Canh tác lúa thông minh ở Hậu Giang

Với năng suất, chất lượng, lợi nhuận tăng, phát thải thấp, mô hình canh tác lúa thông minh được xem là nền tảng để Hậu Giang tổ chức tham gia thực hiện tốt “Ðề án phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Ðồng bằng sông Cửu Long” tại địa phương.
Trình diễn máy gặt tuốt liên hợp kết hợp băm rơm rạ.
Trình diễn máy gặt tuốt liên hợp kết hợp băm rơm rạ.

Hiệu quả mang lại của mô hình canh tác lúa thông minh là nhờ áp dụng tiến bộ khoa học-kỹ thuật, đồng bộ cơ giới hóa từ khâu làm đất đến thu gom rơm. Vì thế, mô hình này còn được đánh giá là cánh đồng “không dấu chân người”.

Cánh đồng “không dấu chân người”

Vụ lúa đông xuân 2023-2024, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hậu Giang phối hợp với Trung tâm Khuyến nông quốc gia và Công ty cổ phần phân bón Bình Ðiền thực hiện mô hình canh tác lúa thông minh, tổ chức tại hai xã là Vị Trung và Vị Bình của huyện Vị Thủy, với diện tích khoảng 10 ha. Mô hình này là sự tiếp nối để nhân rộng tiến bộ kỹ thuật về quy trình canh tác lúa thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu vùng Ðồng bằng sông Cửu Long tại tỉnh Hậu Giang”. Ông Ðỗ Thanh Hiền, người có bốn công lúa giống Ðài thơm 8, tham gia mô hình ở xã Vị Bình cho biết: “Thực hiện mô hình này, chi phí đầu vào cái gì cũng giảm từ 20% trở lên. Hơn nữa, nông dân khỏe lắm, không phải “chân lấm tay bùn” như trước, mà tất cả được áp dụng đồng bộ cơ giới hóa từ khâu làm đất, gieo sạ, bón phân, phun thuốc, thu hoạch và xử lý rơm rạ. Vì thế, đây được gọi là cánh đồng không dấu chân người”.

Theo kết quả đánh giá mô hình, nông dân chỉ gieo sạ với lượng lúa giống 60 kg/ha, thấp hơn 30 kg/ha so với ngoài mô hình; chi phí đầu tư ở hai mô hình từ 19,2-22 triệu đồng/ha, giảm so với ngoài mô hình từ gần 1,5 triệu đồng/ha đến hơn 2,8 triệu đồng/ha. Năng suất lúa tươi tại mô hình ở xã Vị Trung đạt 9,9 tấn/ha; ở xã Vị Bình đạt 8,9 tấn/ha, tăng từ 100-200 kg/ha so với ruộng ngoài mô hình. Lợi nhuận nông dân thu được tại mô hình xã Vị Trung là gần 65 triệu đồng/ha, còn xã Vị Bình đạt gần 52 triệu đồng/ha, tăng gần 1,5 đến 4,6 triệu đồng/ha so với ruộng ngoài mô hình. Ngoài ra, mô hình còn ghi nhận các chỉ số phân tích về tồn dư thuốc bảo vệ thực vật đạt ngưỡng an toàn, bảo đảm chất lượng đáp ứng yêu cầu của thị trường ngày càng cao, nhất là thị trường xuất khẩu.

Theo ông Võ Xuân Tân, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hậu Giang, mô hình này có sự liên kết “bốn nhà”. Người dân được tập huấn, hướng dẫn ứng dụng đồng bộ quy trình kỹ thuật canh tác, đến khâu đầu ra cũng có doanh nghiệp bao tiêu. Lợi ích của mô hình mang lại ngoài kinh tế còn cho thấy giảm phát thải khí nhà kính. Với giá lúa biến động như thời gian gần đây cho thấy, vai trò của mô hình liên kết hợp tác, từ đầu vào đến đầu ra sẽ hiệu quả hơn so với bà con canh tác nhỏ lẻ.

Mới đây, tại hội thảo tổng kết mô hình canh tác lúa thông minh vụ đông xuân 2023-2024 và triển khai kế hoạch thực hiện Ðề án phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Ðồng bằng sông Cửu Long tại tỉnh Hậu Giang, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Bảo Vệ, nguyên Trưởng khoa Nông nghiệp, Trường đại học Cần Thơ đánh giá: Từ năm 2016 đến nay, qua thực hiện nhiều mô hình canh tác lúa thông minh vụ đông xuân và hè thu cho thấy, ưu điểm của mô hình là quy trình canh tác “mở theo từng lúc, từng nơi”, luôn cập nhật các tiến bộ khoa học-kỹ thuật và phù hợp vùng sinh thái và thị trường. Mô hình ngoài giúp tăng năng suất, giảm chi phí, tăng lợi nhuận, còn phát thải khí nhà kính thấp. Bởi quy trình canh tác có biện pháp xử lý rơm rạ bằng vi sinh vật, giúp phân hủy trong điều kiện thông thoáng hơn để giảm khí mê-tan. Mặt khác, việc áp dụng biện pháp tưới ngập khô xen kẽ, hoặc khó hơn thì rút nước giữa vụ cũng giúp giảm phát thải khí mê-tan. Bên cạnh đó, việc giảm lượng đạm sử dụng từ 30-50kg/ha, giúp giảm lượng khí N20 bay lên, từ đó, phát thải khí nhà kính cũng thấp. Do đó, từ kết quả đạt được ở các tỉnh, có thể áp dụng quy trình canh tác này vào trong Ðề án phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Ðồng bằng sông Cửu Long.

Nền tảng để thực hiện Đề án lớn

Theo đồng chí Ngô Minh Long, Giám đốc Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hậu Giang: Diện tích lúa gieo trồng hằng năm của tỉnh hơn 177.000 ha lúa, sản lượng đạt hơn 1,1 triệu tấn; riêng vụ lúa đông xuân, tỉnh có khoảng hơn 74.000 ha với sản lượng gần 600 nghìn tấn. Thông qua công tác tuyên truyền và triển khai nhiều chương trình, đề án, dự án đã giúp nông dân thay đổi đáng kể, từ tư duy đến tập quán canh tác. Tỷ lệ gieo sạ giống xác nhận và lúa chất lượng cao đạt hơn 90%; ứng dụng các quy trình canh tác tiên tiến như “ba giảm, ba tăng”, “một phải, năm giảm”, quản lý dịch bệnh tổng hợp, IPM, MRL, canh tác lúa bền vững theo tiêu chuẩn SRP,... Nhiều nông dân, hợp tác xã đã ứng dụng cơ giới hóa và các công nghệ thông minh trong sản xuất lúa, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất. Giá thành sản xuất lúa của nông dân Hậu Giang thuộc nhóm các tỉnh có giá thành sản xuất lúa thấp nhất vùng Ðồng bằng sông Cửu Long (giá thành sản xuất vụ đông xuân 2022-2023 là 3.441 đồng/kg, thấp thứ hai trong vùng). Cùng với hiệu quả dự án chuyển đổi nông nghiệp bền vững (VnSAT) và mô hình canh tác lúa thông minh sẽ là nền tảng để Hậu Giang tổ chức tham gia thực hiện tốt Ðề án phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Ðồng bằng sông Cửu Long” tại địa phương.

Theo Kế hoạch thực hiện “Ðề án phát triển vùng chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Ðồng bằng sông Cửu Long” tại Hậu Giang, giai đoạn 1 (2024-2025): Tỉnh tập trung vào củng cố các diện tích đã có của Dự án chuyển đổi Nông nghiệp bền vững (VnSAT) là 28.000 ha; giai đoạn 2 (2026-2030): Xác định cụ thể khu vực trọng tâm để lập dự án đầu tư phát triển vùng lúa chuyên canh chất lượng cao và phát thải thấp mới ngoài vùng Dự án VnSAT và sẽ mở rộng thêm 18.000 ha để đạt 46.000 ha vùng chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp, gắn với tổ chức lại hệ thống sản xuất theo chuỗi giá trị. Vùng chuyên canh này sẽ áp dụng các quy trình canh tác bền vững, nhằm gia tăng giá trị, phát triển bền vững của ngành lúa gạo, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, thu nhập và đời sống của người trồng lúa, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm phát thải khí nhà kính, góp phần thực hiện các cam kết của Việt Nam với quốc tế (các cam kết của Chính phủ tại Hội nghị COP26).

Ðồng chí Ngô Minh Long cho biết thêm, tỉnh cũng có thực hiện chính sách ưu tiên cho các vùng chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Ðối với địa phương, được ưu tiên ngân sách thực hiện chính sách hiện hành; ưu tiên cung cấp các nguồn vốn đầu tư thủy lợi, kinh phí duy tu bảo dưỡng; được hưởng các lợi ích từ việc bán tín chỉ các-bon, được ưu tiên tham gia các dự án từ nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức liên quan đến sản xuất lúa bền vững. Ðối với hộ trồng lúa trong vùng chuyên canh được tham gia đào tạo, tập huấn. Nông dân giỏi được hỗ trợ kinh phí, kỹ thuật xây dựng các mô hình thí điểm, tham gia chương trình bảo hiểm; được vay vốn ưu đãi từ các chính sách tín dụng và các chương trình tín dụng xanh; sử dụng hợp đồng liên kết vay không cần có thế chấp tối đa 50 triệu đồng/vụ sản xuất; được tham gia các dự án, được hưởng các lợi ích từ việc bán tín chỉ các-bon; được ưu tiên thu hút vào các hình thức kinh tế hợp tác và hỗ trợ để liên kết với doanh nghiệp trong chuỗi giá trị của toàn vùng chuyên canh….

Có thể bạn quan tâm

Ông Bùi Vĩnh Thắng, Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam của Hội đồng Năng lượng gió toàn cầu (GWEC). (Ảnh: LÊ CHI)

Việt Nam có nhiều cơ hội phát triển chuỗi giá trị trong lĩnh vực điện gió ngoài khơi

Vai trò của chuỗi giá trị công nghiệp, dịch vụ điện gió ngoài khơi và sản xuất điện đều rất quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam. Đây là khẳng định của ông Bùi Vĩnh Thắng, Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam của Hội đồng Năng lượng gió toàn cầu (GWEC) tại cuộc trả lời phỏng vấn phóng viên Báo Nhân Dân.

Bà Phí Thị Hương Nga, Trưởng ban Thống kê công nghiệp và xây dựng, Cục Thống kê. (Ảnh: PV)

Tăng trưởng sản xuất công nghiệp diễn ra trên diện rộng và có tính lan tỏa thực chất

Đánh giá tổng quan từ kết quả sản xuất công nghiệp 9 tháng năm 2026 cho thấy, tăng trưởng mang tính lan tỏa tương đối rộng rãi trên cả nước, các địa phương, các ngành kinh tế, các khu vực doanh nghiệp. Điều này tạo niềm tin và kỳ vọng lớn cho đà tăng trưởng tiếp theo của các ngành sản xuất công nghiệp trong quý cuối năm.

(Ảnh: NGỌC BÍCH)

Giá vàng giảm liên tiếp, người mua lỗ hơn 8 triệu đồng/lượng sau 1 tháng

Tuần này, giá vàng thế giới tiếp tục giảm, đóng cửa ở mức 4.139,80 USD/ounce khi áp lực từ việc lợi suất trái phiếu kho bạc tăng, đồng USD mạnh hơn và kỳ vọng về việc FED tăng lãi suất đã lấn át nhu cầu trú ẩn an toàn. Trong nước, giá vàng miếng SJC giảm 900.000 đồng/lượng so tuần trước và giảm hơn 5 triệu đồng trong tháng 9.

Thi công bên trong nhà ga hành khách sân bay Long Thành.

Dự kiến vận hành thương mại sân bay Long Thành vào cuối tháng 12 năm nay

Sau khi thị sát công trường, trưa 4/10, đồng chí Phạm Gia Túc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ cùng Đoàn công tác đã có cuộc làm việc với các bộ, ngành, đơn vị, địa phương liên quan về tiến độ Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành, để khai thác thương mại vào cuối tháng 12 tới theo dự kiến.

Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh, Trưởng ban Hệ thống Tài khoản quốc gia, Cục Thống kê. (Ảnh: PV)

Tăng tốc để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP cả năm từ 10%

Trao đổi với báo chí về kết quả tăng trưởng GDP, bà Nguyễn Thị Mai Hạnh, Trưởng ban Hệ thống Tài khoản quốc gia, Cục Thống kê nhấn mạnh: Để về đích với mục tiêu từ 10% theo Nghị quyết của Quốc hội, quý IV đối mặt áp lực tăng trưởng rất lớn, đòi hỏi các nguồn lực phải nhanh chóng chuyển hóa thành sản lượng và giá trị thực tế.

Chính sách tài chính góp phần giảm chi phí, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh. (Ảnh: MP)

Giảm chi phí, khơi thông nguồn lực cho doanh nghiệp

Bước vào quý IV, hỗ trợ doanh nghiệp đặt ra yêu cầu đồng thời giảm áp lực tài chính và tháo gỡ vướng mắc trong thực thi chính sách. Các giải pháp thuế, cải cách thủ tục và đẩy nhanh đầu tư công cần được cụ thể hóa bằng nguồn lực doanh nghiệp có thể sử dụng, thời gian và chi phí thực tế được tiết giảm.

Dược sĩ Nguyễn Thanh Tuyền (bên trái) cùng công nhân kiểm tra cây trà hoa vàng. (Ảnh: XUÂN KỲ)

Gắn nghiên cứu với bảo tồn dược liệu

Ngày 2/10, dược sĩ Nguyễn Thanh Tuyền, Phó Giám đốc phụ trách Hợp tác xã Bảo tồn và Phát triển Dược liệu Sóc Sơn, được Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tôn vinh “Nhà khoa học của nhà nông” lần thứ VII, năm 2026. 

Sản xuất bảng mạch, thiết bị bảng mạch điện tử ở Công ty Trách nhiệm hữu hạn Doosan Electro-Materials Việt Nam (FDI Hàn Quốc) tại thành phố Hải Phòng. (Ảnh: ĐĂNG ANH)

Tăng trưởng GDP tiệm cận mục tiêu cả năm

Nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao nhờ các động lực tăng trưởng truyền thống là đầu tư công, xuất khẩu-công nghiệp; dịch vụ. Bên cạnh đó, các động lực tăng trưởng mới, gồm khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số đang được thúc đẩy mạnh mẽ hơn, có tác dụng hỗ trợ cho tăng trưởng.

Du khách mua nem và các sản phẩm tại cơ sở nem Hoàng Khánh, xã Lai Vung. (Ảnh: MỸ HÀ)

Đất sen hồng xây thương hiệu nghề truyền thống

Một chiếc nem nhỏ, gói trong lá chuối, mang vị chua thanh, chút cay nồng của tỏi ớt và độ giòn dai đã đi một hành trình hơn 65 năm để trở thành đặc sản nổi tiếng của tỉnh Đồng Tháp. Từ một món ăn dân dã, nghề thủ công truyền thống làm nem Lai Vung dần hình thành và trở thành Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Rừng đước nguyên sinh ở Cà Mau. (Ảnh: TRẦN THƯỜNG)

Chú trọng bảo vệ và nâng cao chất lượng rừng

Những năm 90 của thế kỷ trước, những cánh rừng nhiệt đới bạt ngàn trên khắp đất nước ta bị sụt giảm nghiêm trọng. Thế nhưng, bằng những nỗ lực không ngừng nghỉ, Việt Nam không chỉ phục hồi diện tích rừng đã mất mà còn từng bước xây dựng ngành kinh tế lâm nghiệp theo hướng bền vững.

Giàn khoan dầu khí ngoài biển của Petrovietnam. (Ảnh: HIỀN ANH)

Petrovietnam gia tăng trữ lượng hơn 75,7 triệu tấn dầu giai đoạn 2021-2025

Giai đoạn 2026-2030, trên cơ sở nhận định những thuận lợi, thách thức hoạt động thăm dò, khai thác, Petrovietnam định hướng tiếp tục phát triển, kết nối các mỏ nhỏ với hạ tầng sẵn có; triển khai các chính sách khuyến khích đối với mỏ cận biên và giải pháp nâng cao hệ số thu hồi dầu (EOR),... qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động.

Doanh nghiệp chuyển phát nhanh thực hiện khai báo và nộp thay thuế cho chủ hàng theo quy định. (Ảnh: CHQ)

Chuẩn hóa khai báo hải quan với hàng chuyển phát nhanh

Từ ngày 16/11/2026, thủ tục hải quan đối với hàng bưu chính, chuyển phát nhanh quốc tế có thêm yêu cầu định danh, xác thực điện tử và điều chỉnh cơ chế nộp thay thuế, phí. Những thay đổi đặt ra yêu cầu chuẩn bị đồng bộ về thông tin khai báo, phối hợp chủ hàng và thực hiện nghĩa vụ tài chính.

Trạm thu phí cao tốc không dừng cao tốc bắc-nam phía đông ứng dụng công nghệ AI thu phí tự động, không cần nhân viên thu phí như trước đây.

Cao tốc bắc-nam phía đông tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trên hành lang vận tải bắc-nam

Theo Cục Đường bộ Việt Nam, lưu lượng phương tiện trên cao tốc bắc-nam phía đông trong tháng 9/2026 giảm so tháng 8, chủ yếu do yếu tố mùa vụ. Tuy nhiên, so với mức bình quân trong 7 tháng triển khai thu phí, lưu lượng trên cao tốc vẫn tăng 3,7%, cho thấy tuyến đường tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trên hành lang vận tải bắc-nam.

Dây chuyền sản xuất hiện đại của Công ty TNHH dệt kim Bangjie Việt Nam, khu công nghiệp dệt may Phố Nối, tỉnh Hưng Yên. (Ảnh: Phạm Hà)

Hưng Yên tăng trưởng kinh tế hơn 11%

Theo thống kê tỉnh Hưng Yên, GRDP 9 tháng đầu năm của tỉnh Hưng Yên ước tính tăng 11,22%; tăng trưởng kinh tế tiếp tục duy trì xu hướng quý sau cao hơn quý trước (quý I tăng 10,59%, quý II tăng 11,00%).

Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ theo mô hình kinh tế xanh. (Ảnh: CAO TÂN)

Kinh tế tuần hoàn, động lực chuyển đổi xanh

Trước yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng xanh và giảm phát thải khí nhà kính, kinh tế tuần hoàn đang trở thành một định hướng phát triển có ý nghĩa chiến lược đối với Thành phố Hồ Chí Minh. Không chỉ là giải pháp quản lý môi trường, kinh tế tuần hoàn ngày càng trở thành một yếu tố quan trọng của đổi mới mô hình tăng trưởng đổi xanh.