Chủ động khai thác dịch vụ carbon từ Vườn quốc gia Tà Đùng

Với lợi thế về diện tích rừng tự nhiên hiện có, Vườn quốc gia Tà Đùng được đánh giá là kho lưu trữ carbon lớn ở khu vực Tây Nguyên, nếu được khai thác hợp lý sẽ trở thành mô hình kinh tế xanh bền vững, giảm phát thải khí nhà kính, góp phần cải thiện đời sống cho lực lượng giữ rừng nơi đây.
Vườn Quốc gia Tà Đùng có tổng diện tích tự nhiên khoảng 21.000ha, nằm trên khu vực giáp ranh giữa hai tỉnh Đắk Nông và Lâm Đồng.
Vườn Quốc gia Tà Đùng có tổng diện tích tự nhiên khoảng 21.000ha, nằm trên khu vực giáp ranh giữa hai tỉnh Đắk Nông và Lâm Đồng.

Vườn Quốc gia Tà Đùng có tổng diện tích tự nhiên khoảng 21.000ha, với tỷ lệ che phủ lên tới 85% diện tích vùng lõi, rừng nguyên sinh hơn 48% và hơn 36% rừng thứ sinh các loại, nằm trên khu vực giáp ranh giữa hai tỉnh Đắk Nông và Lâm Đồng. Tà Đùng có thảm thực vật rừng rộng lớn với sự đa dạng của các hệ sinh thái và sinh cảnh phù hợp cho sự cư trú, sinh trưởng, phát triển của khu hệ động vật phong phú.

Kết quả điều tra cho thấy, Vườn quốc gia Tà Đùng có hơn 1.400 loài thực vật với 89 loài thực vật có nguy cơ bị tuyệt chủng, 59 loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam; khoảng 650 loài động vật với 70 loài nguy cấp quý hiếm, 61 loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam. Tà Đùng được xác định là địa điểm bảo tồn quan trọng thuộc khu vực bảo tồn cảnh quan lưu vực sông Đồng Nai, khu vực bảo tồn cảnh quan Nam Trường Sơn, một phần của khu vực chim đặc hữu cao nguyên Đà Lạt - một trong bốn vùng chim đặc hữu của Việt Nam và một trong 222 vùng chim đặc hữu trên toàn thế giới. Do đó, công tác quản lý bảo vệ rừng, phát triển rừng, bảo vệ đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Tà Đùng luôn được đặt lên hàng đầu.

Độ che phủ Vườn quốc gia Tà Đùng lên tới 85% diện tích vùng lõi, rừng nguyên sinh hơn 48% và hơn 36% rừng thứ sinh các loại.

Độ che phủ Vườn quốc gia Tà Đùng lên tới 85% diện tích vùng lõi, rừng nguyên sinh hơn 48% và hơn 36% rừng thứ sinh các loại.

Hiện vẫn còn nhiều khó khăn, thiếu thốn về nhân lực, tài chính và đặc thù của địa hình tự nhiên tác động đến công tác quản lý, bảo vệ rừng tại Vườn quốc gia Tà Đùng nhưng Ban quản lý Vườn quốc gia Tà Đùng Đắk Nông đã triển khai đồng bộ, quyết liệt với các giải pháp căn cơ, từng bước khắc phục khó khăn, với quyết tâm bảo vệ tốt nhất không để xâm hại đến đa dạng sinh học Vườn quốc gia Tà Đùng. Và thực tế, nhiều năm qua trên lâm phần đơn vị được giao quản lý, bảo vệ không xảy ra tình trạng phá rừng, khai thác lâm sản trái phép, săn bắt động vật hoang dã; liên tục hơn 10 năm qua, trên lâm phần Vườn quốc gia Tà Đùng quản lý không xảy ra cháy rừng.

Giám đốc Vườn quốc gia Tà Đùng Khương Thanh Long cho biết, việc chi trả hấp thụ và lưu giữ carbon từ rừng đang trở thành xu thế tất yếu của nhiều quốc gia trên thế giới, đây là công cụ hiệu quả để giảm phát thải khí nhà kính và phát triển kinh tế xanh. Với lợi thế rừng tự nhiên hiện có, trong những năm qua, song song với việc thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng thì đơn vị đã xây dựng các phương án nâng cao độ che phủ, chống mất rừng, trồng rừng thay thế, tham mưu cho các cấp chính quyền địa phương trồng rừng trên diện tích đất phù hợp nhằm tăng diện tích và độ che phủ, sẵn sàng khai thác lợi thế từ rừng bằng dịch vụ carbon khi có điều kiện.

Cũng theo ông Long, khai thác dịch vụ carbon từ rừng là xu hướng tất yếu, việc này sẽ tăng thêm thu nhập cho các đơn vị chủ rừng, đặc biệt là tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân vùng đệm tham gia các dự án trồng rừng, bảo vệ rừng,… Từ đó, tạo động lực cho những người trực tiếp giữ rừng thực hiện công tác quản lý, bảo bảo vệ và phát triển rừng tốt hơn, góp phần không nhỏ vào việc giảm phát thải khí nhà kính thông qua nỗ lực hạn chế mất rừng, suy thoái rừng, quản lý bền vững tài nguyên rừng, bảo tồn và nâng cao trữ lượng carbon rừng. Hiện nay Việt Nam đã thể chế hóa các quy định hấp thụ và lưu giữ carbon từ rừng như Luật Lâm nghiệp, Luật Bảo vệ môi trường, Nghị định 06/2022/NĐ-CP của Chính phủ về quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ozon,… tạo nền tảng cho các đơn vị chủ rừng triển khai các phương án khai thác dịch vụ carbon.

Từ điều kiện thuận lợi trên, Ban Quản lý Vườn quốc gia Tà Đùng đã chủ động các nguồn lực, nâng cao năng lực cán bộ Ban Quản lý để thực hiện chi trả dịch vụ carbon. Bên cạnh đó, thông qua các buổi tập huấn, làm việc với các đoàn chuyên gia như Ilandscape, Câu lạc bộ Báo chí Phát triển Xanh,… đơn vị đã ghi nhận, tiếp thu nhiều kinh nghiệm để chuẩn bị tốt nhất khi được triển khai.

Từ nguồn kinh phí trồng rừng thay thế, hỗ trợ của các tổ chức, Vườn quốc gia Tà Đùng đã tổ triển khai trồng rừng phân tán và cây xanh phân tán trên diện tích vườn quốc gia và các xã vùng đệm với hàng trăm ha mỗi năm.

Từ nguồn kinh phí trồng rừng thay thế, hỗ trợ của các tổ chức, Vườn quốc gia Tà Đùng đã tổ triển khai trồng rừng phân tán và cây xanh phân tán trên diện tích vườn quốc gia và các xã vùng đệm với hàng trăm ha mỗi năm.

Tính đến hết năm 2023, Vườn quốc gia Tà Đùng đã trồng mới được hơn 620 ha rừng thay thế, ngoài ra đơn vị còn kêu gọi các nhà tài trợ hỗ trợ kinh phí triển khai trồng được 20 nghìn cây phân tán các loại tại các xã vùng đệm. Việc phát triển rừng trên những diện tích đất trống, trồng rừng thay thế đã và đang góp phần tăng trữ lượng carbon cho Vườn quốc gia Tà Đùng.

Tại buổi làm việc với tỉnh Đắk Nông về quy hoạch tỉnh giai đoạn 2021- 2030, tầm nhìn 2050, một số chuyên gia đã nghiên cứu và đưa ra các ý tưởng đột phá cho rằng, nếu Đắk Nông tham gia thị trường tín chỉ carbon và hướng tới mục tiêu trở thành trung tâm sản xuất nhôm phát thải carbon thấp tại Việt Nam thì đây sẽ là điều kiện thuận lợi để Vườn quốc gia Tà Đùng tiếp tục nghiên cứu triển khai xây dựng chi trả dịch vụ carbon tại Tà Đùng.

Dịch vụ carbon đã và đang trở thành một hướng đi mới trong phát triển kinh tế rừng, theo ước tính của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Việt Nam có thể bán ra 57 triệu tín chỉ carbon, và tính theo giá 5 USD/tín chỉ thì mỗi năm có thể thu về hàng trăm triệu USD. Với lợi thế về diện tích rừng tự nhiên lớn, nếu Tà Đùng nói riêng và Đắk Nông nói chung sớm khai thác hợp lý, hiệu quả tín chỉ carbon thì nguồn lời này sẽ đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội, góp phần quan trọng trong tác động biển đổi khí hậu và thích ứng với biến đổi khí hậu toàn cầu như hiện nay.

Có thể bạn quan tâm

Nhờ vốn vay từ Ngân hàng Chính sách xã hội, nhiều hộ gia đình ở Ia Boòng đã từng bước vươn lên thoát nghèo.

Tăng cường giám sát hoạt động tín dụng chính sách

Trong công cuộc giảm nghèo bền vững, tín dụng chính sách xã hội được xem là một trong những công cụ hữu hiệu nhất để hỗ trợ người yếu thế. Tại xã Ia Boòng, tỉnh Gia Lai, thông qua công tác kiểm tra, giám sát thường xuyên, chính sách này đã và đang đi vào cuộc sống, tạo ra những chuyển biến tích cực về kinh tế-xã hội.

Già làng người Ê Đê ngồi kể chuyện về văn hóa cồng chiêng cho các cháu học sinh bên bếp lửa trong ngôi nhà dài truyền thống.

Ấm áp bếp lửa người Ê Đê

Từ bao đời nay, bếp lửa luôn gắn liền sinh hoạt hằng ngày và đời sống tâm linh của đồng bào dân tộc Ê Đê ở Tây Nguyên. Họ tin rằng, lửa chính là “vị thần” may mắn, chỉ cần ngọn lửa rực đỏ trong nhà gia đình sẽ luôn ấm no, hạnh phúc.

Không gian triển lãm tại khu vực trung tâm xứ ngàn hoa Đà Lạt thu hút người dân và du khách.

Lan tỏa giá trị lịch sử cách mạng

Ngày 30/4/1975 đã ghi dấu trang sử hào hùng, mốc son chói lọi trong lịch sử và trở thành biểu tượng sống động của ý chí độc lập, tự cường, khát vọng hòa bình và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc.

Phía tây tỉnh Quảng Ngãi có thế mạnh về cà-phê xứ lạnh.

Quảng Ngãi mở rộng vùng trồng cà-phê xuất khẩu

Cà-phê Arabica của Việt Nam đang dần khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế nhờ chất lượng ngày càng được nâng cao, nhất là cà-phê trồng ở các vùng núi cao, khí hậu mát lạnh và hệ sinh thái đa dạng.

Hệ thống giao thông trên địa bàn Cư Jút luôn được giữ gìn khang trang, sạch đẹp.

Phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở Cư Jút

Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tại xã Cư Jút (tỉnh Lâm Đồng) đang từng bước khẳng định vai trò là trụ cột tinh thần, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển kinh tế-xã hội.

Tỉnh Đắk Lắk đang thúc đẩy phát triển nông lâm nghiệp bền vững thích ứng biến đổi khí hậu.

Giúp nông lâm nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu

Trước diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu và tình trạng suy giảm diện tích rừng, việc tìm ra giải pháp vừa bảo vệ hệ sinh thái rừng, cải thiện sinh kế, bảo đảm thu nhập cho người nông dân trở nên cấp thiết.

Tập huấn kỹ thuật gieo trồng, chăm sóc giống lúa mới cho nông dân xã Ia Rsai.

Hiệu quả sản xuất nông nghiệp ở Ia Rsai

Những ngày cuối tháng 4, trên những cánh đồng xanh ngút mắt của xã Ia Rsai, tỉnh Gia Lai, nhịp sống của người nông dân trở nên sôi động hơn. Vụ đông xuân 2025-2026 vừa khép lại với những kết quả hết sức ấn tượng, đặt nền móng vững chắc cho một vụ mùa tiếp theo.

Lâm Đồng đang lan tỏa mô hình “du lịch không khói thuốc lá”, hình thành hệ sinh thái du lịch xanh, an toàn.

Lan tỏa mô hình du lịch không khói thuốc

Với xu hướng phát triển du lịch xanh, sạch, bền vững, tỉnh Lâm Đồng đang tích cực triển khai thí điểm mô hình “du lịch không khói thuốc lá” nhằm tạo không gian du lịch trong lành, an toàn cho du khách và góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng, nâng tầm hình ảnh điểm đến của địa phương.

Quốc lộ 28 là trục kết nối đông-tây quan trọng của tỉnh Lâm Đồng.

Đầu tư hạ tầng giao thông kết nối đại ngàn-biển xanh

Tỉnh Lâm Đồng có diện tích tự nhiên lớn nhất cả nước, sở hữu địa hình, khí hậu, tài nguyên và văn hóa đa dạng, mở ra dư địa phát triển lớn. Nhưng hệ thống giao thông kết nối trục đông-tây của tỉnh, nhất là Quốc lộ 28 đang xuống cấp, cần sớm được nâng cấp để khơi thông dòng chảy hàng hóa, du lịch và đầu tư.

Nghề dệt thổ cẩm của đồng bào Giẻ Triêng có hàng trăm năm qua.

“Giữ lửa” nghề dệt thổ cẩm Giẻ Triêng

Nghề dệt thổ cẩm của phụ nữ dân tộc Giẻ Triêng ở các xã Đăk Môn, Đăk Pek, Đăk Plô, Dục Nông (tỉnh Quảng Ngãi) đã tồn tại từ lâu đời, gắn bó bền bỉ với đời sống và văn hóa bản làng.