D giới thiệu các di tích, hiện vật gắn với Chủ tịch Hồ Chí Minh… Thanh Hóa cũng áp dụng công nghệ thực tế ảo, thực tế tăng cường trên ứng dụng điện thoại thông minh để tái hiện sinh động Khu di tích lịch sử Lam Kinh, Thành nhà Hồ… Chuyển đổi số đã góp phần mang đến những trải nghiệm khác biệt, tạo cầu nối để đưa những thông tin, giá trị di sản đến gần hơn với du khách và người dân.

Theo số liệu từ Cục Di sản Văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), Việt Nam hiện có 8 di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, 14 di sản văn hóa phi vật thể, 7 di sản tư liệu được UNESCO ghi danh, cùng 123 di tích quốc gia đặc biệt, 3.591 di tích quốc gia, 417 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, và hơn 4 triệu hiện vật đã đăng ký kiểm kê tại 187 bảo tàng trên cả nước. Ðây chính là tiềm năng di sản rất lớn mà nếu được số hóa đồng bộ sẽ mở rộng không gian tương tác của di sản, gia tăng hiệu quả bảo tồn, khai thác bền vững giá trị di sản, đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu, giáo dục, du lịch…

Tại Quyết định số 942/QÐ-TTg ngày 15/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 đã nêu mục tiêu đến năm 2025, mỗi di sản của Việt Nam đều có hiện diện số và hình thành bản đồ di sản số để người dân, khách du lịch có thể truy cập thuận lợi trên môi trường số. Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 đã được phê duyệt theo Quyết định số 2026/QÐ-TTg ngày 2/12/2021, đặt mục tiêu xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hóa trên nền tảng công nghệ số thống nhất, phục vụ công tác lưu trữ, quản lý, nghiên cứu, bảo tồn, khai thác, quảng bá di sản, thúc đẩy phát triển du lịch bền vững; bảo đảm tích hợp được vào khung kiến trúc Chính phủ điện tử và Hệ tri thức Việt số hóa… Ðiều này khẳng định, số hóa di sản văn hóa là chủ trương được Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đẩy mạnh. Tuy nhiên, muốn liên thông dữ liệu số quốc gia về di sản văn hóa, bảo đảm đáp ứng hiệu quả các dịch vụ cho xã hội, cộng đồng ở mọi lúc, mọi nơi, cần xác định rõ những vướng mắc cụ thể trong quá trình chuyển đổi số di sản ở từng đơn vị, địa phương để tìm cách khắc phục.

Du khách sử dụng bộ đàm thuyết minh tự động khi tham quan di tích Nhà tù Hỏa Lò, Hà Nội. (Ảnh HÀ THU)

Du khách sử dụng bộ đàm thuyết minh tự động khi tham quan di tích Nhà tù Hỏa Lò, Hà Nội. (Ảnh HÀ THU)

Hình thành kho dữ liệu quốc gia về di sản số

Chia sẻ tại Hội nghị-Hội thảo "Chuyển đổi số trong ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch" vừa được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức, Tiến sĩ Nguyễn Anh Minh, Giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam cho hay: Việc ứng dụng công nghệ trong hoạt động bảo tàng vẫn chưa được coi là nhiệm vụ cần thiết được quy định trong Luật Di sản văn hóa nên chưa có những quy định cụ thể về đầu tư công cho lĩnh vực này. Là tổ chức phi lợi nhuận, thông thường các bảo tàng không có đủ kinh phí để ứng dụng công nghệ, đặc biệt là công nghệ hiện đại, vì vậy phải kêu gọi sự ủng hộ, hợp tác từ các đối tác bên ngoài. Song đến nay vẫn chưa có quy định, chính sách về hợp tác công-tư cũng như cơ chế khuyến khích các cá nhân, đơn vị phối hợp đầu tư với bảo tàng thực hiện nhiệm vụ ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực di sản văn hóa. Các dự án xã hội hóa do đó chưa có nhiều, và không phải mô hình hợp tác nào cũng hiệu quả, mang tính bền vững.

Từ thực tế thực hiện chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa di sản trên địa bàn tỉnh, Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Thừa Thiên Huế Phan Thanh Hải cũng cho biết, việc triển khai nhiệm vụ này phải đối mặt nhiều khó khăn về việc xây dựng, xác định các nội dung di sản văn hóa cần ưu tiên thực hiện chuyển đổi số; việc khảo sát, tập hợp, xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ số hóa; việc cải tạo, xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, hiện đại để đáp ứng yêu cầu lưu trữ, quản lý, tích hợp các nội dung chuyển đổi số; bên cạnh đó là thách thức về kinh phí thực hiện, về bảo đảm chất lượng đội ngũ nhân lực thạo công nghệ, đủ năng lực…

"Việc chuyển đổi số trong lĩnh vực di sản văn hóa mới chỉ dừng ở mức tiếp cận ban đầu như số hóa các dữ liệu, tư liệu hiện vật dưới dạng thông tin, bản chụp hình ảnh, một số công trình di tích, cổ vật, bảo vật đã được số hóa, quét hình ảnh 3D nhưng rất ít, mới chỉ mang tính thử nghiệm, chưa có mô hình chuyển đổi số toàn diện trong lĩnh vực văn hóa di sản" - ông Phan Thanh Hải nhấn mạnh. Ðứng từ góc độ quản lý Nhà nước, Cục trưởng Cục Di sản văn hóa Lê Thị Thu Hiền nhận định: Việc xây dựng kho dữ liệu số về di sản chưa được thực hiện thường xuyên, liên tục và bền vững, chưa tính đến việc liên kết dữ liệu để cùng khai thác đáp ứng nhu cầu phát triển; phần mềm dùng chung còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế; cơ sở dữ liệu được xây dựng và vận hành độc lập với ứng dụng công nghệ khác nhau, được quản lý và khai thác riêng, chưa có sự liên kết và phân cấp quản lý, khai thác…

Từ thực tế này, các chuyên gia cho rằng, muốn thực hiện mục tiêu hình thành bản đồ di sản số, cần sớm có cơ chế, chính sách và quy định liên quan về định mức tài chính để các địa phương, đơn vị có thể từng bước chủ động thực hiện chuyển đổi số. Theo Phó Giám đốc Bảo tàng Lịch sử quốc gia Nguyễn Văn Hà, cần xây dựng, ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về di sản văn hóa số, về ứng dụng công nghệ trong việc số hóa thông tin; ban hành các quy định chuẩn hóa hệ dữ liệu hiện vật để các đơn vị có thể thực hiện kết nối, chia sẻ thông tin một cách thuận lợi, hiệu quả; đồng thời xây dựng cơ chế khai thác và sử dụng thông tin đối với các đơn vị quản lý di sản văn hóa. Bà Huỳnh Phương Lan, Viện Bảo tồn Di tích cho rằng: Xuất phát từ nhu cầu quản lý, bảo tồn, cần xác định phương pháp số hóa thích hợp nhất đối với từng loại hình di sản trên cơ sở những kỹ thuật số hóa hiện có và khả năng về kiến thức, chuyên môn, trang thiết bị, nguồn lực tài chính. Các tiêu chí để lựa chọn giải pháp số hóa bao gồm các tiêu chí về niên đại, giá trị kiến trúc, nghệ thuật. Ðẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong bảo tồn, khai thác di sản cần được thực hiện theo lộ trình bài bản, khoa học, có sự phối hợp linh hoạt giữa các địa phương, bộ, ngành. Nhà nước cần đầu tư các nền tảng công nghệ lõi mang tính xương sống, cơ bản để doanh nghiệp, xã hội, địa phương có thể dựa trên đó hoàn thiện, đồng bộ và phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ; ban hành chính sách đa dạng hóa nguồn vốn, tạo điều kiện xã hội hóa nguồn tài chính để ứng dụng công nghệ... Cùng với đó là đầu tư phát triển nguồn lực con người. Bên cạnh đội ngũ có trình độ chuyên môn về khảo cổ, lịch sử, văn hóa, kiến trúc, cần đào tạo một đội ngũ nhân lực công nghệ riêng, có khả năng nắm bắt, thực hành các thành tựu, xu hướng mới của công nghệ.

Phó Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Thừa Thiên Huế Phan Thanh Hải xác định, trước mắt, cần đẩy nhanh tiến độ thực hiện đề án tổng kiểm kê di sản văn hóa để cung cấp nguồn thông tin, dữ liệu đầu vào. Trên cơ sở đó, lựa chọn các lĩnh vực quan trọng, có điều kiện thuận lợi, khả năng kinh phí đáp ứng được để thực hiện chuyển đổi số trước, ưu tiên số hóa các di sản đã được UNESCO ghi danh, các di tích quốc gia đặc biệt, hệ thống di tích về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ðại diện Tổng công ty Giải pháp doanh nghiệp Viettel nhấn mạnh: Dữ liệu số về di sản là một loại dữ liệu mới, nên việc quản lý, khai thác dữ liệu này luôn phải đồng hành với các giải pháp công nghệ trên cơ sở hạ tầng kỹ thuật là các trung tâm dữ liệu được thiết kế, xây dựng theo tiêu chuẩn quốc tế, bảo đảm khả năng hoạt động ổn định, liên tục, tuân thủ các nguyên tắc của khoa học lưu trữ trong việc bảo hiểm tài liệu di sản số. Các dữ liệu di sản số khi trao đổi trên môi trường mạng có thể phải đối mặt với các phương thức tấn công ngày càng tinh vi, phức tạp như bị lấy cắp, truy cập trái phép, làm sai lệch hoặc giả mạo, nên đòi hỏi các giải pháp bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng cùng các giải pháp kỹ thuật hỗ trợ công tác bảo quản, bảo hiểm dữ liệu, có thể phục hồi khi có rủi ro...

Có thể bạn quan tâm

Nhà báo Phạm Mạnh Hùng, Phó Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, Trưởng Ban Tổ chức Liên hoan Phát thanh toàn quốc lần thứ XVII thông tin về các điểm mới tại kỳ liên hoan lần này.

Dấu ấn đổi mới tại Liên hoan Phát thanh toàn quốc lần thứ XVII

Lần đầu tiên đưa hạng mục Podcast vào nội dung dự thi, mở rộng các cơ quan báo chí tham gia và có sự góp mặt của giám khảo quốc tế, Liên hoan Phát thanh toàn quốc lần thứ XVII-Quảng Ninh 2026 ghi dấu bước chuyển mạnh mẽ của báo chí phát thanh trong kỷ nguyên số, hướng tới tính chuyên nghiệp, hiện đại và hội nhập.

Art lobby được thiết kế, trang trí bằng chính các sản phẩm sáng tạo của sinh viên theo học các ngành về nghệ thuật. (VNU-SIS)

Khơi nguồn cảm hứng sáng tạo qua mô hình hành lang nghệ thuật

Art lobby (hành lang nghệ thuật) được hình thành như không gian học tập mở, nơi các tác phẩm của sinh viên bước ra khỏi phạm vi lớp học để hiện diện trong đời sống thường ngày. Không gian này được trang trí bằng chính các sản phẩm sáng tạo của sinh viên, góp phần tạo nên môi trường học tập giàu cảm hứng và tính tương tác.

Đoàn rước Mẫu đi qua các tuyến phố trung tâm của phường Minh Xuân.

[Ảnh] Đặc sắc Lễ hội rước Mẫu đền Hạ, đền Thượng, đền Ỷ La

Ngày 30/3, Ủy ban nhân dân phường Minh Xuân, tỉnh Tuyên Quang tổ chức khai mạc Lễ hội đền Hạ, đền Thượng, đền Ỷ La năm 2026. Lễ hội là sản phẩm du lịch đặc sắc, riêng có và là dịp giới thiệu, quảng bá, tôn vinh, phát huy các giá trị văn hóa các di tích cấp quốc gia của tỉnh với bạn bè, du khách trong nước và quốc tế.

Lắng đọng với thế giới nghệ thuật của Lê Công Thành

Lắng đọng với thế giới nghệ thuật của Lê Công Thành

"Mục quang - The Gaze" giới thiệu một phần gia tài sáng tác đồ sộ của cố họa sĩ, điêu khắc gia Lê Công Thành, bao gồm 35 tác phẩm hội họa và 19 bản nặn tay bằng đất nung, uốn cắt kim loại. Đây là những dấu vết sống động của quá trình ông hình thành ý tưởng, nơi hội họa và điêu khắc giao thoa, soi chiếu lẫn nhau.

Tiếng trống khai hội Đền Bạch Mã 2026.

[Ảnh] Khai hội Đền Bạch Mã năm Bính Ngọ 2026

Sáng 30/3, Ủy ban nhân dân phường Hoàn Kiếm (Hà Nội) đã tổ chức Lễ hội truyền thống Di tích quốc gia đặc biệt Đền Bạch Mã, một trong những không gian tâm linh tiêu biểu và lâu đời bậc nhất của Thăng Long-Hà Nội. Lễ hội diễn ra trong hai ngày 30 và 31/3.

Vũ Việt Hà: Người dệt hồn Việt trên tà áo dài suông

Vũ Việt Hà: Người dệt hồn Việt trên tà áo dài suông

Gần hai mươi năm, nhà thiết kế Vũ Việt Hà chọn một việc duy nhất: đánh thức vẻ đẹp nguyên bản của chiếc áo dài suông trên nền chất liệu thuần Việt. Con đường ấy đã đưa tà áo dài truyền thống bước ra sân khấu ngoại giao quốc tế và thổi hồn trong đời sống thường nhật của hàng triệu phụ nữ Việt.

Giới thiệu nét đẹp văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số với du khách.

Hoàn thiện thể chế về văn hóa dân tộc

Hội nhập quốc tế sâu rộng cùng sự phát triển nhanh của khoa học công nghệ đang tác động trực tiếp đến công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số. Thực tiễn đặt ra yêu cầu xây dựng cơ sở pháp lý đồng bộ, hiệu lực để nâng cao hiệu quả trong lĩnh vực văn hóa dân tộc.

Chương trình nghệ thuật chào mừng kỷ niệm 51 năm ngày giải phóng Phú Yên.

Khai mạc các hoạt động du lịch tỉnh Đắk Lắk năm 2026 và chào mừng kỷ niệm 51 năm Ngày giải phóng Phú Yên

Thông qua chuỗi hoạt động du lịch năm 2026, tỉnh Đắk Lắk mong muốn quảng bá mạnh mẽ hình ảnh địa phương đến bạn bè trong nước và quốc tế như một điểm đến giàu bản sắc, thân thiện và hấp dẫn, thu hút ngày càng nhiều du khách và các nhà đầu tư, góp phần thực hiện hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh.

Lễ hội Cầu ngư Nhơn Hải diễn ra từ ngày 11-13 âm lịch hằng năm thể hiện lòng biết ơn và niềm tin của ngư dân vào vị thần biển cả.

Gìn giữ nét đẹp văn hóa tâm linh của ngư dân miền biển

Chiều 29/3, tại khu phố Hải Bắc, phường Quy Nhơn Đông, tỉnh Gia Lai diễn ra lễ hội Cầu ngư vạn chài Nhơn Hải. Đây là một trong những sự kiện văn hóa truyền thống đặc sắc của ngư dân miền biển được tổ chức thường niên vào tháng Hai âm lịch (từ ngày 11 đến 13).

Ngài Pavlin Todorov - Đại sứ Bulgaria cùng các chuyên gia, nhà nghiên cứu văn hóa của Việt Nam đang lắng nghe Bà Nguyễn Thanh Hiền, Giám đốc Bảo tàng gốm Tam Thọ giới thiệu về các hiện vật trưng bày tại bảo tàng.

Thanh Hóa: Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tại Bảo tàng gốm Tam Thọ

Giữa nhịp sống hiện đại, khi áp lực hội nhập và biến đổi đặt ra nhiều thách thức đối với các giá trị truyền thống, câu chuyện bảo tồn di sản đang chuyển dịch mạnh mẽ. Không còn bó hẹp trong phạm vi lưu giữ, trưng bày, di sản đang được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển, gắn với giáo dục, du lịch và công nghiệp văn hóa.