Chìa khóa bảo vệ thương hiệu

Việt Nam vốn sở hữu thế mạnh về phát triển nông nghiệp khi hầu hết các địa phương đều có cho riêng mình các loại đặc sản nổi tiếng. Tuy nhiên, để bảo tồn và phát huy hết giá trị các sản phẩm đặc trưng, cần chú trọng hơn nữa công tác xây dựng và bảo hộ thương hiệu.
Đánh giá tính chịu mặn của tập đoàn lúa bản địa Việt Nam tại Viện Di truyền Nông nghiệp.
Đánh giá tính chịu mặn của tập đoàn lúa bản địa Việt Nam tại Viện Di truyền Nông nghiệp.

NHIỀU năm trở lại đây, chuyện thương hiệu nông sản Việt bị đăng ký và "cướp tên" trắng trợn xảy ra ở nhiều nước trên thế giới. Câu chuyện về nước mắm Phú Quốc, cà-phê Trung Nguyên, kẹo dừa Bến Tre hay gần nhất là loại gạo được xếp hạng ngon nhất thế giới - ST25... được xem như những thí dụ điển hình của việc thiếu sự quan tâm đúng mức đến vấn đề bảo hộ bản quyền sở hữu trí tuệ đối với các sản phẩm nông nghiệp.

Theo số liệu của Cục Sở hữu trí tuệ, tính đến tháng 8/2022, cả nước đã có 116 sản phẩm hoàn tất thủ tục bảo hộ chỉ dẫn địa lý các mặt hàng nông, lâm, thủy sản (trên tổng số hơn 140 đơn đăng ký) và 1.682 chứng nhận tập thể. Nếu xét riêng trong số hơn 100 sản phẩm được bảo hộ chỉ dẫn địa lý trong nước, chỉ có số ít được đăng ký bảo hộ ở nước ngoài. Đây là con số vô cùng khiêm tốn nếu nhìn vào số lượng lớn mặt hàng nông sản tiềm năng của Việt Nam.

Trong khi, muốn các sản phẩm được khai thác và phát triển thương mại để mang lại hiệu quả kinh tế ngày càng cao, các địa phương và doanh nghiệp cần tạo dựng niềm tin đối với người tiêu dùng nội địa và quốc tế, cả về nguồn gốc, danh tiếng, chất lượng sản phẩm... Việc xây dựng thương hiệu mang chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ chỉ là một trong số những bước đầu tiên cần phải hoàn thành.

THỰC tế, dựa vào những tiến bộ khoa học, câu chuyện bảo vệ bản quyền hoàn toàn có thể được thúc đẩy song hành sự phát triển không ngừng của ngành công nghệ sinh học ở nước ta. Theo Tiến sĩ Nguyễn Duy Phương, Trưởng bộ môn Bệnh học phân tử, Viện Di truyền nông nghiệp, các giống nông sản đặc trưng của Việt Nam hoàn toàn có thể được giải mã bộ gen và xem đó như mã định danh nông sản. Điển hình như khi hoàn tất giải mã vải Thanh Hà sẽ thu được mã DNA và mã gen bản quyền để lưu trữ trên hệ thống cơ sở dữ liệu lớn (big data). Việc các địa phương hay quốc gia khác muốn chiếm đoạt sẽ rất khó khi có cơ sở dữ liệu đối chiếu và so sánh.

Tuy nhiên, điều này lại đòi hỏi tiềm lực đầu tư tương xứng cho công tác nghiên cứu và giải mã gen. Việt Nam sở hữu vô vàn giống nông sản quý đặc trưng tương ứng mỗi địa phương nên việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu vô cùng tốn kém, phải mất nhiều thời gian, công sức. Hiện tại, Viện Di truyền nông nghiệp mới chỉ hoàn thành duy nhất đề án giải mã toàn bộ hệ gen của hơn 600 giống lúa. Với phần còn lại, dựa trên đơn đặt hàng của từng địa phương, chúng ta chỉ có thể xây dựng mã DNA cho một vài nông sản đặc trưng để sau này có mã truy xuất nhằm bảo vệ giống cây trồng.

Không chỉ khó khăn về kinh phí, kỹ thuật, việc thu thập số lượng lớn giống cây để phân tích và giải mã cần đội ngũ rất nhiều chuyên gia cùng thực hiện. Đó là những điểm hạn chế, trái ngược xu thế chung của thế giới khi các nước phát triển đã đầu tư rất mạnh trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu lớn.

NHƯ nhận định của các chuyên gia, sự phát triển công nghệ sinh học trong nông nghiệp hiện đại cũng tạo nên những yêu cầu cấp bách trong việc đăng ký bằng sáng chế hay bản quyền về sở hữu trí tuệ. Khi nhận được sự đầu tư đủ lớn, các giống nông sản sẽ có sự chuyên biệt hóa về chất giúp gia tăng giá trị kinh tế. Đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cũng là yếu tố duy nhất giúp các nhà đầu tư ngăn ngừa các tổ chức, cá nhân kinh doanh trục lợi mà không được sự cho phép của chủ sở hữu, để có thể dễ dàng thu hồi vốn hơn. Từ đó thúc đẩy nghiên cứu và tạo động cơ tái đầu tư cho quá trình sáng tạo, cũng như khuyến khích đưa phát minh vào cuộc sống.

Theo Cục trưởng Sở hữu trí tuệ Đinh Hữu Phí, đối với những sản phẩm đã đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, các địa phương có nhiều chỉ dẫn địa lý được bảo hộ cần nỗ lực duy trì và nâng cao về số lượng và chất lượng sản phẩm, bảo đảm áp dụng quy trình kỹ thuật tiên tiến, thực hành sản xuất nông nghiệp (VietGAP, GlobalGAP), thiết lập và áp dụng hệ thống quản lý an toàn thực phẩm, truy xuất được nguồn gốc.

Rõ ràng, câu chuyện xây dựng và bảo vệ bản quyền thương hiệu không chỉ là vấn đề của riêng doanh nghiệp mà rất cần sự hỗ trợ, đồng hành của cơ quan quản lý nhà nước, các hiệp hội trong việc quản lý, kiểm soát và xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho các nhà đầu tư. Bên cạnh đó, các địa phương cũng cần đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức của người dân và doanh nghiệp, cũng như hỗ trợ công tác quảng bá, xúc tiến thương mại, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ theo chuỗi giá trị.

Mới đây, hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu cấp, quản lý mã số vùng trồng đã chính thức được bấm nút triển khai trên toàn quốc. Đây là kết quả từ việc triển khai Chương trình Chuyển đổi số Quốc gia, hướng tới mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp "minh bạch-trách nhiệm-bền vững" và có ý nghĩa quan trọng trong việc "Định danh nông sản Việt".

Có thể bạn quan tâm

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.

Khách du lịch tham gia các hoạt động trải nghiệm trong tour Về làng học thêu tay. Ảnh: DÃ LIÊN

Tạo sức hút và năng lực cạnh tranh mới

Mô hình trải nghiệm làng nghề ở Hà Nội đã có từ lâu, như ở làng gốm Bát Tràng, song phần lớn đều dừng ở mức đơn giản, nặng tính “cưỡi ngựa xem hoa”, hoặc như một gia vị cho hoạt động tham quan. Thời gian gần đây, nhiều làng nghề đã đổi mới cách làm, từ đó tạo nên sức hút và năng lực cạnh tranh mới.

Trước mắt anh Phương Nam, Côn Đảo mở ra biết bao nhịp sống xanh, nguyên sơ, trong trẻo. Ảnh: MINH LÊ

Những “điểm chạm” nguyên sơ, trong trẻo

Côn Đảo lâu nay thường được nhắc đến như một vùng đất chứa đựng ký ức lịch sử bi tráng của dân tộc, với hệ thống nhà tù của thực dân và đế quốc cùng những trang sử đấu tranh của các chiến sĩ cách mạng. Nhưng đối với nhiều du khách, sau những “điểm chạm” vào thiên nhiên ở nơi này, Côn Đảo còn là biết bao nhịp xanh, nguyên sơ, trong trẻo.

Bên cạnh gia đình luôn là khoảng thời gian chất lượng để vun trồng một thế hệ hạnh phúc. Ảnh: UNICEF Việt Nam

Hôm nay, tôi đã lắng nghe con mình chưa?

Trong nhiều cuộc tiếp xúc với phụ huynh, rất nhiều cha mẹ chia sẻ với tôi một nguyện vọng rất thật: “Mong con được hạnh phúc”. Song, khi được hỏi: “Hạnh phúc là gì?”, nhiều người lại ngập ngừng.

Bà Nguyễn Phạm Duy Trang.

An toàn là nền móng của hạnh phúc!

Mùa hè không chỉ là khoảng thời gian nghỉ ngơi, vui chơi của trẻ em, mà còn là thời điểm đặt ra nhiều nỗi lo về an toàn, sức khỏe tinh thần và môi trường phát triển của các em trong bối cảnh xã hội hiện đại.